tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20033150
Tiểu thuyết
30.08.2011
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

Mùi mực xạ ở chỗ mép con lý ngư tạc trên nghiên đá phun ra một mùi thơm quen quen mà xa xăm. Nhựa mực đã tràn lên mép ao đặc sánh lại và đen nhanh nhánh dưới mấy ngón tay người mài, những búp ngà vẽ những vòng đều và dịu. Người thiếp họ Nguyễn mài mực xong, Phạm Quý Thích với lấy quản bút giắt trong ống sứ Giang Tây, thứ bút “ngâm đáo mai hoa” ngòi mềm tay như lông đuôi bò dầm no mực rồi viết trên mặt giấy bản những nét xương kính như cành mai già:


Giai nhân bất thị đáo Tiền đường,


Bán thế yên hoa trái vị thường.


Ngọc diện khởi ưng mai thủy quốc,


Băng tâm tự khả đối Kim lang.


Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu,


Bạc mệnh cầm chung oán hận trường(1).


Nên kết như thế nào đây? Ông lại vê vê đầu ngòi lông ở chỗ mép con lý ngư, ngẫm nghĩ. Mùi giấy bản và mực tàu quyến rũ làm ông ngây ngất. Ông phóng bút viết những nét xổ nét mác vừa tung hoành vừa tinh tế trên mặt giấy êm và mịn:


Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy,


Tân thanh đáo để vị thùy thương(2)


Năm 1813, ông Cần chánh điện học sĩ Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc về, mua được bản in chính Kim Vân Kiều truyện của Thanh tâm tài nhân. Ông lợi dụng thời gian còn nán lại ở Bắc thành, dựa theo nguyên bản chỉnh lý, nhuận sắc lai bản Truyện Kiều mà ông đã khởi thảo từ khi đang làm Cai bạ ở Quảng bình căn cứ vào một bản chép tay KimVân Kiều truyện có trong nhà. Sửa xong, ông đặt cho nó một cái tên mới là Đoạn trường tân thanh, rồi sai lại phòng chép một bản đưa cho Phạm Quý Thích lúc bấy giờ đang dạy học ở Bắc thành đọc. Phạm Quý Thích hơn ông sáu tuổi và là bạn đồng liêu với anh ông là Nguyễn Khản và anh rể ông là Vũ Trinh, nên hai người đã có quen thân từ trước. Phạm Quý Thích đọc thấy hay, nên đã cho khắc ván in, bây giờ ông viết bài Đoạn trường tân thanh đề từ, đặt ở đầu sách.


Phạm Quý Thích tự Dữ Đạo, hiệu Lập Trai, biệt hiệu là Thảo Đường cư sĩ. Người xã Hoa đường, huyện Đường an, phủ Thượng hồng(1), sau đến ngụ ở phường Báo thiên, huyệnThọ xương, thành Thăng long(2). Đậu tiến sĩ năm 1779. Dưới thời Lê - Trịnh làm Thiêm sai tri công phiên. Khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc, ông bỏ trốn, không cộng tác với nhà Tây Sơn. Năm đầu đời Gia Long, bị gọi ra yết kiến, vua ban cho quần áo, tiền bạc và chức Thị trung học sĩ, ông lấy cớ cáo bệnh xin về, nhưng vua Gia Long không nghe.


Năm 1804, được bổ Đốc học Bắc thành, ông cũng mượn cớ có bệnh cáo từ, phải xin đặt chức trợ giáo giúp việc cho ông. Năm 1809, ông xin từ chức, về ở thôn Chiêu hội tại Bắc thành.


Tháng 6 năm Tân Mùi (1811) vì việc làm quốc sử, lại vời ông đến kinh, đặc biệt được miễn vào chầu thường lệ, dần cùng Tổng tài bàn định không hợp ý, bèn cáo xin về dưỡng bệnh. Nhưng mỗi năm có khoa thi, còn sai ông coi vịêc thi cử, ông cân nhắc lại câu văn, thấy ai là người có thực học, dù có nhầm lỗi cũng lấy đỗ. Nhưng rất khắc nghiệt với kẻ chạy chọt, mánh khóe làm gian, trước sau coi việc thi cử ở trường Sơn Nam ba lần, lấy được nhiều danh sĩ, dư luận sĩ phu rất tin phục.


Phạm Quý Thích vừa viết xong bài thơ, toan đi nghỉ, thì người nhà báo có dụ của vua đưa đến. Ông vội đội mũ mặc áo quỳ trước án để nghe dụ. Một viên quan tuyên đọc lời dụ của Minh Mạng:


“Thị trung học sĩ Phạm Lập Trai là bậc lão nho, vọng trọng tài cao hạnh tốt đã rõ rệt. Trẫm lên nối ngôi trị nước, trước hết đã thăm hỏi đến. Lại bộ đã tâu là có bệnh. Nay trẫm nghĩ, ngày tháng đã lâu, bệnh chưa chắc đã gần khỏi, vậy xuống đặc ân ban cho bạc 30 lạng, lụa 10 tấm, cũng nên gắng sức lên đường, hành trình do đường trạm, thong thả đến cửa khuyết(1), để Trẫm được hỏi ý kiến hay về đường lối trị nước. Nếu sau này đến kinh còn ốm yếu không đi lại được, sẽ có ân ban cho điều dưỡng. Phải vâng mệnh thi hành, để thỏa lòng Trẫm yêu quý người hiền”.


Sau khi nghe sắc mệnh, ông lập tức lên đường.


Khi tới kinh, Phạm Quý Thích vào bệ kiến, lại lấy cớ cáo bệnh xin về.


Minh Mạng biết không thể ép được, liền nói:


- Nếu tiên sinh có bệnh thì trẫm cũng không ép nhưng chỉ muốn được gặp tiên sinh để hỏi ý kiến hay về đường lối trị nước. Trước trẫm hạ lệnh cho trong triều ngoài quận, đều phải đề cử kẻ sĩ có văn học hiền tài đứng đắn, đời nào chẳng sản xuất người tài, mà sao lại vắng tăm hơi như thế. Vì biết người là sự khó, mà không dám khinh suất đề cử, hay là không để ý đến việc ấy chăng?


Phạm Quý Thích nói:


- Tâu bệ hạ, bệ hạ có cho phép thì thần mới dám nói thẳng, thần trộm nghĩ muốn có nhân tài, phải chú ý đến những người ở ngành học quan lo việc giáo dục nhân tài. Mà trong ngành học quan thì còn có nhiều người không xứng chức. Trước đây bệ hạ ra lệnh cho ở kinh thì do quan từ tứ phẩm trở lên cử, ở bên ngoài thì do các quan địa phương cử những người mình biết sung làm Giáo thụ, Huấn đạo. Nhưng thực tế những người được cử phần nhiều là người ít tuổi, thì ra các quan thường chỉ cử con em mình sung các chức ấy, còn các vị Hương cống đậu các khoa, hoặc kẻ sĩ ẩn dật học hành giỏi có tuổi, thì bị bỏ rơi. Do đó bệ hạ cũng cần đặt ra luật lệ rõ ràng và có kiểm tra chặt chẽ thì mới tránh được sự thiên tư.


Minh Mạng hiểu ra, liền giao cho bộ Lại bàn định, từ đây phàm bầu cử Hương cống, Sinh đồ làm, phải lấy đủ 40 tuổi làm hạn, kẻ sĩ ẩn dật phải lấy đủ 50 tuổi làm hạn, rồi do bộ Lễ cùng quan trong Quốc Tử Giám bàn bạc xem học hành có thể dạy được học trò, mới bổ dùng vào những nơi còn khuyết. Lại sai các quan địa phương xét các Huấn đạo ở các huyện, ai là kẻ có học hành được sĩ tử tin theo học, cùng là ai học thức nông cạn hẹp hòi, không thể làm người thầy khuôn mẫu được, đều phải xét tâu lên, để định kẻ nên dùng, người nên bỏ.


Minh Mạng trước đây đã được Trịnh Hoài Đức giảng cho nghe về thuyết Chính danh, nhân dịp này ông hỏi thêm Phạm Quý Thích:


- Theo ý tiên sinh nên phân biện danh với thực như thế nào?


Phạm Quý Thích nói:


- Tâu bệ hạ, thần trộm nghĩ: về đời Thượng cổ chỉ nghe thấy có cái học, mà chưa nghe thấy nói cái danh cái thực.


Kịp đến hậu thế, có người vụ thực người vụ danh, mà cái thuyết danh thực mới phân ra.


Xét đời thượng cổ chỉ có thực mà không có danh; đời trung cổ có danh cũng có thực, còn hậu thế chỉ có danh không có thực, tại sao nói thế?


Đương đời Đường Ngu, có 8 vi Nguyên(1) và 8 vi Khải(2) la liệt ở trong Triều, và các ông Quỳ, ông Long, ông Ích, ông Tắc đều lấy đức nhượng ở trong triều; bấy giờ không ai cậy có trí năng, cậy có dũng công(3), không những không khoe cái danh mà không biết đến cái danh là gì nữa.


Đến đời Tam đại, các ông thánh vương nuôi kẻ sĩ có phương sách, đào luyện kẻ sĩ có phương sách, dùng kẻ sĩ có phép tắc. Phàm cái công tu tâm, thân, ý, trí và các việc quốc gia thiên hạ như việc binh, nông, lễ, nhạc đã có một cái việc thực tức là có một cái danh, chứ đâu có danh không xứng với thực, và thực không hợp với danh đâu!


Kịp đến đời Tam đại(4) trở xuống sinh ra cạnh tranh nhau về cái danh, như đời Tam quốc vụ cái danh “tung, hoành”(5), đời Tấn vụ cái danh về “Thanh đàm”(6), đời Đường vụ cái danh về “thi ca”, đời Tống vụ cái danh “văn từ”; ấy cái học hữu danh mà vô thực khởi lên từ đấy.


Kẻ trên đòi hỏi ở người dưới bằng cái danh, mà kẻ dưới đòi lại người trên cũng dùng bằng cái danh lúc đó được chú trọng ở đời, thậm chí coi cái học vấn là khí cụ cầu danh.


Lấy tiếng tăm khoe khoang với đời, trước còn khoe cái danh, sau lại cậy mình có cái danh, dần dà rồi tranh giành cái danh ở trong triều; xét ra cái danh chưa thành mà cái thực đã mất hết, xưa nay người anh hùng, hào kiệt nhầm ở trong cái danh, có phải là ít đâu?


Thánh hiền đời trước có nói, cái thực thắng thì đáng khen, mà cái danh thắng thì đáng thẹn, người quân tử chỉ cần cái thực thắng mà thôi.


Người ngày nay ít có liêm sỉ thậm chí cái danh cũng không đoái đến nữa, như vậy có thể ngang nhiên làm điều thô bỉ xấu xa mà không biết hổ thẹn. Bởi vậy bậc trí giả mới có lời khuyên “Thân có ắt danh âu phải có, Khuyên người nên trọng cái thân danh”, vì cái danh còn là danh dự của con người, phân biệt loài người với loài cầm thú. Chỉ cần danh phải phù hợp với thực là được.


Lời Phạm Quý Thích vừa đi vào chỗ tế vi, vừa giữ được đạo Trung dung, không cố chấp thiên lệch. “Trung” là c hính đạo, “Dung” là định lý chung cho mọi sự việc trên đời.


Lập luận của ông mới mẻ và sâu sắc hơn của Trịnh Hoài Đức. Minh Mạng chợt hiểu ra, khi sứ bộ của ta đi sứ Thanh, đến Quảng Tây xin đổi quốc hiệu, công văn bị trả đi trả lại đôi ba lần, rồi sau cũng phải sai Phạm Quý Thích thảo gấp mới xong công việc. Như vậy tài của kẻ sĩ Bắc hà này thật đáng khâm phục. Chợt nghĩ ra một điều gì, Minh Mạng hỏi Phạm Quý Thích:


- Tiên sinh có quen thân với các ông Nguyễn Du, Ngô Vị(1) phải không? Nhà nước dùng người tài phân biệt Nam Bắc, không hiểu sao hai ông ấy khi vào triều cứ rụt rè không dám nói, hay chê là trẫm kém tài bạc đức không đáng hiến lời đó chăng?


- Tâu bệ hạ, không phải thế, đó chẳng qua là các ông ấy nghĩ đến lễ, nghĩa, liêm, sỉ mà thôi.


Thầy Mạnh Tử nói rằng: “Một bát cơm, một chén canh, gọi một cách khinh bỉ mà cho, thì người đi đường dẫu đói cũng không nhận; nếu lấy chân vò đạp vào đem cho, thì người ăn mày cũng không thèm nhận”, như thế mới biết lễ, nghĩa, liêm, sỉ người dân tuy nhỏ mon cũng còn dùng, phương chi là kẻ sĩ mà bỏ mất thì còn mong bắt chước ông hiền, ông thánh và trời nữa sao?


Phải có lễ thì trật tự theo lý tự nhiên của trời mới rõ rệt; có nghĩa thì trong lòng mới quyết đoán được việc đáng làm hay không đáng làm, việc đáng thích hay không đáng thích, có liêm thì nghĩ đến cái nghĩa nên hay chăng trong khi có lợi; có sỉ thì nguy hiểm mới có tiết tháo con người.


Vậy cho nên hễ giữ được lễ nghĩa là kẻ sĩ, giữ được thanh liêm là kẻ sĩ, làm có biết xấu hổ là kẻ sĩ, đã được cái tiếng có lễ, nghĩa, tức là kẻ sĩ có cái thực ở bên trong vậy.


Chính vì kẻ sĩ có lễ nghĩa liêm sỉ nên không chịu để vua dùng làm gia thần, mà đòi phải dùng lễ khách khanh để đối đãi. Ông Chu Công là bậc đại hiền, mà còn nhả cơm vấn tóc để ra tiếp kẻ sỉ. Tề Tuyên Vương gọi: Nhan Súc lai đây! Súc cũng nói: Vua lai đây! Nếu vua gọi mà Súc đến ngay, thì Súc mang tiếng là người xu phụ quyền thế, nếu Súc gọi mà vua đến thì vua được cái tiếng là biết kính hiền hạ sỉ. Xin bệ hạ xét cho!


Minh Mạng nghe, im lặng một hồi rồi nói:


- Ba quân có thể đoạt được suý, đến kẻ thất phu cũng không thể đoạt được cái chí của họ. Ở đời có ba loại: lập đức, lập công, lập ngôn. Trẫm không đòi hỏi tiên sinh phải lập công với triều đình, chỉ cần tiên sinh lập ngôn để giáo hóa cho người đời, lập đức để làm tiêu biểu cho sĩ phu trong cả nước là đủ rồi.


Sau khi được vua cho về Bắc, Phạm Quý Thích đến thăm Nguyễn Du, trao cho Nguyễn Du cuốn Đoạn trường tân thanh mới khắc in. Đọc bài đề từ, Nguyễn Du nói:


- Tiên sinh viết như vậy quả là hiểu thấu tận gan ruột tôi. Xưa Tư Mã Thiên bị cung hình(1), vẫn ẩn nhẫn sống vì chưa viết xong bộ Sử ký. Nay cái thân hàng thần lơ láo còn mặt dạn mày dày sống thừa ngày nào, là bởi cuốn sách này chưa được khác in. Nay tiên sinh đã thành toàn cho tôi điều tâm nguyện ấy, từ nay tôi có chết cũng mát mặt rồi! Của tin còn một chút này… Ông cảm động quỳ xuống toan lạy, Phạm Quý Thích vội vàng ngăn ông lại.


*


Nghe lời khuyên của Phạm Quý Thích, từ đó Minh Mạng rất thận trọng trong việc sát hạch quan lại.


Lê Văn Liêm được Thự tiền quân Trần Văn Năng tiến cử làm Tri phủ Ninh Giang, bộ Lại đưa vào bệ kiến, vua xét hỏi. Liêm đáp là ít học. Vua nói:


- Tri phủ giữ chính lệnh trong một phủ, không học thì không rõ luật lệ, lỡ khi xử đoán sai lầm thì pháp luật khó dung, như thế là làm hại chứ không phải là yêu.


Rồi vua không cho Liêm được bổ dụng.


Kinh thành nhiều lần có nạn trộm. Việc đến tai Minh Mạng, nhà vua sắc rằng quân dân hễ ai bắt được trộm thì hậu thưởng. Sắc vừa mới ban ra, gặp ngay có người bắt được kẻ cắp. Vua bảo bầy tôi rằng: “Ăn cắp tuy là tội nhẹ, nhưng giữa ban ngày mà dám ăn cắp ở chốn Đại đô là rất khinh miệt pháp luật. Bọn vô lại khinh phạm hiến chương như thế, tha thì rút cục cũng không chừa, cũng vô ích”. Bèn sai chém để răn. Vua lại hạ lệnh cho Quảng Đức(1) từ nay về sau ở đâu có trộm cắp xảy ra, lân bang phải kịp đến cứu ứng, bắt giải lên quan, làm trái thì có tội.


Một trong những thú chơi mà Minh Mạng ghét nhất là hút thuốc phiện. Hồi thiếu thời ông đã chứng kiến cảnh người nghiện khi còn “phong lưu”, quanh chiếc đèn pha lê, chuyền nhau chiếc tẩu cán bằng ngà, câu chuyện nở như bắp rang, tán tụng cái say đi mây về gió của nàng là tiên câu. Chẳng bao lâu nghiện quá lậm, muốn rút ra không xong, mà tiền của cho đến ruộng trâu đều thi nhau chui vào xe lọ. Cơn nghiện lên, hút phải thêm sái vào, thêm ít rồi thêm nhiều mãi mãi. Nuốt sái cho đã nghiện, người càng ngày càng sút. Đến lúc phải uống chè xan ngâm sái thì người như không còn thịt cũng không còn hồn nữa, thế lế hết!


Truy nguyên ra, Minh Mạng biết thuốc phiện từ tàu Anh chở sang Hạ Môn rồi từ Hạ Môn do bọn buôn thuốc phiện lậu chở sang ta. Cứ cái đà này thì của nước ta mỗi ngày một cạn mà dân ta dần dần hóa thành dân bẹp tai hết, không có người đủ sức cầm gươm súng đương đầu với nạn ngoại xâm. Âm mưu của bọn thực dân phương Tây là muốn đầu độc cho giống nòi mình ngày càng suy nhược để chúng dễ bề lấn hiếp, cướp đoạt. Ông liền làm bài thơ miêu tả cuộc chiến đấu “oanh liệt” của một dân làng bẹp:


Không hút không ngon, hút biết ngon,


Hèn chi thiên hạ tiếng hẵng đon.


Ngoạn đèn oanh liệt cây đồng vắn,


Trận khói tưng bừng tiếng súng con.


Nệm chiếu ngửa nghiêng cùng bạn tác,


Mặt mày tỏ rõ với sông non.


Cõi Tây sớm mở đường qua lại,


Túi Nguyễn quên coi của hết còn.


Để cho thần dân tránh cờ bạc, hút xách, Minh Mạng dụ rằng: “Thuốc phiện là thứ thuốc độc tự nước ngoài đem lại, những phường du côn, lêu lổng mới hút cho là phong lưu, rồi chuyển thành thói quen, thường xuyên nghiện mà không thể bỏ được. Quan thì bỏ cả chức vụ, dân thì bỏ hết sản nghiệp, thậm chí gầy mòn thành tật, tổn thương cơ thể sinh mệnh, nên bàn để nghiêm cấm đi”.


Đình thần bèn tâu: “Không kể quan hay dân, ai dám hút thuốc phiện và cất giấu mà nấu nướng luôn bán, thì xử tội đồ(1). Ai bắt được mà tố cáo thì thưởng 20 lạng bạc. Cha anh không ngăn cấm con em, xóm giềng biết mà không tố giác, đều bị xử trượng(2).


Lời nghị tâu lên, Minh Mạng sửa là quan chức có phạm thì phải cách chức còn các điều khác thì theo lời bàn mà thi hành.


Sau lại ra nghị định, phàm các thuyền công đi ngoại quốc nếu có đem thuốc phiện về, thì chuẩn cho quan địa phương lập tức bắt tâu lên, nếu ẩn giấu sẽ bị nghiêm phạt.


Người tố cáo bắt thuốc phiện, cứ theo tang vật bắt được nhiều ít làm mực mà thưởng tiền bạc. Mỗi khi tang vật của phạm nhân đưa đến làm án, thì quan địa phương phải lập tức xét cho minh bạch, mà cấp phát tiền thưởng ngay. Còn các viên giữ đồn cửa sông cửa biển, có bắt được tang vật của kẻ phạm, tuy là phận sự phải làm, nhưng cũng theo lệ thưởng cho nửa phần tiền. Nếu nhận tiền đút lót tha ra, truy cứu đủ nguyên do, thì cũng chịu tội như kẻ phạm.


*


Vừa mới lên ngôi, Minh Mạng đã xuống chiếu cho các địa phương năm ấy được giảm các khoản tiền thóc thuế đinh, thuế điền và thuế sản vật cùng các món thuế trước còn thiếu lại, những nơi ruộng công, trại công mà dân làm tá canh không được hưởng lệ xóa thuế, nhưng cũng giảm cho một nửa. Lại qui định từ nay mỗi năm cứ đến ngày đầu xuân đều có xuống chiếu ân giảm thuế má và dao dịch, để làm thường lệ.


Nơi kinh đô giá gạo đắt, vua khiến các quan doanh Quảng Đức, hỏi xem dân gian có ai xin cấp phát thì lấy gạo kho giảm giá mà chu cấp. Về sau các địa phương có báo cáo về giá gạo đắt, hoặc bị gió mưa, đại hạn, lụt lội, mọi tai ương, thì khiến viên chức phát muối, gạo, tiền, thóc ra cung cấp hoặc cho vay.


Thấy các cửa bể hay gặp tai biến, vua xuống chiếu:


“Nay đường biển gian nan, hiểm nghèo, sóng gió nổi lên không lường được. Gần đây các quan quân và dân chúng, hoặc đi công vụ, hoặc đi buôn bán mạo muội vào chỗ hiểm nghèo, nơi biển sâu, đều là sự bất đắc dĩ. Hoặc ngẫu nhiên gặp nạn có sóng gió, còn sống thì không nơi nương tựa, mà chết thì ai là người chôn cất. Trẫm rất lấy làm thương xót, nên truyền cho các địa phương giữ các cửa bể phải dự trữ tiền gạo phòng khi có người gặp nạn sóng gió, thì chiếu việc công việc tư phân hạng mà cấp phát”.


Khi có gió bão ở Định Tường, người và thuyền đi trên sông phần nhiều bị chìm đắm. Quan trấn đem việc ấy tâu lên. Vua khiến chiếu theo lệ cấp phát, cũng như nạn sóng gió ở bể khơi. Từ sau lấy đấy làm định lệ.


Minh Mạng giảm cho xã Nga My trấn Thanh Hóa những khoản thuế về điền thổ của những dân lưu tán. Lại đặt lệ từ nay ruộng đất của dân lưu tán mà bỏ hoang, thì viên chức sở tại xét tâu lên, đều được miễn thuế.


Nghe tin dân Quảng Trị phần nhiều bị cảnh điêu linh thiếu thốn, vua sai Thiêm sự Hoàng Quốc Bảo, Thị hàn Hoàng Sư Dĩnh đến tận nơi hỏi han, bọn ông Bảo đem tình trạng khổ cực của dân tâu lên. Vua truyền mở kho thóc, giảm giá cấp phát cho dân. Thóc một hộc trị giá 8 tiền, binh lính và dân được một hộc, những người góa bụa, cô độc được một nửa.


Vua lại chuẩn y đề nghị của đình thần, phàm các doanh hạt mà số người và nhà cửa phải lưu tán, được miễn thuế và sai dịch, để cho dân được thư thả lúc cấp bách.


Quan bộ Công tâu lên, xin việc đầu tiên là thu thuế rừng cây ở tỉnh Quảng Trị.


Vua dụ rằng: “Năm nay các sắc thuế về sản vật, trước đã được giảm xá. Nay mực viết tờ chiếu chưa khô, mà lại khiến trưng thu, lấy gì để giữ tín với dân chúng, nếu có sự thiếu thốn không đủ chi dụng thì lấy của công mà dùng”.


Sơn Nam, Kinh Bắc hai nơi, dân gian đói kém. Vua bèn khiến xuất thóc kho ba vạn hộc ra phát cho vay.


Vua giảm cho xã An Lãng thuộc Sơn Nam số thuế những ruộng đất bị lở, hoặc bị mưa khoét mà các quan địa phương tâu lên, đều được miễn thuế.


Tại Hà Tiên, Vĩnh Thanh và Định Tường chứng ôn dịch làm dữ. Vua dụ các quan sở tại: người bị bệnh thì cấp thuốc thang. Những người chết bất kể là trai, gái, già, trẻ đều cấp tiền tuất ba quan, vải một tấm. Nếu hài cốt bộc lộ thì trích của công chôn cất.


Vua dụ các quan địa phương nên thân hành đến nơi để cấp phát tiền, vải tử tuất, xét hỏi những người bị bệnh nặng, và người chết, số lượng bao nhiêu, phải năm ngày một lần tâu lên. Rồi từ Bình Thuận trở ra đến Bắc thành, nơi nào cũng tâu báo có dịch.


Vua khiến lấy bạch đậu khấu và các thứ thuốc trị bệnh dịch ở trong kho ra sai người ban cấp. Lại sắc cho các địa phương mỗi nơi, người bị bệnh thì cấp thuốc, người chết thì cấp tiền, vải, từng người một theo như chỉ dụ trước.


Lúc ấy quan doanh Quảng Nam tâu xin chia số dân bị dịch lệ làm ba hạng già, trẻ, con nít để cấp tiền tuất. Vua trách rằng: “Trên lãnh thổ đều là dân con, trong bốn bể đều là tiền của. Ngày nay trăm họ bị tật dịch, lòng trẫm xiết nỗi thương đau, há ngại việc cấp tiền nhiều, mà bàn nên giảm bớt hay sao?” bèn khiến theo lệ cấp đồng đều.


Vua nghe có lại dịch, phần nhiều bớt xén tiền tuất, bèn dụ rằng:


“Gần đây dịch lệ làm tai hại, nhân dân mắc hoạn nạn, trẫm hằng động lòng thương xót, suy nghĩ làm cách nào gìn giữ chu đáo cho phải đạo thương dân. Nên trẫm khiến các ty, nha cấp phát thuốc thang, tiền, vải để cho nhân dân kẻ khuất người còn đều được thấm nhuần ơn đức. Các quan to ở địa phương được sự ủy thác của trẫm, chăn dắt dân chúng, nên coi dân như con, các quan phải gia tâm yên ủi đừng sai khiến ty lại bên dưới để họ xà xẻo làm điều gian trá. Sao cho tránh được những mối tệ ấy mới làm đẹp lòng trẫm”.


Vua dụ quan Hiệp trấn Sơn Tây Trần Thiên Tải rằng: “Bên trên thì thể ý nhân đức của vua, bên dưới thì lo cứu nạn dân, đó là chức trách của người chăn dắt dân. Bằng như đem việc công khinh suất ủy thác cho ty lại để chúng tha hồ làm việc gian manh thì hại cho dân không thể nói xiết được vậy”.


Vua sai Trung sứ chia nhau đi về các ấp, các huyện Trung Kỳ (từ Thanh Hóa vào Bình Thuận) xét xem mùa màng về tâu lại. Vì từ Nghệ An ra Bắc lâu ngày không mưa, vua lại sai sứ đi các địa phương quan sát tình hình nghề nông.


Lúc ấy hai xã An Vân, Đốc Sơ thuộc dinh Quảng Đức tâu xin được miễn đi xâu trong hai tháng để sửa sang các sông ngòi đem nước vào ruộng. Vua y cho. Lại sắc các địa phương thường năm lúa chín phải xét trong hạt thu hoạch tỷ lệ phần số được bao nhiêu tâu lên vua biết.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
xem thêm »