tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21282958
Tiểu thuyết
24.08.2011
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

Trước huyền cung đã dựng sẵn một ngôi nhà tạm. Ngay giữ ngôi nhà này, có kê một cái hương án, trước hương án là bàn dùng đặt tráp đựng những tấm lụa để cúng người chết, tráp đựng thể sách, phía ngoài trải sẵn một chiếc chiếu để vua Minh Mạng đứng hành lễ.


Khi tử cung đã nằm yên trong huyền cung rồi, vua Minh Mạng cùng các hoàng thân, đình thần, làm lễ tấn tặng. Sau khi dâng tuần rượu, Minh Mạng quỳ xuống trước bàn thờ. Quan bộ Lễ xướng “Tấu tấn tặng tệ”, viên chấp sự quỳ dâng giấy vàng bạc, hương đèn, trầm trà, cau trầu, rượu và mấy cây lụa. Minh Mạng cầm mấy cây lụa đặt lên ngang trán, ngụ ý dâng tặng tệ lên vua cha, đoạn giao lại cho viên chấp sự đặt lên án.


Tiếp theo, viên quan bộ Lễ tâu: “Tấu tấn minh khí sách”, quan chấp sự quỳ dâng tráp đựng minh khí. Công việc giống hệt lúc làm lễ tấn tặng tệ.


Lễ chấm dứt thì một quan chấp sự đem tặng tệ đến huyền cung trải lên minh tinh, còn những quan khác mang tráp đựng minh khí sách, tráp đựng thể sách, những vật ngự dụng hàng ngày, bàn đại thăng dư... đến bên sườn núi đốt cháy thành tro, rồi chôn trong cái hố đã đào sẵn.


Các hoàng thân, các quan vội vàng rút lui để nhường chỗ lại cho các bà. Trước đó, lúc đám tang từ giã bến đò để lên lăng thì các bà Hoàng mẫu hậu, Thái trưởng công chúa, nội cung, phủ thiếp (vợ các hoàng tử), mạng phụ đã lên trước chực sẵn ở điện Minh Thành và đợi khi cử hành lễ tấn tặng xong, các quan rút lui hết, các bà mới đến trước huyền cung làm lễ. Và lễ xong, trở vào tạm trú tại một ngôi nhà sau điện Minh Thành.


Người ta chụp lên trên tử cung một cái quách, rưới lên một lớp nhựa thông rồi đến lớp đá cuội.


Minh Mạng và các người tùy tùng vào điện Minh Thành làm lễ tịch điện.


Ngày 17, các quan dự sự sửa soạn lễ Sơ ngu gồm có tam sinh và hào soạn. Tấm lụa đã dùng để thắt thần bạch đem chôn trước điện Minh Thành. Minh Mạng thân hành bưng thần chủ được quan Khâm mạng đề trước đó đặt lên chiếc xe vua Gia Long thường dùng, còn thái giám mang kim sách và thể sách đặt hai bên thần chủ, xe kéo đến bến và rước lên thuyền. Lúc trở về kinh thành, cũng chính Minh Mạng tự tay bưng thần chủ đặt vào giữa điện Hoàng Nhơn và làm lễ an vị. Lễ an vị cử hành xong thì trên kỳ đài kéo lên lá cờ vàng và lệnh phát năm tiếng súng.


Sau khi tang lễ hoàn tất, Minh Mạng cử Duyệt làm chức tổng trấn Gia Định thành, tất cả các việc thăng giáng quan lại, dấy lợi trừ hại, công việc trong thành, mưu kế ngoài biên, đều được tiện nghi làm việc. Duyệt tâu rằng: “Trước kia tôi đi kinh lược Thanh Nghệ, có các nhân phạm Thanh Nghệ và Bắc Thành ra thú được miễn tội cho làm tiêu thuộc. Nay xin đem đi để sai phái”.


Mới nghe, Minh Mạng trong lòng ngờ vực, nhưng chợt nghĩ đến lời dạy của Trịnh Hoài Đức, phải biết dùng thuật chế ngự nhân thần. Mà cái thuật đó thì không ai bằng Hán Cao Tổ biết cách “điên đảo anh hùng”. Khi muốn lấy lòng Hàn Tín thì không ngần ngại phong cho Tín làm Sở vương, nhưng sau đó lại giả đi chơi Vân mộng, khi Tín ra đón tiếp thì bắt trói Tin để ở sau xe. Kế đó lại làm ơn tha Tín, nhưng giáng xuống làm Hoài Âm hầu, không cho giữ binh quyền. Khi dùng ân, khi lại dùng uy, có thế mớm nén được cái khí của nhân thần không để cho khinh nhờn lất át được mình. Minh Mạng cứ ưng cho lời yêu cầu của Duyệt, nhưng tự dặn mình phải hết sức đề phòng, nếu Duyệt có đem lòng kia khác sẽ kịp thời đối phó. Minh Mạng nhớ lại phụ hoàng mình cũng đã dùng thuật đó để chế ngự Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường. Ngay cả với Binh bộ thượng thư Lê Quang Định, khi biết Định cấp cho Lưu thủ Quảng Đức Nguyễn Công Hòa 20 tên lính để theo về thăm nhà, phụ hoàng mình cũng ra lệnh bắt trói Định, giao đình thần xét hỏi rồi mới tha cho, huống hồ đối với người khác.


 


III


Sau khi lên ngôi, suốt trong thời gian cư tang, Minh Mạng ở tại điện Quang Minh, mùng màn đều toàn vải trắng, dùng cung Tả phương để phê chiếu sớ cùng giải quyết những việc trọng đại trong nước. Lúc ngồi làm việc, Minh Mạng mặc khăn áo chế, còn các quan thì áo đen khăn trắng. Gặp việc quan trọng cần phải ra khỏi cung Tả phương, Minh Mạng vẫn đi lọng và cờ quạt, nhưng lọng trơn không thêu rồng.


Công việc đầu tiên của Minh Mạng sau khi lên ngôi là bắt tay vào cải tổ chính trị. Ở Việt Nam, cá nhân các vị hoàng đế thường cùng một lúc phải để mắt tới nhiều chính sách. Họ thiếu cả thời gian và thông tin để hoạch định những chính sách nhất là khi phải đi vào chi tiết. Họ phải giao quyền đó cho cấp dưới. Các cấp dưới nhào nặn lại các chính sách và cụ thể hóa chúng cho phù hợp với cơ sở. Lợi ích cá nhân, nhận thức về thực tế, việc cung cấp thông tin và những ý đồ riêng của các cấp dưới có thể làm sai lệch ý đồ của nhà vua, đặc biệt trong những thời tao loạn. Do đó có rất nhiều hoạt động trong bộ máy quan lại hoàn toàn xa rời những mục tiêu của nhà vua và của cả lớp đại thần cao nhất. Minh Mạng thấy mình đứng trước ba thế yếu: không đủ thời giờ lo hết việc trong nước, không đủ thông tin đáng tin cậy và không có mối quan hệ gần gũi với các làng xã. Từ tình hình đó sẽ tạo nên thế yếu thứ tư: cứng nhắc trong việc cai trị.


Thời Gia Long, các địa phương của nứơc ta do một tầng lớp quan chức cai trị. Ở Bắc thành và Gia Định đặt chức Tổng trấn và Phó Tổng trấn. Tổng trấn Bắc thành có Binh Tào, Hộ Tào, Hình Tào giúp việc. Ở các trấn, đứng đầu là Trấn thủ (Lưu Trấn), giúp việc có Cai bạ và Ký lục. Dưới trấn chia làm phủ, huyện,châu, đứng đầu là Tri phủ, Tri huyện, Tri châu.


Trách nhiệm của các quan chức là truyền đạt thông tin xuống dưới và có những khuyến nghị về hành động lên cấp trên. Những văn thư mà các viên Tổng trấn hai thành hoặc Trấn thủ các trấn gửi về Kinh được gọi là các bản Tấu, đó là nguồn thông tin duy nhất của Hoàng đế. Việc bổ nhiệm các quan chức ở các trấn cũng không do Hoàng đế lựa chọn.


Minh Mạng cho vời Thượng thư bộ Lại Trịnh Hoài Đức vào hỏi:


- Trước đây việc cắt đặt quan chức thường làm như thế?


Trịnh Hoài Đức Nói:


- Tâu bệ hạ, trước đây việc cắt đặt quan chức, quan văn do bộ Lại, quan võ do bộ Binh dâng sớ lên đề cử. Lúc vua ra ngự triều thì giao cho các đình thần bàn bạc ngay giữa triều đình. Các đại thần phần lớn nể nang lẫn nhau và cũng muốn dễ dàng gửi gắm người thân của mình vào làm các chức vụ,nên sớ của Thượng thư bộ Lại, bộ Binh rất nhanh chóng được chấp nhận, khi vua chuẩn tấu thì cứ thế thi hành, nên ở bên trong không tránh khỏi mờ ám tư túi.


Minh Mạng suy nghĩ một hồi rồi nói:


- Lời khanh rất phải. Nếu vậy trẫm sẽ đặt ra một phòng Văn thư, sai khắc ấn Quan phòng phòng Văn thư bằng đồng, giao cho thị thư nội hàn giữ. Khi nhận được sớ tâu của Thượng thư bộ Lại, bộ Binh trẫm sẽ không đem ra bàn bạc giữa triều, mà giao cho phòng Văn thư đóng dấu Quan phòng vào, lưu lại phòng Văn thư, để sau này phát giác ra việc bộ Lại, bộ Binh tiến cử sai lầm, sẽ truy cứu trách nhiệm. Mời các đình thần đến họp ở phòng Văn thư, viên quan nào có ý kiến như thế nào, cũng do phòng Văn thư ghi lại. Nếu a dua với Thượng thư bộ Lại, bộ Binh chấp thuận bậy bạ, khi phát giác ra cũng sẽ nghị tội. Tờ biên bản nghị sự cũng do phòng Văn thư đóng dấu Quan phòng lưu lại, làm bằng chứng về sau.


Minh Mạng bắt tay vào tổ chức phòng Văn thư.


Nhân sự của phòng Văn thư từ những quan chức cấp cao đến chức Hành tẩu, thường là những người đỗ đạt trong các kỳ thi ở các vùng được các quan ở các trường thi chọn ra. Họ làm việc theo phiên, sự thận trọng trong công việc là phẩm chất đạo đức để củng cố bộ máy quan lại. Phòng Văn thư được giao trách nhiệm đặc biệt: ký và xác nhận những báo cáo năm ngày một của bảy chi nhánh ngân khố trong phủ Hoàng gia (gọi là Nội vụ phủ). Nó lưu giữ các bản sao thứ hai về chỉ tiêu của bộ Hộ, các bản thứ nhất thì do bộ này lưu giữ. Minh Mạng cho họp triều thần thường xuyên bốn lần trong một tháng, tham dự có các quan ở Huế từ ngũ phẩm trở lên, ngoài ra còn có hai cuộc họp các đại thần trong tháng.


Minh Mạng ra triều dụ cho quần thần:


- Triều đình chọn người làm quan, hoặc lấy người có tư cách, hoặc lấy người có công lao, đều đem ra chỗ công bàn định cả, chứ có phải riêng tư mà dẫn dắt nhau được đâu.


Minh Mạng nhận thấy nhiều quan lại làm việc lâu năm mà không được thăng chức, bèn đặt ra điều lệ nghị định thi hành chuẩn định: Phàm ở trong triều ngoài quận, quan văn từ chánh tam phẩm, quan võ từ tòng nhị phẩm trở xuống, hiện ăn chức này đủ sáu năm, gọi là lương mãn. Quan quản lãnh bên trên xét người nào làm được như thế, thì cứ mỗi năm tháng xuân làm hai quyển sổ, bên văn có khoản Biện sự, bên võ có khoản Suất quân, gọi là sổ Hậu thăng, nếu không có Biện sự, Suất quân thì gọi là Hậu điền. Sổ này do bộ Lại bộ Binh hai bộ tâu dâng lên đợi lệnh cho thăng chức hay điều sang chức khác.


Minh Mạng lại nghĩ, bộ Lại bộ Binh đề cử người, vua chỉ bằng vào tờ tâu mà xét lý lịch thôi. Nay ông muốn trông thấy từng người một để xét riêng biệt mỗi người, sau đó mới chuẩn y. Do đó ông đặt lệ từ nay các thành, các doanh, các trấn, bên văn thì Hiệp trấn, Cai bạ, Ký lục, Tham hiệp; bên võ thì từ Thống quản 10 cơ cho đến Quản vệ, nếu có người được thăng hay điều, đều do bộ Lại bộ Binh dẫn đến bệ kiến, để vua đích thân sát hạch. Các chức Lang trung, Viên ngoại, Đốc học, Tri phủ, Đồng tri phủ và Tri huyện được thăng chức cũng phải như thế. Những viên quan làm việc ở địa phương, không phải hằng ngày vào chầu vua nên thường là vua không biết mặt. Nhưng sau khi có lệ này, Minh Mạng sẽ có thể nhìn thấy mặt những viên quan được thăng chức.


Minh Mạng yêu cầu các quan lại phải viết bản tự thuật về tư cách của mình khi đương nhiệm, coi đó là phần sơ bộ của tiến trình dẫn kiến. Những bản tự thuật đó được viết trên giấy hồng điều, được gọi là thủ bản. Trong thủ bản phải miêu thuật gia cảnh, những ghi nhận quan phương về tư cách, những khen thưởng và hình phạt đã tiếp thụ. Bản viết phải chính xác, phải tự tay viết, không được dùng lối viết đối chọi, tao nhã trong văn phong. Qua việc nhà vua đích thân đọc các thủ bản trước khi quyết định thăng hay điều, nên việc tiến cử tư túi mờ ám đã giảm bớt nhiều.


Minh Mạng ra triều dụ cho quần thần:


- Tiến cử được người hiền thì có thưởng, tiến cử người bất hiền thì có phạt, đó là lệ thường của nước. Nay triều đình liên danh tâu xin cử một người, mà người ấy hoặc không xứng với chức thì tội lỗi về ai: Người ta chia ra từng loại không giống nhau, quan văn có tài có hạnh thì quan võ khó mà biết được, quan võ có tài trí thì quan văn cũng chưa dễ mà biết được. Từ nay trở đi, bên văn do quan văn, bên võ do quan võ chuyên cử, ghi tên rồi hội lại dâng sớ lên, không được cử chung như trước.


Nay trẫm giao cho các khanh bàn định việc tuyển cử, nên quy định như thế nào?


Trịnh Hoài Đức xuất ban tâu:


- Tâu bệ hạ, theo ngu ý của thần, xin quy định: một là người thâm niên ăn lương mãn, hai là người tài nghệ có thể dùng được, đều được đề cử lên triều đình. Nếu sau này xét thấy quan văn tham tàn, quan võ khiếp nhược thì người để cử chịu tội.


Minh Mạng nói:


- Muốn cho có bằng cứ, nên ta ban cho các quan chức văn võ giữ việc cơ mật ở trong triều, ngoài quận một cái ấn quan phòng, đó là vật làm tin để phòng gian và nêu rõ danh nghĩa. Khi viên quan nào đang giữ chức vụ quan trọng, được cấp cho ấn quan phòng, khi dâng sớ đề cử ai, phải đóng ấn vào để giữ làm bằng. Khi viên quan nào được bổ sang chức khác, không liên quan đến chức cũ, thì nộp ấn về Bộ để đưa sang phòng Văn thư thu giữ.


Vua lại ủy cho Thượng thư bộ Lễ đưa người học giỏi nết tốt, sung vào viện Hàn lâm, ủy cho Thượng thư bộ Lại đưa quan chức vào Sử cục, lo việc chép sử. Sai đặt chức Tể tửu, Tư nghiệp trong nhà Quốc Tử Giám thay cho chức Đốc học, phó Đốc học trước đây. Lại đặt thêm một viên Kiêm lãnh Quốc Tử Giám sự vụ và chức Giám thừa, Điển bạ, Điển tịch trực thuộc. Lại đặt chức Học chính chuyên dạy học trò trong Tôn thất. Đặt chức Giáo thụ ở các phủ và chức Huấn đạo ở các huyện.


Thượng thư bộ Lễ Phạm Đăng Hưng xuất ban tâu:


- Tâu bệ hạ, theo ngu ý của thần, các hạt nên đặt chức Giáo thụ thì do đình thần lựa chọn cử, còn như chức Huấn đạo số lượng nhiều, xin cho ở kinh thì do quan từ tứ phẩm trở lên cử, ở bên ngoài thì do các quan địa phương cử những người mình biết sung làm.


Minh Mạng chuẩn y:


*


Thời Gia Long đã thiết lập 6 bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công nhưng vẫn theo chế độ phẩm trật, danh chức các quan chức dưới thời Lê, do đó quan đại thần đứng đầu các bộ và thuộc viên, gồm những chức sau: Thượng thư, Tham tri, Thiêm sự, Câu kê, Cai hợp, Thủ hợp. Ngoài ra, còn một số nhân viên sai phái gọi là Lệnh sử ty, Bổn ty.


Sau khi lên ngôi, Minh Mạng cho đặt thêm ở các bộ, các chức Lang trung, Chủ sự, Tư vụ, sau đó lại bỏ các chức Cai hợp và Thủ hợp. Những nhân viên trước giữ chức này, nay cho nhập vào ngạch thưlại mới đặt. Ít lâu sau, Minh Mạng đặt thêm chức Thị lang, bỏ chức Thiêm sự mà lấy Lang trung thay thế, rồi lại bỏ chức Câu kê, đặt thêm chức Viên ngoại lang.


Như vậy từ đây, các bộ sẽ gồm có các chức sau:Thượng thư, Tham tri, Thị lang, Lang trung, Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ, Thư lại. Ngoài số nhân viên chính thức kể trên còn những nhân viên ngoại ngạch, gồm một số cử nhân và giám sinh Quốc Tử Giám đã được tuyển lựa để đưa đến học tập chính sự tại các bộ thường gọi là Hành tẩu.


Minh Mạng xuống chiếu cho quan nhà Quốc Tử Giám tuyển các sĩ tử đậu cao lấy một trăm người bổ làm Giám sinh, lại xuống chiếu cho trong Nam ngoài Bắc được cống hiến học sinh, mỗi huyện đều một người, do quanTế tửu Tư nghiệp sát hạch thực tài, cho vào Quốc Tử Giám học tập. Khi gặp khoa thi Hội lại sát hạch cho vào thi. Nhân thế đặt ra khóa khảo bốn tháng trọng (tháng 2, tháng 5, tháng 8 và tháng 11), phân biệt cấp bậc mà cấp lương có khác nhau. Lại cấp thêm cho mũ áo lam, khi có tiết Đại Khánh đều được đi chiêm bái.


Khoa thi Hội năm ấy, ứng cử 164 người, quan Chủ khảo là Trịnh Hoài Đức lấy bọn Hà Quyền trúng cách 5 người. Vua cho là ít, bèn sai lấy thêm 3 người.


Sau vua thân ra điện Cần Chánh hỏi kỳ vấn đáp, cho Nguyễn Ý đậu đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, cho bọn Lê Quang, Hà Quyền bảy người đậu đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, mà đều cấp cho mũ áo, trâm hoa và ăn yến trong dinh bộ Lễ. Lại cho cờ biển để vinh quy, và sai dựng bia ở hai bên Văn miếu; bèn lấy đây làm thể lệ về sau.


Thời Gia Long chỉ có thi Hương mà không có thi Hội, nay vua định lệ ba năm một lần thi, thi Hương vào năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu; thi Hội vào năm Sửu, Thìn, Mùi, Tuất.


Tuy sức khỏe không được được dồi dào, nhưng Minh Mạng rất chăm chỉ công việc. Phàm những chương, sớ trong ngoài, vua đều xem hết, việc thường thì giao cho các nha nghĩ thảo ra lời chỉ phát đi, còn việc quan trọng thì phần nhiều tự vua soạn lời chỉ, hoặc giao bản thảo, hoặc châu phê. Những tờ chỉ dụ triều đình từ đây mới có châu bản(1).


Truyền bộ Hộ làm sách tổng cộng tiền lương, xét sổ ghi lúc thu và lúc phát, còn lại bao nhiêu, làm ra hai bản sổ, một bản dâng lên sở kinh diên, một bản dâng lên để vua xem rồi ban ra.


Vua thường thiết triều sớm, các triều thần nhiều người chưa đến. Vua dụ rằng: “Trẫm từ thuở lên ngôi đến nay, hằng muốn cùng các quan lớn nhỏ, mỗi sáng sớm bình minh, đã chăm lo việc triều chính. Các quan thể ý trẫm, để vua tôi cùng khích lệ nhau”.


Bắt đầu từ hôm nay đồng hồ chuyển sang ba giọt (từ 5 giờ sáng), tất cả các quan, văn từ Thiêm sự, võ từ Vệ úy trở lên, đều phải tập họp ở tả hữu vu để vào triều thị.


Buổi chiều đồng hồ chuyển sang tám giọt, cùng những ngày công đồng hội nghị, mỗi nha phải có một người ứng trực. Nếu trái lệnh sẽ bị can lỗi.


Gần đây có kẻ dâng sớ tâu khuyên trẫm, nên theo phép “cung kỷ vô vi”(1) của các đế vương xưa. Nhưng trẫm suy nghĩ không an tâm được, vì triều chính có rất nhiều việc mà chỉ ngồi rủ áo khoanh tay xưng là đời thái bình thinh tri, vô vi, trẫm không đành lòng.


Trịnh Hoài Đức tâu:


- Đời xưa vô vi, nhưng thực ra chữ đó chỉ là tượng trưng cho đời thái bình thịnh trị, chứ các đế vương xưa không vị nào vô vi cả, bởi vì lẽ dĩ nhiên việc thiên hạ phải có khó nhọc, mới được hưởng an nhàn, cho nên muốn vô vi thì trước hết phải hữu vi(2). Người dâng bản tâu này chưa thấu suốt được hết lý lẽ.


Minh Mạng lại đòi Hình bộ tham tri Ngô Đình Giới ra trước điện, và dụ rằng:


- Trẫm đang độ tuổi trẻ, còn sáng suốt về tinh thần, mạnh mẽ về sức lực, nên trẫm hằng chăm lo việc triều chính. Phàm việc gì cũng không muốn để chậm trễ, vì lẽ trước phải siêng năng sau mới được hưởng thụ. Sau này mỗi tuổi một khác, trẫm không biết rồi sau có còn được như thế nữa chăng?


Từ nay về sau, hễ bộ tiếp được các văn kiện xét xử của các địa phương và các bản án đại hình, phải tức khắc phiến tấu để trẫm phê duyệt, không được chậm trễ.


Vua cho Hình bộ tham tri trở về hàng, rồi nói với triều thần;


- Từ nay các Bộ làm việc thì việc phán đoán do các quan Thượng thư ngồi tại công đường xét định. Việc trị sự do các Tham tri và Thiêm sự vào triều đình trình bày sự việc, không được thiếu sót.


Minh Mạng ngừng một lát rồi lại nói:


- Trước nay chỗ triều đình bàn luận ở về phía tả Triều đường mà các nhân dân ở kinh đến khiếu khống cũng đệ đơn ở đấy, thì chả cũng hỗn độn lắm ư? Các ngươi cũng nên tham khảo điển lệ châm chước mà cải định lại để riêng biệt ra.


Triều đình bàn cho là đã gọi là Triều đường, mà lại đem phân ra gọi là bên tả bên hữu, tựa hồ chưa được thanh nhã. Nay cải tên là tả hữu Đãi lậu viện. Phàm gặp ngày chầu mừng thì các quan văn võ đều chiểu theo ban của mình mà nhất tề đến họp. Phía bên tả dùng làm chỗ hội nghị.


Còn như nhân dân, nếu có ai kiện tụng việc gì, tất phải có quan tư pháp lấy lẽ phân xử, xin dựng riêng ra gọi là Công chính đường, để làm chỗ nhận đơn hỏi kiện, mà lấy quan Đại lý tự trong viện Đô sát bộ Hình, sung vào làm ty Tam Pháp, cứ lấy ngày mồng sáu, mười sáu và hai mươi sáu trong mỗi tháng làm ngày thu đơn kiện, trước cửa đường treo một cái trống gọi là Đăng Văn, phàm các thần dân ai có tình trạng oan ức, bất thần đến đánh, tiếng trống kêu lên để quan trên biết, kẻ nào vu cáo thì phải chịu tội.


Minh Mạng theo như lời bàn. Tiếp đó lại nói:


- Làm chính có việc lớn nhỏ, mà trưởng quan với người thuộc viên phận sự cũng khác nhau, nếu có việc làm nhầm mà nhất loạt đem phân xử, sợ mất công bằng, các ngươi nên bàn liệt rõ từng điều tâu lên.


Đình thần bàn xong lại tâu lên một số quy định như sau:


Một là: Phải bàn việc nên chăng và mổ xẻ lẽ phải trái. Phàm việc do trưởng quan xét định mà thuộc viên theo đấy làm để đến lầm lỗi, thì trưởng quan là thủ phạm; người tá nhị hoặc thủ lãnh thì chiếu luật giảm tội, người không dự làm thì miễn nghị.


Hai là: Phải xét hỏi văn kiện điều tra kẻ làm việc ấy. Phàm việc nhầm lỗi do lại điển làm thì lại điển là thủ phạm, mà thủ lãnh, tá nhị và trưởng quan được theo thứ tự mà giảm tội; việc do thủ lãnh làm thì thủ lãnh là thủ phạm, thứ đến lại điển, thứ đến tá nhị, thứ nữa đến trưởng quan; việc do tá nhị làm thì tá nhị là thủ phạm, thứ đến lại điển, thứ đến thủ lãnh, thứ nữa đến trưởng quan.


Ba là: Kê cứu số mục và so sánh các tính danh. Sự biên viết có nhầm lỗi thì lại điển là thủ phạm, thủ lãnh và tá nhị chiếu luật được giảm tội nếu không dự vào việc ấy thì đều cùng với trưởng quan được miễn nghị.


Bốn là: Phân xử việc lầm lỗi. Phàm việc quan trọng do trưởng quan làm thì trưởng quan là thủ phạm, người dưới được theo thứ tự mà giảm tội; việc do lại điển làm, thì lại điển là thủ phạm, người trên cũng theo thứ tự mà giảm tội; việc do tá nhị làm thì tá nhị là thủ phạm, thứ đến thủ lãnh, thứ đến lại điển, thứ nữa đến trưởng quan; việc do thủ lãnh làm thì thủ lãnh là thủ phạm, thứ đến lại điển, thứ nữa đến tá nhị, thứ nữa đến trưởng quan.


Vua y theo.


Vua lại nói với đình thần:


- Trẫm hàng ngày muôn việc, những điều đau khổ của quân và dân đâu dễ biết được hết. Vì thế, giao cho các ngươi gánh vác làm tai mắt cho trẫm. Không những phán đoán việc ở bộ, nha, mà mọi việc đã biết thì không gì là không nói, ngõ hầu tình trạng của người dưới mới đến được tai trẫm.


*


Sau khi Minh Mạng giao cho các quan tiến cử những thuộc viên dưới quyền mình lên giữ các chức vụ, nhận thấy công việc ởcác nha sở chẳng những không tiến triển mà nạn tham nhũng, lộng quyền làm trái pháp luật vẫn liên tục xảy ra, ông biết rằng các quan phần lớn tiến cử những người thân thích hoặc vây cánh của mình vào các chức vụ để tăng thêm thế lực của mình. Ngoài việc do các quan tiến cử, kẻ sĩ muốn tiến thân chỉ có thể do con đường khoa mục. Khi sai quan đi coi việc chấm thi, ông đã căn dặn cần phải rất công minh, không được thiên tư, cốt sao chọn được người hiền tài ra giúp việc nước.


Tuy vậy vẫn có khó khăn, khoa cử là để chọn người có tài văn học, nhưng người có văn học chưa chắc đã giỏi về chính sự, khi làm việc cai trị, kém cỏi vụng về, hoặc lười biếng trễ nải, như vậy dù có tài văn học cũng không dùng được. Nhưng nếu chọn người nhanh nhẹn, thạo việc, thì lại e người đó tham nhũng ăn hối lộ, hoặc sách nhiễu dân, như vậy dân vẫn không yên.


Minh Mạng nghĩ ra một cách thứ ba là ngoài việc các quan tiến cử thuộc viên dưới quyền mình, và lựa chọn người bằng khoa cử, còn cho phép tiến dẫn những người hiền tài còn ở nơi thôn dã ra giúp việc nước. Ông ban tờ chiếu, đại lược nói:


“Kẻ hiền tài là đồ dùng của quốc gia, khi chưa gặp thời, náu mình ẩn giấu tông tích, thì vua chúa làm sao mà biết được, cho nên ngoài việc khoa cử ra, còn cần có người đề cử. Trẫm từ khi mới lên ngôi, gắng sức mưu đồ cho nước thịnh trị, rất muốn trong triều có nhiều kẻ sĩ đức hạnh tốt, mà không bỏ sót kẻ hiền tài nào ởnơi thôn dã, để tô điểm sự nghiệp nhà vua dùng tiếng âm nhạc mà hóa dân trị nước. Nay hạ lệnh ở kinh đô thì quan văn từ Tham tri, võ từ Phó Đô thống chế trở nên, ở ngoài thì các quan địa phương đều phải đề cử những người mình biết, không kể nhà nghèo hay thế gia, cần được người có thực tài để lượng xét sao lục ra dùng”.


Tờ chiếu ban ra, vẫn không thấy các quan tiến cử được người hiền tài nào. Vua lại xuống tờ chiếu rằng: “Trong ấp có mười nhà, tất có một người đức trung tín,sao cả một nước rộng, mà lại không kẻ sĩ nào có tài đức; hoặc là chưa tận tâm đi dò hỏi, mà kẻ hiền tài trở ngại không thông lên người trên biết chẳng cũng phụ cái ý cầu hiền của trẫm ư?”.


Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, muốn tìm người hiền mọi nơi, lượng xét tài năng bổ chức, bèn nghĩ rằng kẻ sĩ tài năng chìm đắm ở chức dưới còn nhiều ví bằng không cho đặc cách hướng dẫn, thì sao thông đạt lên được. Vậy từ nay các chuyên quản nhân viên, phàm người có văn học, đã thông kinh sử, viết lách tính toán tinh thông, võ có thao lược đầy đủ, kỹ nghệ am luyện, quả là người hiểu biết thực, tuy chưa dự hạng triều đình đề cử, cũng được xét cử do hai bộ Lại bộ Binh tâu lên.


Thượng thư bộ Lễ vào tâu Sử cục đã lập xong, nhưng còn thiếu quan chép sử. Minh Mạng nghĩ việc chép sử phải nhờ đến người có tài như Phạm Quý Thích mới đảm đương nổi. Nguyên Phạm Quý Thích đậu Tiến sĩ đời Lê, trước vua Gia Long triệu cho làm Thị trung học sĩ, lãnh chức Đốc học Bắc thành nhưng chẳng bao lâu cáo bệnh xin về. Phạm Quý Thích nghỉ việc đã lâu, nay nhân có việc làm quốc sử, Minh Mạng sai đem 30 lạng bạc, 10 tấm lụa, trưng dụng ông vào kinh để lo việc chép sử.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »