tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18518226
Tiểu thuyết
15.09.2011
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

VI. Mùa thu năm Minh Mạng thứ 2 (1821), vua ra Bắc thành làm lễ thụ phong với nhà Thanh, sai Lê Chất về thành trước làm việc. Mùa đông ấy, vua đến Bắc thành, vua ban cho Chất dao vàng Tây dương chạm khắc mạ vàng và súng mạ bạc mỗi thứ một cái.


Khi đó có Hiệp trấn Sơn Nam thượng Lê Duy Thanh làm trái phép, ăn của đút, việc phát ra, vua giao cho Bắc thành tra hỏi.


Lê Duy Thanh là con trai Lê Quý Đôn, được Gia Long cho làm Thị trung trực học sĩ. Vì hiểu biết về địa lý, nên Thanh được giao cho việc đi tìm cát địa làm chỗ xây lăng cho Gia Long sau này. Cơm đùm gạo bới đi khắp vùng Thừa Thiên mới tìm được phúc địa. Lê Duy Thanh thấy long mạch chạy từ núi Thiên Thọ, nhưng thế đất mấp mô lên xuống đến năm cuộn,Thanh phân vân không biết nên chọn chỗ nào.


Sau bảy lần tính toán, Thanh quyết định lấy nổng gò bên kia hồ.Tin tìm được đất có long mạch tốt bay về kinh. Gia Long mừng rỡ chọn ngày lên tại chỗ xem xét lại.


Quan quân được lệnh dọn sạch câycối ở quanh vùng, Gia Long cưỡi voi đến. Xem xét thực địa và nghe Lê Duy Thanh thuyết phục, Gia Long không bằng lòng chỗ đất đã chọn, ông thúc voi lên đồi Chánh Trung ngắmnghía rồi mắng rằng:


- Thầy lựa nơi kia, còn nơi này thầy để chôn cha thầy phải không?


Duy Thanh van xin, Gia Long mới tha tội.


Đến khi Gia Long qua đời, Minh Mạng sai ấn định ngày tang nghi. Quan Khâm thiên giám đại thần Hoàng Công Dương lựa ngày 16 tháng 4 giờ Tân Sửu. Lê Duy Thanh chọn ngày 29 tháng 3, giờ ĐinhSửu, ông nào cũng cương quyết cho rằng sự lựa chọn của mình hợp lý. Minh Mạng lấy làm băn khoăn liền sai các quan tỏ bày ý kiến. Các quan trong triều bàn định rất kỹ cho rằng tháng tư ngày Tân Sửu mà quan Khâm thiên Hoàng Công Dương đã chọn là ngày tốt hơn. Các hoàng thân con vua Gia Long đều được mời tham dự cuộc bàn bạc này. Khi ấy vua Minh Mạng quyết định chấp thuận ý kiến của Hoàng Công Dương, và đuổi Lê Duy Thanh về Bắc.


Lúc này, Lê Duy Thanh nhân vào chầu, tâu khóc ở trước mặt vua, xin đổi giao việc ấy cho nha khác tra xét, để khỏi bị quan Bắc thành xử nặng. Lê Chất hặc tâu Thanh là tiểu thần mà dám ngạo ngược vô lễ ở chốn triều nghi, xin nên chém đầu, để nghiêm kỷ cương triều đình. Vua yên ủi, hòa giải đi, sai quan Bắc thành giữ lòng công bằng xét hỏi. Chất cùng Hình tào hội tra, muốn kết án Thanh vào tử tội. Án ấy chưa dâng lên.


Tháng 12, việc thụ phong đã xong, vua về kinh, liền sai bộ Hình tư ra Bắc thành lấy hồ sơ tập án Thanh giao cho đình thần xét nghị. Thanh bị cách chức, phát phối đi Quảng Bình tiền quân hiệu lực. Chất nghe tin bực tức, muốn tâu vua hủy cái án ấy, nhưng lại sợ vượt chức không dám làm.


Năm Minh Mạng thứ 13 (1822) các trấn Bắc thành duyệt binh tuyển lính, thấy sổ đinh tăng nhiều, vua thưởng cho Chất được cấp kỷ lục, vải áo đoạn rồng bốn móng. Chất dâng biểu xin lai kinh. Vua dụ rằng: “Bắc thành gần đây địa phương chưa yên tĩnh, hơn nữa nay thi hành nhân chính, việc mới bắt đầu làm, dân tình chưa khỏi ngờ sợ, tất phải trọng thần huân vọng mở lòng thành, tỏ công đạo, mới có thể khiến dân thỏa thiếp, ngươi nên vì trẫm nhận trọng trách ấy, đợi có người thay sẽ triệu ngươi”.


Năm Minh Mạng thứ 4 (1823) Chất lại dâng sớ xin vào chầu. Vua ưng cho.


Vào triều lần này, Chất thấy mọi nghi thức trong triều đều đổi khác so với thời Gia Long. Mờ sáng, các quan văn võ từ tứ phẩm trở lên đã phải triều phục chỉnh tề, chầu chực sẵn ở dưới sân rồng, không có ghế ở trên điện dành riêng cho những công thần như Duyệt, Chất và những võ quan người Tây như trước nữa. Khi trên thành phát 9 tiếng lệnh, ban tiểu nhạc cử nhạc, trên lầu Ngọ Môn nổi chiêng trống. Đội túc vệ, Ngự Lâm, Cấm quân cầm cờ quạt rước vua sang điện Thái Hòa, có 16 tiểu giám cầm phất trần và lư hương đi trước kiệu. Lư này nho nhỏ, có bốn sợi dây sắt buộc lên một cái cần.


Vua ra cửa Đại Cung môn, tới hiên phía bắc điện Thái Hòa thì xuống kiệu. Tiểu nhạc ngừng, Đại nhạc nổi. Viện Thái giám đốt lư trầm. Đại nhạc ngừng. Đội Cấm y vệ cầm giáo đuôi beo và kim đao đứng ở dưới điện. Vua đội mũ đường cân, mặc áo giao lĩnh màu vàng, đính bố tử thêu rồng vàng ngự lên ngai. Sau ngai vua có 2 viên khoa đạo và dưới sân rồng có 4 viên khoa đạo đứng hai bên đông, tây xem xét lễ nghi.


Các quan tam phẩm trở lên đội mũ tròn có cánh chuồn, từ tứ phẩm trở xuống đội mũ vuông. Ngoài phân biệt màu sắc từ màu tía, đại hồng, hồng điều, đến màu lục, biếc, xanh, quan văn thì áo thêu hạc, cẩm kê (một loại trĩ), khổng tước (công), vân nhạn, bạch nhạn, lô từ (cò), kê xích (một loại gà), liêu thuần (một giống chim, hay đá nhau). Quan võ thì thêu kỳ lân, bạch trạch, sử tử, hổ, báo.


Bát âm nổi nhạc. Các quan văn võ làm lễ lạy 5 lạy rồi đứng lên sau lời Tán lễ xướng.


Quan Binh bộ, Lại bộ tâu cho các quan mới được thăng chức hoặc thuyên chuyển vào bái mạng. Quan bái mạng mặc triều phục lạy 5 lạy.


Lúc Chất mới về triều, chưa báo với Hoàng môn quan vào tâu trước với vua rồi chờ ở cửa ngoài, đợi có lệnh tuyên triệu mới được vào, đã vào thẳng sân rồng, rồi dõng dạc cất tiếng:


- Tâu bệ hạ, thần Lê Chất vâng chiếu đã vào chầu. Chúc bệ hạ sống lâu muôn tuổi!


Quan Khoa đao sợ hãi, vội ra nhắc nhở Chất các quan có việc gì phải đến chỗ tấu sự quỳ tâu, có quan nội các và ngự sử quỳ hai bên. Nội các ghi những lời vua ban, Ngự sử đàn hặc sự phạm pháp. Khi Chất tâu việc, thấy lời tâu không hợp với lễ nghi, quan Khoa đạo lại ra bắt bẻ.


Chất không hài lòng, nhưng vì sau đó luôn luôn được cử đi làm việc ở ngoài, không mấy khi vào triều, nên cũng đành ẩn nhẫn cho qua.


 Lần vào triều này, vừa gặp lúc Lê Văn Duyệt ở Gia Định thành cũng được triệu lai kinh. Chất hỏi Duyệt được biết đó là do vua giao cho các văn thần như Trịnh Hoài Đức, Phạm Đăng Hưng tra điển lễ, điều tấu thi hành. Chất và Duyệt là võ biền, khi nào chầu, lời tâu thường thô kệch không văn hoa, nên nhiều lúc bị bắt bẻ là không hợp lẽ. Chất cho là bọn Trịnh Hoài Đức sinh sự ton hót vua, nên thường chỉ trích họ trước mặt đình thần. Quan ngự sử đàn hặc Chất là khinh thường phép tắc, mạt sát đại thần.


Minh Mạng nói:


- Lũ Duyệt, Chất là huân cựu đại thần, hãy cứ để đấy, chưa nỡ bắt tội.


Thấy để Duyệt, Chất ở trong kinh thành lâu ngày không lợi, Minh Mạng lại sai hai người trở về thành cung chức.


Chất biết Minh Mạng không bằng lòng mình, nhưng chưa tiện nói ra, bèn nói với Duyệt:


- Lúc này triều đình mới đang dùng bọnTrịnh HoàiĐức, Phạm Đăng Hưng đặt phép tắc, uy nghi để trị nước. Chúng ta là võ biền, chỉ lấy tình ngay thẳng, nết cứng cỏi mà làm tôi, rất dễ gặp khi lỗi lầm về lễ phép. Vả lại so lúc thái bình với hồi chinh chiến, cách đối đãi giữa vua tôi, tình thế khác nhau. Vậy thời bọn chúng ta nên dâng biểu xin giải sự vụ hai trấn Bắc và Gia Định, để lui về nơi kinh thành, phụng thị nhà vua, ngõ hầu tránh được lầm lỗi.


Lê Chất nói, nhưng trong bụng lại nghĩ khác.


Lê Chất người huyện Phù Mỹ tỉnh Bình Định, vốn là đô đốc của Tây Sơn, con rể của Tư Lệ Tây Sơn Lê Trung, đã lập được nhiều chiến công. Khi Nguyễn Quang Toản nghi ngờ Lê Trung mưu phản loạn, bắt mà giết đi, Lê Chất bèn đầu hàng quân Nguyễn Ánh, theo chư tướng đi đánh Tây Sơn rất là đắc lực. Mùa thu nămTân Dậu (1801) Nguyễn Ánh phong Chất tước quận công, chia quân theo đường rừng Bình Định quành ra sau lưng địch xem chỗ hiểm yếu lập đồn cùng với quân Nguyễn Văn Thành hợp lại để bức bách địch, địch bỏ thành chạy, quân Nguyễn lấy lại được thành Bình Định.


Gia Long năm thứ nhất (1802) vua đem lại quân ra đánh Bắc Thành, thăng cho Chất làm khâm sai chưởng hậu quân Bình Tây tướng quân cùng Duyệt lĩnh quân bộ tiến đi trước, đến dinh Vĩnh Định đồn Tiên Lý, đánh tan được quân Tây Sơn. Sau khi lấy được Bắc Hà, năm Gia Long thứ 9 (1810), Chất được cử làm hiệp tổng trấn Bắc Thành, đến năm thứ 17 (1818) thăng làm tổng trấn.


Tuy được giữ chức cao, nhưng vì vốn là một hàng thần, nên Lê Chất đã nhiều lần bị người trong hàng ngũ Nguyễn Ánh nghi ngờ. Năm Kỷ Mùi (1799), khi tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Ứng giữ thành Quy Nhơn bị quân Nguyễn đánh dữ, Ứng mưu bỏ thành dẫn quân voi theo thượng đạo trốn đi. Chất biết tình hình ấy đem báo cho Võ Tánh biết. Tánh sai Chất quản quân hậu đạo cùng Nguyễn Đức Xuyên quản quân tả đạo đón đánh Tây Sơn ở Kỳ Đáo, đánh tanTây Sơn, thu được quân voi vô kể. Quân Nguyễn tiến vây thành Quy Nhơn, lấy được thành, Nguyễn Ánh cho đổi tên là thành Bình Định, chọn lính 5 huyện, đặt làm 5 đồn ngự lâm, cho Chất làm tả đồn đô thống chế, theo Tánh lưu giữ thành ấy. Tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu đem quân thủy quân bộ đến đánh. Tánh muốn thu quân vào thành cố giữ, nghĩ Chất mới quy phụ, lòng còn nghi ngờ, bèn giả làm tờ chiếu sai Chất đem lính bộ về Gia Định, và đem việc ấy, báo cho Nguyễn Ánh biết.


Năm Canh Thân (1800), Nguyễn Ánh đem quân đến cứu thành Bình Định. Chất quản lĩnh tiền đạo tiến đến núi Ải Thạch. Mỗi khi gặp Tây Sơn, Chất đều liều chết đánh. Lúc bấy giờ thế Tây Sơn dữ dội, mà hàng tướng Từ Văn Chiêu đem lính hữu đồn ngự lâm lại về với Tây Sơn, tướng hiệu tả đồn cũng nhiều người trốn đi, quân tình sợ hãi. Chất trong lòng không yên, tâu xin Nguyễn Ánh xét kỹ tình cho. Nguyễn Ánh dụ rằng: “Vua tôi gặp gỡ từ xưa vốn khó, ngươi đến hàng ta, ta đối với ngươi bằng lòng thành tín, ngươi cũng đem lòng thành tín thờ ta, những tôi cũ của ta, chắc cũng chẳng qua thế thôi. Nay ngươi vâng mệnh đánh giặc, cố gắng không tiếc thân, ta đã biết rồi, thực đáng khen. Trong bộ khúc, hoặc có đứa nhớ nhà quá mà trốn về, ta cũng không để ý. Ngươi chớ sợ”. Chất nghe lời ấy cũng yên tâm.


Năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh thân đem quân thủy tiến lấy Phú Xuân, sai Chất cùng Duyệt đem quân tiến đi trước. Duyệt dùng kế của Chất đem quân lên bộ đánh úp đằng sau lưng địch, vào được cửa biển Tư Hiền, đánh vỡ quân Tây Sơn. Nguyễn Quang Toản chạy về Bắc Thành. Nguyễn Ánh sai Nguyễn Văn Trương đem thủy binh, Chất đem bộ binh đuổi theo, quân Nguyễn đến châu Nam Bố Chính thì Quang Toản đã sang sông đi rồi. Chất dẫn quân về, dâng hai quả ấn bắt được của Tây Sơn. Chư tướng có người nói: “Chất đuổi giặc bất lực, đánh trống đi thong thả, để cho Quang Toản trốn thoát, là bởi người chớ không phải bởi trời”. Nguyễn Ánh nói: “Việc ấy sao nên vội nói thế”.


Sau khi lấy được Bắc Hà, thấy Chất là tước quận công lại đeo ấn Bình Tây tướng quân, chư tướng lũ Đặng Trần Thường bàn riêng với nhau rằng: “Chất mà bình Tây thì ai bình Chất, Chất mà quận công ta nên mười quận công” Chất nghe thấy, không yên lòng, bèn dâng biểu nói: “Tôi bất tài mới quy phụ, với các quan lao khổ vạn phần, tài không kịp một phần; đã tước quận công, lại chưởng hậu quận, lạm ở ngôi cao quý không dám tự đương, xin xuống đứng hàng với đô thống chế”. Gia Long giao tờ sớ này cho đình thần bàn. Đình thần bàn rằng: phong tước để đền công, cũ mới có khác gì. Gia Long dụ sai Chất sung chức như cũ.


Tháng 8 năm Gia Long thứ 2 (1803), vua ra Bắc tuần. Chất cùng Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Đức Xuyên đều đem quân bản bộ đi theo vua. Quân đến Thanh Hóa, gặp khi Quảng Yên có giặc biến. Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành đem việc tâu lên, vua sai Chất cùng lũ Nguyễn Văn Trương đi trước, đánh giết giặc rất dữ. Chất nói với Trương “Địa phương có giặc là phận sự của quan địa phương. Nay thành thần đùn việc đánh giặc cho ta, tướng quân sao không nói rõ”. Trương nói: “Tạm đợi việc xong, nói cũng chưa muộn gì”. Trương đến Quảng Yên, giặc đã trốn trước. Trương về cùng uống rượu với Thanh, đem lời Chất nói bảo Thành, Thành để lòng giận Chất. Khi việc thụ phong với nhà Thanh xong, Gia Long ban yến cho quần thần, cho triệu Chất đến hỏi. Chất chối. Trương nói: “Trong lúc uống rượu say nói những gì không nhớ nữa”. Gia Long hỏi: “Thành cùng Trương có uống rượu với nhau không?” Thành tâu rằng có. Gia Long hòa giải rằng: “Ngươi cho Trương uống rượu say nói lầm, Trương lại say rượu nói lầm, lỗi tại lũ ngươi, Chất có lỗi gì đâu”. Ba người đều lạy tạ.


Gia Long năm thứ 8 (1809) vua đi tuần du Quảng Nam, lưu Lê Văn Duyệt cùng bọn Nguyễn Văn Khiêm, Đặng Đức Siêu giữ kinh thành. Duyệt tính nghiêm thẳng, trị quân nghiêm ngặt, tướng lại không ai dám trông thẳng vào mặt, các đại thần huân cựu lúc bấy giờ cũng sợ. Chỉ có Lê Chất nghĩ mình mới quy phụ không được các cựu thần trọng, bởi thế cố hết sức lấy lòng Duyệt. Những việc cơ lược hành binh và nghị luận việc triều đình thường đi lại bàn với Duyệt. Có tham luận Nguyễn Văn Tài là liêu thuộc Tả quân, nhân việc quân bị Duyệt trách quở. Tài bèn cáo Duyệt đặt lập đồn kho, ngầm sai người đi Bắc Thành chiêu dụ hào kiệt, lại thường cùng Lê Chất đi lại mật bàn, ngờ có mưu phản. Duyệt sợ hãi xin nhận tội. Gia Long giao việc này cho bộ Hình tra hỏi. Tài bị kếttội vu cáo. Án dâng lên, Gia Long nói rằng: “Lời Tài nói dường như có nguyên cớ, nên xét cho đến cùng để sau này khỏi ngờ“”. Bèn sai đình thần xét lại. Trải qua ba lần tra hỏi, tới lời cuối cùng Tài vẫn không viện được chứng cớ gì, bèn phải tội xử tử.


Nhớ lại chuyện cũ, Chất còn rùng mình rởn tóc gáy. Mấy lần bị nghi ngờ, may mắn mà thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Chất nghĩ tuy mình đã lập được nhiều công lao với triều Nguyễn, nhưng dầu sao cũng là thân “hàng thần lơ láo”, không được tin cậy, số phận chưa biết sau này sẽ ra sao, lúc nào cũng như có gươm kề cổ, nên phải tính trước cho mình. Việc Minh Mạng không cho mình vào Kinh viếng Gia Long, là chứng cớ Minh Mạng nghi ngờ mình. Chất khuyên Duyệt cùng mình xin giải chức, chẳng qua chỉ để thăm dò ý định của Minh Mạng. Nếu Minh Mạng bằng lòng cho giải chức, Chất sẽ bàn với Duyệt xin trở về thành chuẩn bị bàn giao công việc cho người thay chức, rồi nhân đó, tập hợp binh mã, người giữ miền Bắc, người giữ miền Nam, cát cứ địa phương, không phục tùng triều đình. Chờ có cơ hội sẽ từ hai đầu kéo quân vào Kinh, phế Minh Mạng lập người khác lên làm vua. Thời gian vừa qua, Chất đã nói giùm cho thương nhân Diệp Liên Phong được thầu cung cấp vật liệu xây đài Trấn Hải, nên được Diên Khánh Công Tấn rất hàm ơn. Do đi lại thân mật với Tấn, Chất đã làm quen được với các hoàng tử con Gia Long như Kiến An Công Đài, Quản Oai Công Quân. Sau khi phế Minh Mạng, nếu không lập được Hoàng tôn Đán con Đông cung Cảnh lên làm vua, thì có thể lập một trong ba hoàng tử nói trên. Từ Võ Khánh, Chất lại kết thân được với nhiều võ quan có nhiệm vụ phòng thủ kinh thành. Các tướng võ nhiều người là bạn đồng ngũ với Chất trước đây, việc cử sự không mấy khó khăn.


Duyệt tin là Chất nên nói:


- Sự ấy chính hợp ý tôi.


Bèn cùng Chất dâng sớ, xin nộp lại triều đình ấn Tổng trấn hai thành. Minh Mạng đòi cả hai người lên điện, hỏi:


- Hai thành là trọng địa Nam, Bắc, trẫm đang ủy thác cho hai khanh, sao lại buông lời xin như vậy? Hay là việc thành có điều chi khó lắm chăng?


Duyệt phục xuống khóc không nói gì, lạy tạ mà ra.


Chất cứ quỳ khóc mãi không thôi. Vua hỏi mãi hai ba lần, Chất đành tâu:


- Có việc gì khó đâu, tôi làm được hay không là được là ở bệ hạ thôi.


Vua nói:


- Thế là thế nào?


- Trước kia án Lê Duy Thanh, tôi cùng Hình tào nghị xử tội Thanh đáng chết, đến lúc đình nghị, Thanh được giảm nhẹ, thế là phép không đủ tin với dân, mà tôi không làm được việc Bắc thành là bởi thế đấy.


- Đấy là đình thần bà không phải ý riêng của trẫm. Trẫm sẽ giao cái án của Thanh cho khanh nghị lại.


Chất biết ý vua giận, không dám nói nữa. Thanh lại được y án trước phát phối đi Quảng Bình hiệu lực.


Vài ngày sau, Minh Mạng sai Trung sứ đến nhà Duyệt ở, an ủi sai về Gia Định thành làm việc. Duyệt vào bái từ lên đường đi. Minh Mạng sai Trung sứ ban cho điếu hút thuốc bằng pha lê sắc biếc mạ vàng của vua dùng. Lại dụ rằng:


- Tự sau khi khanh bệ từ, lòng trẫm quyến luyến không quên. Khanh nên tự giữ gìn, đi đứng có tiết độ, chớ để nắng gió xâm phạm cho ta khỏi lo.


Lê Chất cũng được Minh Mạng cho về trấn Bắc thành như cũ. Lê Chất trước muốn khích cho Duyệt bất mãn để cùng mình chống lại Minh Mạng, nay thấy Duyệt đã nghe lời Minh Mạng trở về Nam, nếu chỉ có một mình hành động, chưa chắc đã thành công, nên cũng trở về Bắc.


Để lấy lòng Chất, Minh Mạng ban mũ áo nhị phẩm cho mẹ Chất là Đào Thị, sau đó lại cho con Chất là Hậu được lấy công chúa Ngọc Cửu, con gái Gia Long, em gái cùng mẹ với Định Viễn Công Bính.


Lê Chất thấy Minh mạng không nhắc gì đến hoạt động của mình trong thời gian ở Kinh, mừng thầm trong lòng.


Trước đây Đông cung Cảnh cùng Võ Tánh đi đánh thành Bình Định, nên được Võ Tánh và bà Ngọc Du rất quý trọng. Sau khi Đông cung Cảnh chết vì bệnh đậu mùa, để lại đứa con thơ là hoàng tôn Đán, bà Ngọc du rất thương cháu, nên thường gọi đến phủ chơi. Trong một lần Lê Chất đến thăm Võ Khánh, ngẫu nhiên gặp hoàng tôn Đán trong phủ. Chất tìm lời gợi chuyện xem ý của Đán như thế nào, nhưng tính Đán vốn nhu nhược, không tỏ ra ham muốn quyền vị và lợi lộc. Từ nhỏ Đán đã được nghe cha kể chuyện về nước Phú Lãng Sa, nên chỉ thích sang bên đó sống cảnh xa hoa, không thiết gì ở cái nước Nam nghèo nàn lạc hậu này. Mẹ Đán là Tống Thị Quyên cũng khuyên Đán không nên dính vào chuyện chính trị, kẻo sẽ mắc tai vạ. Vả chăng Đán đã được Gia Long phong làm Ứng Hòa Công, bổng lộc ngang với hoàng tử công, cho nên cũng không đến nỗi thiếu thốn. Tống Thị Quyên là người có đạo gốc thường khuyên Đán nên làm điều lành để sau khi chết được lên Thiên đường. Đán biết rằng nếu nghe lời người khác xui giục mà làm loạn, giành ngôi, tất sẽ gây ra cảnh chém giết, đổ máu, đến ngày phán xét cuốn cùng sẽ bị đày xuống hỏa ngục đời đời. Vì vậy mà Đán cảnh giác trước lời săn đón của Chất, câu chuyện giữa hai người không mấy mặn mà, sau đó Đán lấy cớ mệt, cáo từ về phủ.


Lê Chất giống như người đi câu tưởng vớ được cá to mà lại để xểnh, ngồi trở hồi lâu không nói năng gì. Ông ta thầm nghĩ: Dục tất bất đạt, cứ để từ từ rồi sẽ liệu.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 28.03.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 26.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 09.03.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 09.03.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.03.2017
xem thêm »