tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20229756
Tiểu thuyết
05.09.2011
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

IV


Thành bát quái của Trấn thành Gia Định như hình hoa sen, mở ra 8 con đường ngang dọc, từ đông đến tây là 131 trượng 2 thước ta, từ nam đến bắc cũng như thế, bề cao 13 thước ta, chân dày 7 trượng 5 thước ta, đắp làm ba cấp. Trong thành, giữa làm sở hành tại, bên tả là kho chứa, bên hữu là Cục Chế tạo, chung quanh là các dãy nhà cho vệ quân ở.Trước sân dựng cây cột cờ ba tầng, cao 12 trượng 5 thước ta, trên có làm chòi canh vọng đẩu bát giác tòa, ở bên treo cái thang dây để thường xuyên lên xuống, trên ấy có quân ngồi canh giữ, có điều gì cần cảnh báo thì ban ngày treo cờ hiệu, ban đêm treo đèn hiệu canh gác, các quân cứ trông hiệu đó để tuân theo sự điều động. Hào rộng 10 trượng 5 thước, sâu 14 thước ta, có cầu treo thả ngang qua, bên ngoài đắp lũy đất, chu vi 794 trượng, vừa hiểm trở vừa kiên cố tráng lệ.


Trước sân trong thành có một tòa vọng cung, để những ngày Nguyên đán, Đoan ngọ và rằm, mùng một, quan Tổng trấn đem thuộc quan văn võ trong thành và trấn Phiên An đến, chiếu theo nghi thức mà làm lễ. Hai bên tả hữu có lầu chuông trống tám góc, giữa là Hành cung để phòng khi vua đi tuần thú. Phía sau là công thự Tổng trấn, phía phải là công thự Hiệp đốc trấn, phía trái là công thự Phó tổng trấn.


 Ở 3 cửa Càn Nguyên, Ly Minh và Tốn Thuận, có trại quân mái lợp ngói tô đỏ rất đẹp đẽ, lại có vách thành và vọng lâu ở 4 cửa Cấn, Ly, Chấn, Tốn, có cầu vồng bằng đá tổ ong bắc qua hào. Cầu vừa cao vừa rộng bền chắc, dưới có chừa khoảng trống cho nước chảy. Trước lũy ở cửa Ly Minh có dựng đình Thân Minh để làm chỗ niêm yết trên bảng những chiếu cáo dụ chỉ.


Từ xưởng voi ở phía ngoài lũy đất cửa Khảm Hiểm, một thớt voi được đưa tới trước cửa Phiên An môn nài gõ búa sắt bắt voi quỳ xuống đợi lệnh.


Ba tiếng súng hiệu nổ vang. Cửa Phiên An môn mở toang. Một đoàn binh sĩ kéo ra. Đi đầu là một viên chánh quản có nạt đường, và hai quân sĩ mặc áo dấu, cầm hai tấm biển gỗ sơn, có khắc chữ “Tĩnh túc” và “Hồi ty”(1). Dẫn kế là cờ tam tài, cờ tứ tỵ phương và cờ ngũ hành thêu mây, sóng, con giao, kỳ lân, long mã, thiên cẩu. Tiếp, là đoàn quân cầm đồ lỗ bộ gồm có hai thanh mác trường, hai trái chùy đồng, hai cây phủ việt. Đến cờ tiết mao, gắn đầu rồng, ngậm dây kim tuyến, đeo năm ngù lông đuôi trâu rừng, cán dài sơn son.


Quan Tổng trấn Lê Văn Duyệt mặc nhung phục, đội mũ võ, đi hia, ngồi trên bành voi. Voi dùng hàng lụa để trang sức, vấn ủ vòi, ở chân và quanh lưng, hai bên hông phủ nỉ xanh. Trên lưng voi có hai người nài, một ngồi ở cổ để điều khiển voi, còn người ngồi trên lưng thì cầm tàn hầu. Hai bên có lính tay cầm khiên giáo, và che gai lọng xanh, 16 bông bèo, chóp thiếc mạ bạc.


Đoàn võ quan đi đầu là phó vệ úy Lê Văn Khôi và phó quản cơ Đặng Vĩnh Ưng, sắc phục tùy theo phẩm trật và một số binh lính theo hầu.


Nài ở trên cổ voi ra lệnh cho voi hướng về phía Chợ Vải(1) nghĩa là hướng Tây, quẹo lên đường Cửa Hữu(2) tiến về phía Mô Súng(3) ở cách phía tây nam thành 10 dặm, nơi đây đất bằng phẳng rộn rãi độ 50 dặm. Binh sĩ cơ nào đội ấy tề tựu đông đủ. Binh lính đầu đội cái nón nhỏ hình khối, chóp bằng trúc sơn quang dầu (màu cánh dán), áo giáp cộc tay, ngắn vạt, ngoài bọc da đỏ hay vải đỏ rất dày gọi là áo chiến. Hai chân quấn hai chiếc xà cạp màu xanh quấn chặt lấy cổ chân xuống mắt cá. Tay cầm gươm giáo hay mã tấu, tay trái cầm khiên, giống cái nón lớn đan bằng mây. Có người cầm cuốc bằng gỗ hình bầu dục như chiếc thuyền nhỏ, người thì cầm súng điểu thương, bắn bằng đá lửa, đeo cái bao đựng thuốc súng ở dây lưng.


Quan Tổng trấn cho làm lễ Tế Kỳ Đạo. Trên bàn hương án bày ba bài vị: Kỳ đầu Đại tướng (Viên tướng đi đầu cờ), Lục đạo Đại tướng (các viên tướng của sáu cờ đạo), Ngũ phương kỳ thần (những vị thần cờ của năm phương). Ngoài ra còn có các hương án phụ thờ các vị thần bảo hộ các chiến thuyền, các thần trông coi về xập xõa, trống, còi, súng điểu thương, súng đại bác và các loại khí giới khác. Mọi người hướng về lá cờ tiết mao dựng ở trung quân vái lay. Chấm dứt buổi lễ tiếng súng thần công nổ vang.


Người ta tin rằng tiếng súng thần công bắn vào dịp Tế Kỳ Đạo có hiệu quả đuổi tà ma. Cho nên những ngôi nhà quanh đó mọi người đều dự bị sẵn sàng trống, mõ, thùng sắt, roi dâu... Cứ hễ nghe tiếng súng nổ là nhà nào nhà ấy đều trở dậy đánh trống, đánh mõ vang lừng, lấy roi dâu vụt tả vụt hữu đập mạnh vào cửa, xuống sàn nhà, phản ngựa và đốt pháo mục đích gây được cảnh huyên náo chừng nào hay chừng ấy. Họ cho đó là một phương pháp để xua đuổi ma quỷ.


Tiếp đó đến cuộc thao diễn. Từng chặp lính pháo thủ bắn đại bác, quân sĩ chia hai mặt đánh nhau.


Tượng binh cũng tập dượt, tiến lui có chiến pháp, day trở có phương lược.


Sau đó quan Tổng trấn đi vòng quanh theo hào thành xuống xem xét Thủy xưởng(1) và chứng kiến một cuộc tập thủy chiến. Trên sông có một số chiến thuyền có chiếc bọc đồng, mỗi chiến thuyền có một đại bác và 200 thủy thủ mang súng điểu thương, chia làm hai phe, giao chiến với nhau. Bên nào áp sát nhảy lên được mạn thuyền địch được coi là bên đó thắng, được giải thưởng của quan Tổng trấn.


Rồi ông đến trường ná xem bắn ná và đường trường gà(2) xem chọi gà.


Mãn cuộc, quan Tổng trấn theo cửa Cấn Chỉ vô thành.


*


Trải qua bao năm chinh chiến trên chiến trường toàn quốc, lại thời gian dài làm việc ở Kinh, nay mới có dịp trở lại miền Nam, Lê Văn Duyệt vô cùng vui sướng. Ông âu yếm ngắm những cây sao xanh, sao vàng vươn lên thẳng tắp hai bên con đường ngoài thành. Lá sao màu xanh, nhọn đầu, bề ngang chừng hai tấc ta, hoa màu xanh biếc rực rỡ, dưới đế hoa có hai cái râu như cánh chuồn chuồn. Những cây gõ, da thô, lá tròn có lông, lại có cây táu lá giống cây gõ, da có vằn sần như da ếch. Cây vắp thân cao xỏng, cứng chắc, màu tím đen, lá như lá khế... Cây lồng mứt, đứng thẳng, lá nhỏ, hoa màu hồng nhạt. Hồi nhỏ Lê Văn Duyệt từng thấy những con lắc “bầu cua cá cọp” của dân cờ bạc tiện bằng gỗ cây này, con lắc rất tốt, nhảy đều, lâu mòn. Thớ gỗ sáng trắng như ngà voi, người ta còn dùng khắc con dấu và bản in sách. Khi làm tướng, Duyệt lại thường sai quân đi chặt những cây sao, táu, về đóng làm ván thuyền, bánh lái và mái chèo, thân chiếc neo thuyền thì dùng khúc thân lớn của cây xoài, cây này có quả tím đen, nhỏ bằng ngón tay, dầm bỏ vỏ ngoài, hạt thịt hồng hồng có bột vị ngọt. Những cây bằng lăng, rễ cây chỗ gốc cong queo nổi u kỳ quái, hoặc giốnghình người, hoặc hình chim muông hoa lá, Duyệt thường lấy về dùng làm ống cắm bút, có vẻ đẹp tự nhiên cổ kính... Đi trên con đường rợp hoa bằng lăng, Duyệt có một cảm giác thư thái, nhẹ nhõm trong không khí quen thuộc của quê hương miền Nam.


Duyệt mặc thường phục chỉ mang người hầu cận đi dạo quanh thành. Ở chợ Bến Thành, chợ họp dọc ven sông, phố xá, nhà cửa rất trù mật. Ở đầu bến, theo lệ tháng đầu xuân, nhằm ngày tế mã(1), Duyệt thường tổ chức thao diễn thủy binh ở đây. Bến này có đò ngang đón chở khách buôn tàu biển lên bờ. Đầu phía bắc là ngòi Sa Ngư, có bắc cầu ván ngang qua, hai bên nách cầu có phố bằng ngói, tụ tập hàng trăm thứ hàng hóa, dọc bến sông thuyền buôn lớn nhỏ đậu nối liền nhau... Vui chân mấy người đi đến chợ phố ở bờ tây sông Bình Dương, bến ấy toàn là sạn sỏi, là bến thường xuyên chovoi ngựa tắm. Đầu phía bắc bến ấy, trước đây có bắc cái cầu lớn ngang qua sông thông với đường đến đồn Thảo Câu để khi hữu sự dễ bề ứng tiếp, sau đó vì nước xoi nên cầu bị hỏng, vẫn chưa sửa lại. Đầu bến phía tây có sở Đúc tiền, là xưởng đúc tiền: “Gia Hưng thông bửu” khi tiên đế mới lấy lại được Gia Định. Hồi đó, Duyệt được tiên đế cử đi giám sát việc đúc tiền. Duyệt đã từng đứng trên bờ sông này ngắm những con cá lìm kìm to cỡ ngón tay trỏ, dài hơn một tấc, mỏ dưới nhô ra rất dài, mỏ trên rất ngắn, chỉ lội trên mặt nước và đón ăn những thức ăn trôi trên mặt nước. Trông thấy dòng nước sông trong vắt, Duyệt những muốn cởi áo nhảy tùm xuống sông bơi một vòng cho thỏa thích. Duyệt hồi nhỏ thường thích bơi lội, nhiều khi bị cá tra, cá vồ là loài cá có ba ngạnh mình tròn đâm, bi đau nhức dữ dội, khi về nhà mẹ Duyệt vội ngắt cạnh đuôi cá Duyệt bắt về đắp vào chỗ đâm là dịu ngay... Một con chim bói cá lông xanh biếc nhào xuống nước để bắt cá, rồi cặp con cá bay vút lên trời... Duyệt nhìn theo chim, cười hồn nhiên như một đứa trẻ.


*


Lê Văn Duyệt, tổ tiên ở làng Bồ Đề, huyện Chương Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, cha là Toại di cư vào ở thôn Hòa Khánh, gần vàm Trà Lọt, tỉnh Định Tường, sau dời về làng Long Hưng, chợ Ông Hổ ở Rạch Gầm, tỉnh Định Tường. Toại sinh được 4 con trai, Duyệt là con trưởng, sinh ra đã không dái, hình thể ngắn nhỏ, nhưng khỏe mạnh, có tài trí. Năm 14,15 tuổi thường tự than thở rằng sinh ở đời loạn, không hay dựng cờ trống đại tướng, chép công danh vào sách sử, thì không phải là trượng phu. Năm Canh Tý (1780), Nguyễn Ánh lên ngôi chúa ở Gia Định, Duyệt năm ấy 17 tuổi, được tuyển dụng làm thái giám, việc nội đình làm rất giỏi, được bổ làm thuộc nội cai đội, quản 2 đội thuộc nội. Năm Quý Mão (1783), Tây Sơn vào đánh, Sài Gòn thất thủ, Nguyễn Ánh đi sang Xiêm, Duyệt đưa cung quyến lánh ra đảo Phú Quốc. Năm Giáp Thìn (1784), Nguyễn Ánh đem quân Xiêm về Gia Định, quân Xiêm bị Tây Sơn đánh thua, quan quân tan rã. Duyệt cùng 12 người hầu, theo Nguyễn Ánh bỏ thuyền đi bộ, từ Vân Giã đến Thi Giang, đường đi rất gian nan hiểm trở. Năm sau lại theo Nguyễn Ánh đi sang Xiêm, đóng ở thành Vọng Các. Năm Đinh Mùi (1787) mùa thu, Nguyễn Ánh lại về Gia Định, Duyệt thường theo đánh dẹp, cùng chư tướng bàn việc binh. Nhân xin chiêu tập mộ binh thuộc theo Tả quân. Năm Quý Sửu (1793) theo Nguyễn Ánh đi đánh Quy Nhơn, cùng Vũ Văn Lượng đánh đồn Úc Sơn thu được súng khí giới rất nhiều, do quân công được thăng thuộc nội vệ úy thuộc quânThần Sách. Năm Ất Mão (1795) đại quân đi cứu thành Diên Khánh, Duyệt lại cùng Nguyễn Đức Xuyên đánh lấy được đồn Trung Hội.


Năm Đinh Tỵ (1797) đổi làm vệ úy vệ Điều Vũ. Lại dời làm thần sách quân tả đồn chánh thống, trấn thủ thành Diện Khánh. Năm Kỷ Mùi (1799) theo Nguyễn Ánh đi đánh Quy Nhơn, Duyệt đánh lấy được Đạm Thủy. Nguyễn Ánh sai tham thăng trưởng quân Võ Tánh tiến vây thành Quy Nhơn, sai Duyệt cùng tả quân Tống Viết Phước đem quân thuộc bộ tiến trước giữ Bình Đê chặn quân cứu của Tây Sơn. Tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng nghe tin quân Nguyễn ít, bỏ thuyền lên bộ, đem vài vạn quân ồ ạt tiến lên. Nguyễn Ánh ở Tân Quan, nghe quân Tây Sơn dũng mãnh, sai trung sứ đến hỏi tình trạng. Duyệt cùng Viết Phước tâu rằng; “Có hai chúng tôi ở đây, địch không đủ lo”. Lại chỉ núi đằng trước nói rằng: “Đấy là chỗ chúng tôi sống chết vậy”. Năm ấy, quân Nguyễn lấy lại được thành Quy Nhơn, đổi tên là thành Bình Định, lưu Võ Tánh trấn thủ rồi rút quân về.


Mùa đông ấy, Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng đem cả quân thủy bộ đến vây thành.


Năm Canh Thân (1800), quân Nguyễn Ánh đến cứu, Duyệt đốc quân tiến trước đánh tan quân của tư khẩu Định ở Hoa An, bắt sống được quân địch rất nhiều. Lúc ấy thuyền Nguyễn Ánh đóng ở Cù Mông, Nguyễn Ánh sai tiền quân Nguyễn Văn Thành đem bộ binh ra Đồng Cậy. Thành xin đi đường tắt đánh úp đằng sau lưng địch, Nguyễn Ánh sai Duyệt cùng Nguyễn Đức Xuyên, Tống Viết Phước đem quân hội cùng Thành. Duyệt nhân thế thắng hết sức đánh phá tan quân địch. Tây Sơn lui về đóng ở bãi Kỳ, đắp lũy tự giữ. Qua vài ngày, Duyệt đem quân hữu đạo, Viết Phước đem quân tả đạo, Thành đem quân trung đạo, ba đạo quân đều tiến đánh lấy được lũy địch.


Năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh sắp dùng kế hỏa công, mật triệu Duyệt từ Đồng Cậy về Cù Mông. Duyệt đến, Nguyễn Ánh sai Nguyễn Văn Trương, Tống Phước Lương đốc quân thủy tiến đi trước, Duyệt cùng Võ Di Nguy xếp quân như chuỗi cá mà tiến. Tây Sơn giữ đồn núi chống đánh. Súng đạn như mưa. Di Nguy bị đạn ngã xuống nước chết, Duyệt vẫn hăng hái xông trận không lùi. Nguyễn Ánh thấy tướng sĩ nhiều người chết và bị thương, sai tiểu sai dụ tướng sĩ hãy tạm lui để tránh mũi nhọn của đối phương. Duyệt xin liều chết mà đánh, nói với tiểu sai rằng: “Bây giờ chỉ có tiến không lui, có vào không ra”. Rồi vẫy quân kíp tiến, vào được cửa biển, thuận gió phóng hỏa, đốt hết chiến thuyền của địch.


Sau khi Duyệt đánh vỡ thủy quân Tây Sơn, tiến quân lên bộ đánh địch ở hai câu Đông Giang, Tân Hội.


Vũ Văn Dũng và Trần Quang Diệu hợp lại với nhau vây thành Bình Định. Quân Nguyễn vòng quanh thành cố sức đánh không giải được vây. Nguyễn Ánh triệu chư tướng bàn kế sách. Các tướng lĩnh hiến kế: tinh binh, mãnh tướng Tây Sơn tập trung ở Bình Định; Phú Xuân tất bỏ hở, bỏ chỗ mạnh đánh chỗ yếu là điều binh pháp vẫn thường dùng. Nguyễn Ánh dùng dằng mãi chưa quyết. Duyệt nói với Nguyễn Ánh rằng: “Binh quý nhanh chóng, mưu cốt quả đoán, mà đóng quân lâu ở Bình Định thì quân nhọc mà vô công, tiến lấy Phú Xuân thì Bình Định không đánh mà vây cũng giải được, đó là phép đánh cờ thí” Lúc ấy Nguyễn Ánh mới quyết định kế tiến quân.


Đích thân Nguyễn Ánh đem quân thủy tiến đánh Phú Xuân, sai Duyệt cùng Lê Chất tiến quân đi trước. Quân đến cửa biển Tư Hiền, tướng Tây Sơn Nguyễn Văn Trị giữ núi Hữu Môn chống đánh, tự trên cao bắn súng tự giờ Thìn đến giờ Dậu, quân Nguyễn nhiều người chết và bị thương. Duyệt bàn với Chất rằng: “Chỗ hiểm yếu này khó đánh, nếu không đánh úp đằng sau địch thì không thể thắng”. Đêm đến, sai quân vác chiến thuyền hơn 20 chiếc qua bãi cát vào biển con trong sông. Tây Sơn ngỡ là quân cứu viện đến, không phòng bị. Quân Nguyễn trước sau giáp đánh, quân Tây Sơn thua chạy.


Đến cửa Thuận An, đánh tan quân Tây Sơn, bèn tiến quân thẳng đến Phú Xuân, lấy lại được đô thành. Trận này quân Nguyễn tiến ra Phú Xuân, Trần Quang Diệu biết, sai tư khấu Định đem 5000 quân đi đường núi ngầm về cứu. Nhưng vì bị thổ dân ở núi ngăn trở, nên khi về đến Cao Đôi thì Phú Xuân đã bị lấy vài ngày rồi. Duyệt và Chất đem quân đón đánh. Định chạy, chết ở trong rừng.


Khi dẫn quân về, Nguyễn Ánh sai Duyệt cùng Chất vào cứu Bình Định, cho Duyệt trống trận và còi hiệu để hiệu lệnh các quân. Quân Nguyễn đến đất Trà Khúc tỉnh Quảng Ngãi. Duyệt và Chất nối tiến đốc quân đánh, Tây Sơn phải lui binh. Quân Nguyễn tiến đến Thanh Hảo đắp lũy dài, dưới tự cửa biển Mỹ Ý, trên liền hang núi, cùng tướng Tây sơn là Từ Văn Chiêu chống nhau. Duyệt nhân đối phương sơ hở ra đánh, bắt sống được quân địch và khí giới rất nhiều.


Mùa đông ấy, tướng Tây Sơn Từ Văn Chiêu đến đánh đồn Mỹ Ý. Duyệt sai liệt tướng Trịnh Ngọc Trí ra đánh, rồi tự đem binh giáp đánh tan được địch.


Năm Nhâm Tuất (1802) mùa xuân, Nguyễn Quang Toản dẫn quân đến đánh Động Hải, thua to, phải lui, Duyệt cùng Thành hợp quân tiến đánh thành Bình Định, lấy lại được thành.


Tháng 5, dựng niên hiệu là Gia Long năm thứ nhất, bàn đem đại quân ra đánh Bắc Thành. Duyệt được thăng khâm sai chưởng tả quân doanh Bình Tây tướng quân, cùng Chất lĩnh quân bộ đi trước. Quân qua Hoành Sơn, cùng Tây Sơn đánh nhau ở Dinh Cầu, Tây Sơn thua chạy. Đến Vĩnh Doanh lại đánh hai trận. Trấn thủ ở Nghệ An là Nguyễn Văn Thận bỏ thành chạy đến Tiên Lý, Duyệt tiến quân đuổi theo. Thận chạy ra Thanh Hóa, quân theo đến nơi, Thận đón hàng. Quân Nguyễn thừa thắng xông lên đuổi tràn quân Tây Sơn, rồi tiến lấy được Bắc Thành. Có thể nói cả quyển sử sáng nghiệp của Gia Long trang nào cũng có công lao của Lê Văn Duyệt góp phần xây dựng.


Lê Văn Duyệt vào trấn nhậm Gia Định vào giữa lúc xứ này đang gặp nạn đói. Miền Gia Định đồng bằng phì nhiêu, đất rộng dân thưa mà lúc này có đến hàng ngàn dân phiêu tán. Tuy mật độ dân số không còn như ở đồng bằng Bắc Kỳ, năm Gia Long thứ 18 (1819), các quan Gia Định cũng phải tâu xin xét lại quy định “thập đinh nhất cùng” (10 đinh thì có 1 người nghèo), vì trong thực tế số “cùng đinh” đã lên tới 16.000 trong số 50.000 dân Gia Định.


Đất Gia Định lắm nơi rừng rậm, trộm cướp dễ bề ẩn nấp. Vừa trấn nhậm, Lê Văn Duyệt đã dốc sức vào việc trừng trị bọn bất lương. Hai tên cướp cầm đầu Nguyễn Văn Ngữ và tên Phụng gọi là “Phụng ba đuôi” đều bị Duyệt diệt trừ, nên lục tỉnh mới an cư lạc nghiệp.


Tháng 2 năm Minh Mạng thứ 4 (1823), Duyệt lại dâng sớ xin mộ dân phu vét kinh Vĩnh Tế miền Châu Đốc thêm sâu rộng để chiến thuyền lớn có thể qua được. Hơn 35.000 binh dân Gia Định hợp với 10.000 binh dân Chân Lạp được sử dụng vào việc vét kinh. Tháng 4 thì xong, vét được 10.500 trượng. Duyệt đích thân dốc suất công việc này, cực nhọc phải lâm bệnh. Vua thưởng cho đai ngọc và thêm lời dụ: “Từ xưa hoàng tử, công chúa chưa ai được ân tứ ngọc đái. Nay khanh đã có nhiều công tích cũ lại lập được công lao mới nên đặc biệt ân tứ này”.


Công việc vét kinh thật khó nhọc, vì Vĩnh Tế thuộc vùng rừng rú nguy hiểm, nạn bò rừng, cá sấu làm nhiều dân phu bỏ mạng, lại thêm mùa hè nóng bức, nên vua phải cho tạm đình đến mùa xuân sau.


Lần lượt, Phó Tổng trấn Trương Tấn Bửu rồi Phó Tổng trấn Trần Văn Năng thay thế, cộng với sức lực của 25.000 binh dân Gia Định, Chân Lạp vét tiếp đến tháng 5 năm Minh Mạng thứ 5 mới xong. Dân số hưởng lợi của kinh Vĩnh Tế tăng lên 10.000 người.


Ngoài những sáng kiến mở mang thủy lợi giao thông, Duyệt đã đề ra chính sách đồn điền. Với chính sách này, thời bình người dân khai phá đất đai, vừa tự bảo vệ an ninh vừa góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp. Khi hữu sự người dân cày trở thành lính tác chiến “tĩnh vi dân, động vi binh”. Nhờ chính sách này đã nhổ sạch mầm mống gian phi, lẫn góp phần tăng cường bảo vệ biên giới.


Trước đó, vua Chân Lạp là Nặc Ong Chăn bị quân Xiêm đánh đuổi phải chạy xuống Sài Gòn tị nạn. Gia Long liền cử ông vào làm Tổng trấn, Gia Định, để xử lý chuyện rắc rối giữa Xiêm Lạp. Năm Gia Long thứ 12 (1812), Duyệt cùng Hiệp tổng trấn Ngô Nhân Tĩnh đem quân thuyền hơn 13.000 đưa Nặc Ong Chăn về nước. Quân ta đến Long Úc, tướng Xiêm là bọn Phi nhã(1) Phì Sai Phủ Liên Tra đến cửa quân lạy chiếu thư. Nặc Ong Chăn bèn vào thành La Vách. Duyệt sai quân Chân Lạp là Kralakâm(2) đem 500 quân lính bảo hộ vua Chân Lạp. Lúc đầu người Xiêm nghĩ rằng quân ta đi xa, quân hẳn không nhiều, ngoài làm ra bộ hòa hiếu, trong thì sửa sang chiến cụ, ngầm muốn thừa lúc sơ hở đánh úp quân ta. Đến lúc Duyệt tới, người Xiêm sợ không dám động. Duyệt nêu rõ hiệu lệnh cấm cướp bóc, dân Chân Lạp nhờ vậy được yên ổn. Duyệt bèn tâu vua xin đặt thành ở Nam Vang cho vua Chân Lạp ở, đặt thành ở Lư Yêm để chứa quân nhu. Thành đắp xong rồi thì lưu quân bảo hộ nước ấy, mà đại binh rút về Gia Định, đợi xem động tĩnh.


Vua cho lời Duyệt nói là phải, bèn sai Duyệt đem quân thủy giữ sông Xà Năng, quân bộ đóng đồn các nơi xung yếu, mà đưa thư trách nước Xiêm. Người Xiêm bèn lui quân về Bắc Tầm Bôn. Quân ta đắp 2 thành Nam Vang, Lư Yêm, dựng đài An Biên, dựng nhà nhu viễn để làm nơi vua Chân Lạp vọng bái. Liền chiếu cho Duyệt đem quân khải hòan. Lưu Nguyễn Văn Thoại đem 1000 quân đóng giữ thành Nam Vang, bảo vệ vua Chân Lạp. Vua Chân Lạp liền sai sứ đem dâng 88 thớt voi. Duyệt nghĩ nước Chân Lạp mới xây dựng lại, các kho còn trống không, xin đem bạc kho tính giá voi mà trả cho Chân Lạp. Vua chiếu cho làm theo như lời Duyệt.


Duyệt về đến Gia Định, ông lại cùng Phó Tổng trấn Trương Tấn Bửu cho tiến hành kiểm tra dân số, sức cho các xã sở tại phải biên vào sổ những tên đinh, ai tình nguyện sung vào quân số thuyền đội cơ vệ phải cứu xét biên tên để khỏi gian lận và tra xét cho dễ. Dân Gia Định nhiều tên du đãng, có đứa nương mình theo quyền quý, ghi tên vào sổ lính mà thường thường ngầm về hương thôn họp nhau đi ăn cướp. Duyệt lập ra điều cấm, sai dân sở tại ngầm đưa tên những đứa ăn cướp báo quan lập tức bắt trị tội. Lại hạ lệnh cho ai ăn cướp được đến thú tội, đem sức đi làm việc để lập công chuộc tội. Nhờ đó mà trộm cướp hơi tắt, nhân dân được yên.


Năm Gia Long thứ 18 (1819) 2 trấn Thanh Nghệ năm ấy mất mùa, dân đói dân phiêu tán nhiều người họp đi ăn cướp. Vua cử Duyệt ra làm Kinh lược sứ. Duyệt tới nơi, ra lệnh những giặc cướp trốn tránh đều cho ra thú, miễn tội. Lại dâng sớ xin vua tha thuế không đòi thuế thiếu từ trước, dân phiêu tán về quê đều cho miễn thuế thân, thuế điền và đi lính đi xâu 3 năm. Vua nghe theo, Tờ chiếu ban xuống, những đám giặc cướp đều ra thú, dân tình lại được yên ổn.


Trở lại Gia Định lần này, Lê Văn Duyệt lo sửa sang công việc nội trị và phát triển văn hóa xã hội. Duyệt ra lệnh thành lập hai cơ quan từ thiện “Anh Hài” và “Giáo Dưỡng”. Trẻ nào thích việc vẽ thì được chăm nom ở Anh Hài để rèn luyện nghề vẽ, trẻ nào có khiếu văn chương hay nghề nghiệp khác thì được vào ở cơ quan Giáo Dưỡng. Hai tổ chức này được thiết lập mục đích săn sóc con cái những người đã hy sinh vì nước, đền đáp công lao những liệt sĩ.


Thời kỳ Lê Văn Duyệt trấn nhậm Gia Định, nho sĩ ở miền này nổi tiếng hay chữ, họ để tóc xõa xuống vai, mặc áo cánh ngắn không xẻ hai bên, khuy ở giữa.


Trong các bộ môn nghệ thuật, Duyệt đặc biệt khuyến khích bộ môn hát bội. Chính ông sắm riêng cho mình ban hát chọn lọc toàn những nghệ sĩ điêu luyện nhưng không thâu nhận nữ nghệ sĩ, cho nên ban hát của Tổng trấn, vai đào do kép thủ.


Cầm đầu quản lý trong ban hát là Đội nhất Chiêu, các nghệ sĩ: Thứ, Thao (vai tuồng), Cu Việt (chuyên làm Trương Phi), Cần (vai kép chuyên thủ vai Kim Lân),Trắc gọi Trắc cụt (cụt một cẳng, quê quán ở Quy Nhơn, chuyên vai hề), Can chuyên làm vai yêu. Tổng trấn ưa xem tuồng “Tam cầm, tam phóng”. Đội Chiêu thủ vai Đinh San, Sắt thủ vai Lê Huê. Mỗi khi hát, Tổng trấn nghe từng câu văn, xem từng bộ điệu, tay cầm trống, tay cầm dùi, thưởng hay, phạt dở. Bộ ngồi của ông là bộ Hổ (xếp hai bàn chân qua một bên).


Có anh kép Chương ở lục tỉnh về xem tuồng “Tam cầm tam phóng” chê Đội Chiêu thủ vai Đinh San kém. Tổng trấn nghe được liền cho Chương thay Chiêu hát thử, nếu dở thì đánh đòn. Chương thủ vai Đinh San quả tuyệt diệu.Tổng trấn khen và cho nhập ban. Kép Chương lui tới trong dinh, tư thông với một cô hầu. Tổng trấn biết được liền truyền đem chém. Đội Chiêu mến tài đem Chương giấu kín rồi vào khám tìm một tên tử tù có sắc điệu giống y, đem ra chịu tội thế mạng cho Chương.


Năm sau, Tổng trấn xem lại tuồng “Tam cầm, tam phóng” thấy Đội Chiêu thủ vai Đinh San chợt nhớ tới Kép Chương than tiếc: “Chớ phải Chương không sinh lòng quấy đến đỗi ta giận mà ra lệnh chém thì nay vai Đinh San hay biết chừng nào!”.


Đội Chiêu nghe vậy, xong tuồng hát, đưa kép Chương vào lạy Tổng trấn, thú thật việc giấu Chương và xin tha tội cho anh kép này. Tổng trấn thương tình tha tội, lại cho Chương trở lại sân khấu trong vai Đinh San như cũ.


Mỗi khi hát, Tổng trấn theo dõi tỉ mỉ. Hát sai, hát bậy thì không tránh khỏi đòn, nên nghệ sĩ lo chuyên cần trau dồi nghệ thuật mong nghe tiếng trống thưởng và rất sợ nghe dùi gõ dăm (không đánh trên mặt trống mà lại gõ ngoài dăm). Hôm ấy, Lê Văn Duyệt cầm chầu coi gánh hát của mình diễn tuồng “Võ Thành Lân”. Kép Hứa Văn thủ vai trung thần bị bọn nịnh soán ngôi vua rượt chạy. Phóng ngựa tới bờ sông, nghẹt lối, không thuyền, may gặp cá rước, kép ta liền hát nam:


Ô mã qua miền hải ngạn,


Công Tiên hoàng tỏ rạng đường non.


Lúc này Kép đã ngồi yên trên lưng cá, khoan thai hát tiếp:


Vẩn vơ cá lội đuôi cờ... Họ...


Tức thì tổng trấn gõ dùi trống, đánh cắc một tiếng lên thành trống:


- Cá chớ ngựa sao mà họ!


Kép Văn hiểu, bụng bảo dạ, lát nữa khi mãn hát sẽ phải nằm ăn đòn. Nhưng lanh trí, kép ta làm bộ thản nhiên hát nam tiếp theo:


Họ, tưởng đâu ô mã, ai ngờ lý ngư.


Một loạt trống đánh lên thùng thùng. Tổng trấn vừa cười vừa nói lớn: “Hay, hay, tha tội…”


Dưới sự cai trị của Lê Văn Duyệt, xứ Nam Kỳ ngày càng giàu có, nhiều năm sản vật nông nghiệp thừa thãi quá, như dầu phọng chẳng hạn, dân bản địa dùng không hết mà bán ra ngoài cũng có dư. Tại Chợ Lớn, hàng năm xuất cảng độ chừng 12.000 tấn gạo, 2.200 tấn bông gòn, 400 tấn đường, còn các thứ gỗ quý mật ong, cá khô... thuyền buôn ngoại quốc đến mua tấp nập.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tiểu thuyết lịch sử của Hoài Anh. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 22.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 11.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
xem thêm »