tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20757020
Tiểu thuyết
19.08.2011
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

Thấy vua Gia Long mạnh khỏe trở lại, Đảm cùng hoàng tộc và các quan đều lấy làm mừng. Nhưng chẳng bao lâu bệnh cũ lại phát, vua nằm liệt giường không trở dậy được.


Hoàng tử Đảm cùng các con em và quan đại thần thường thường túc trực ở trong cung cấm hầu thuốc thang, thăm hỏi lúc ăn uống thức ngủ. Lúc bấy giờ mưa lụt, Đảm xông pha lội nước vào cung cấm, ngày đêm khăn áo không dám cởi, quên ăn bỏ ngủ, mỏi quá thì dựa vào cột tạm ngủ. Một hôm, Đảm đang dựa vào cột ngủ thì Trung sứ đến nói có lệnh vua vời vào hầu. Đảm lật đật vào thì thấy Gia Long người chỉ còn da bọc xương, mặt vàng như sáp, vẫy Đảm đến bên giường ngự và phán:


- Nay ta biết bệnh không qua khỏi, trong giờ khắc hấp hối, ta trối lại với con hai điều:


Một là bảo đảm thường xuyên một đội lính gác 50 tên để chăm nom lăng mộ Đức cha Bi - nhu quận công.


Hai là không được khủng bố những người theo một trong ba đạo đang lưu hành trong nước: Nho, Phật và Gia Tô vì việc cấm đạo bao giờ cũng tạo cơ hội cho những cuộc biến động và gây thù oán trong dân gian lại thường khi làm sụp đổ ngôi vua.


Hoàng tử Đảm biết rằng sở dĩ Gia Long trối lại như thế vì biết trong số hoàng thân, đại thần hầu chung quanh có người thân Pháp, nhưng vẫn kínhcẩn nói:


- Con xin ghi lời phụ hoàng căn dặn.


Ngày mồng 6 tháng Chạp năm Kỷ Hợi (20.1.1820), bệnh tình của vua trở nên trầm trọng, liền cho mời hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm, các hoàng thân, hoàng tử cùng các vị đại thần Lê Văn Duyệt, Phạm Đăng Hưng vào chầu, để đi chiếu lại cho hoàng tử Đảm nối ngôi, cầm quyền trị nước.


Ngày 19 tháng Chạp (3.2.1820) vua băng hà tại điện Trung Hòa.


Vào lúc đó, bộ luật lễ nghi do Trịnh Hoài Đức và Phạm Đăng Hưng thảo ra cũng đã hoàn thành. Hoàng tử Đảm liền bắt mọi người chiếu theo đó để lo việc khâm liệm và an táng phụ hoàng theo nghi thức trọng thể chưa từng có ở đất nước này. Khi Trịnh Hoài Đức sang sứ nhà Thanh đã tìm hiểu về nghi lễ an táng vua Càn Long để tham khảo, lại chiếu theo mục Lễ nghi chí trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí mà Phan Huy Chú mới dâng lên, để nghĩ định, cố sao cho vượt xa phép của nhà Lê.


*


Khi các ngự y đều tuyệt vọng, các viên quan dự sự mang long sàng ra đặt giữa chính diện, quay đầu về hướng đông để người chết hưởng sinh khí. Lễ này gọi là “Thiên chính tẩm” (dời chỗ nằm chính thức).


Mặc dù trước đó, vua đã gọi các viên đại thần vào chầu, để di chiếu và di chúc cho Hoàng tử Đảm nối ngôi và đã dặn dò mọi việc, nhưng trong giờ phút này âm dương cách biệt, các hoàng thân, đại thần chiếu theo nghi lễ, vẫn hỏi xem có trối trăng điều gì để chép lại. Vì quá nhọc mệt nên vua chỉ lắc đầu chứ không nói gì cả, hơi thở yếu dần. Những kẻ hầu cận mang quần áo mới đến thay cho vua rồi đặt bông lên mũi để biết rõ lúc nào ngừng thở hẳn. Một đôi đũa ngọc được đặt ngang miệng giữa hàm răng của người chết khiến hàm xai không thể ngậm chặt lại, gây khó khăn cho việc làm Lễ Phạn hàm tức là lễ bỏ những viên ngọc vào miệng vua.


Lúc bấy giờ tuy vua đã ngừng thở nhưng hơi ấm vẫn còn. Các quan mới rước xuống nằm giữa nền nhà trên chiếu kế vàng với hy vọng nhờ hơi đất có thể hồi sinh được.


Đó chỉ là một hành động theo lễ chứ không một ai nghĩ rằng vua có thể sống lại. Những người có nhiệm vụ trông coi việc khâm liệm áp lên ngực vua một tấm lụa trắng dài bảy thước gấp lại thành những khổ ngắn để lúc hồn thoát khỏi xác thì nhập vào. Lụa thắt thành thần bạch tức là hình nhân có đầu và hai tay hai chân. Trong lúc chưa có thần chủ, hồn nương tựa vào thần bạch.


Người ta dùng nước ngũ vị hương để tắm gội cho vua, xong mặc vào một bộ áo đại triều: mũ cửu long, áo hoàng bào, đai ngọc, chân đi hia, tay cầm ngọc trấn khuê như lúc dự những buổi thiết triều quan trọng.


Qua này hôm sau, vào giờ Thìn thì cử hành lễ tiểu liệm. Một chiếc giường đặt tại hướng tây của ngự tẩm trên đó trải chiếu hoa và lót nệm. Thi thể vua được mang sang chiếc giường này. Trên giường đã trải sẵn một dung lụa dài mười bốn thước, ba đoạn lụa khác, mỗi đoạn dài sáu thước, nằm vắt lên trên. Các đầu lụa đều xé làm ba để tiện việc buộc lại sau khi đã bó chặt xác chết. Tiếp theo lễ tiểu liệm là lễ đại liệm. Một chiếc giường đặt tại hướng đông ngự tẩm, cũng trải nệm và chiếu hoa, trên ấy cũng có những dung lụa như tiểu liệm. Chỉ khác một điều là năm khổ lụa trải ngang chứ không phải như ở tiểu liệm.


Ngoài những dung lụa của tiểu liệm, còn có chăn liệm, chữ gọi là “khâm” bó ra ngoài: lại còn tạ quan, tức thứ hàng lụa bọc ra ngoài trước khi bỏ thi hài vào tử cung.


Trong lúc cử hành lễ tiểu liệm và đại liệm, trên bàn thờ ngoài hương đèn trầm trà, còn có heo xôi để cúng người chết.


Khi thi thể của vua được đặt vào tử cung rồi, giờ mùi, thái giám hướng dẫn các quan văn võ trong triều từ nhị phẩm trở lên vào dự lễ. Hoàng tử Đảm khóc lạy hai lạy. Sau lưng ông có các hoàng thân, hoàng tử, đại thần, tôn tước, theo phẩm trật đến lạy trước tử cung. Các bà nội cung lần đầu tiên rời khỏi nơi cung cấm ra một nơi đông đảo để khóc lạy vua đã mất.


Kể từ ngày 21, nghĩa là sau hai hôm, ngày nào cũng có lễ triêu điện,tịch điện mỗi lần hai mâm hào soạn.


Ngày 22 tháng Chạp, Hoàng tử Đảm phái hoàng tử Kiến An, con thứ năm của Gia Long vào điện Hoàng Nhơn cáo bà Thừa Thiên Cao hoàng hậu (Tống thị) biết, xin phép dời linh vị của bà qua gian nhà phía bên hữu để đến ngày 24 tiện việc đưa tử cung của Gia Long vào gian giữa điện này.


Ngày 25 làm lễ thành phục, ngày 26. Hoàng tử Đảm vào điện Hoàng Nhơn khóc lạy và nhận di chiếu. Đình thần chọn ngày mồng một tháng giêng năm Canh Thìn (14.2.1820) làm lễ đăng quang tại điện Thái Hòa, đặt niên hiệu Minh Mạng, ban ân chiếu trong nước. Ngoài ra lại phái người cáo tri cho các nước lân bang.


 


II


Điện Thái Hòa xây theo kiểu “trùng thiềm điệp ốc”, nhà trước và nhà sau nằm trên cùng một mặt nền và nối lại với nhau bằng một hệ thống vì kèo thứ ba, nho nhỏ xinh xinh, đỡ một hệ thống trần được uốn cong lên như hình mai cua, gọi là trần vỏ cua. Bên trên trần này không có mái mà chỉ có một cái máng xối rất lớn bằng đồng dùng để hứng nước mưa từ mái sau nhà trước và mái trước nhà sau đổ xuống, gọi là trần nhà thừa lưu. Cái máng xối nhận nước, dẫn ra đầu máng rồi cho chảy xuống mái hạ hai miệng rồng đắp nổi như đang phun nước.


Hệ thống vì kèo nóc nhà sau tương đối đơn giản, chỉ làm theo kiểu “chồng rường - giá chiêng”, nhưng hệ thống vì kèo nóc nhà trước thì thuộc loại vì kèo “chồng rường - giá thủ” được cấu trúc tinh xảo. Toàn bộ các hệ thống vì kèo, rường cột, xuyên trên đầu liên kết với nhau một cách chặt chẽ bằng hệ thống mộng mẹo chắc chắn. Mái điện lợp ngói hoàng lưu ly chia ra làm ba tầng chồng mí lên nhau theo thứ tự từ cao xuống thấp, gọi là mái “chồng diêm” hoặc “trùng thiềm”. Dải cổ diêm được phân khoảng ra thành từng ô hộc để trang trí hình vẽ và thơ văn trên những miếng đồng tráng men nhiều màu gọi là “pháp lam” theo lối “nhất thi nhất họa”. Nóc điện, bờ mái đều chắp hình rồng theo kiểu lưỡng long triều nguyệt và hồi long. Giữa nóc tiền điện có trang trí bầu rượu bằng pháp lam. Những hàng cột hiên đắp bằng gạch và vôi vữa với đường kính thu nhỏ được cắm chân xuống mặt sân.


Ngôi nhà chính ở phần sau là chính điện có năm gian hai chái, ngôi nhà phụ ở trước gọi là tiền điện có bảy gian hai chái. Ở giữa tiền điện gần trên mái có treo tấm biển sơn son thếp vàng để ba chữ “Thái Hòa Điện” rất lớn, bên cạnh có ghi hàng chữ nhỏ nói đến năm xây dựng đầu tiên. Trần vỏ cua hạ thấp xuống như một giới hạn ngăn cách phần ngoài và phần trong của nội thất, tạo ra vẻ thâm nghiêm của chính diện, tại đó có thiết trí ngai vàng đặt trên ba tầng bệ. Phía trên ngai treo bửu tán bằng pháp lam trang trí hình cửu long, chung quanh còn rủ các lớp diềm bằng gỗ chạm lộng hình chín con rồng thếp vàng chói lọi. Phía trước ngai vua có đặt một cái bàn khảm cẩn xà cừ và ở phía sau có treo một bức trướng lớn thêu hình viên long. Trên trần gỗ ở mỗi lòng căn đều có treo lồng đèn gương lục giác hay bát giác.


Những dãy đố bản dựng lên ở sau lưng ngai vàng và ở phần tiếp giáp hai chái, tạo ra một hệ thống hành lang chạy quanh cả ba mặt của ngôi điện. Bên trên các dãy đố bản ấy cũng như khắp các mặt của hệ thống liên ba đều trang trí thơ văn và hình ảnh cách điệu theo lối “nhất thi nhất họa”. Tám mươi cột gỗ lim khá lớn ở nội thất được vẽ hình rồng đoanh, vờn cùng mây cụm trên sóng nước, gọi là “long vân thủy ba” vàng son rực rỡ.


Trước điện có sân chầu gọi là bái đình, chia làm 3 tầng, 2 tầng trên lát đá Thanh, tầng dưới lát gạch. Ở tầng trên có thiết trí một hàng chậu sành trồng cây cảnh đặt trên những chiếc đôn bằng đá chạm. Ở hai bên tầng dưới có 2 con nghê bằng đồng đứng quay đầu vào điện.


Chung quanh và trước mặt điện Thái Hòa, ra tận ngoài cầu Kim Thủy, hữu ty thiết đại triều nghi.


Quân quân y phục tề chỉnh, cờ xí đủ các loại, tàn lọng, binh khí, phủ việt, mao tiết, đề lô(1), phất trần, ngoài ta còn có một đội lính nhạc.


Trong điện thì sắp sẵn những cái bàn phủ lụa vàng gọi là “hoàng án” trên đó để những cái tráp đụng di chiếu, đựng ấn truyền quốc bửu tỷ và hộp son, tráp đựng kim sách, đạo cáo, chiếu văn, tráp đựng cổn miện ngự phục.


Đầu canh năm, sau khi ba hồi trống báo nghiêm chấm dứt, trên kỳ đài kéo lên một lá cờ vàng rất lớn.


Các hoàng tử, hoàng thân, tôn nhơn, văn võ đình thần mặc lễ phục theo phẩm trật lớn nhỏ sắp hàng tề chỉnh. Các hoàng thân đứng ở trên điện, còn bá quan đứng dưới điện trước sân chầu.


Vua Minh Mạng đội mũ cửu long, mặc hoàng bào, mang đai ngọc, chân đi hia, ngồi trên ngai điện Cần Chánh. Hữu ty sửa soạn xa giá và rước lên kiệu. Trước sau đều có nội thần, quân lính theo hộ tống. Ra đến điện Thái Hòa mới xuống kiệu. Hai nhà ở tả hữu của Đại cung môn chuông trống nổi lên. Từ điện Càn Nguyên phát ra chín tiếng lệnh, vua bước lên chín bậc của tầng bậc dưới và năm cấp của tầng bệ trên thềm điện tượng trưng cho ngôi “cửu ngũ” rồi ngồi lên ngai đặt chính giữa điện. Nội giám đốt hương trầm, các quan lạy năm lạy kim sách và hạ biểu (biểu mừng của bá quan). Kim sách và hạ biểu đều do một viên quan đọc lên và các quan quỳ để nghe. Đọc xong đều bỏ vào tráp đặt lại trên hoàng án. Kế đến một viên quan khác ra quỳ trước ngai vàng, tâu xin vua lần đầu tiên sử dụng ấn ngọc truyền quốc, tượng trưng cho quân quyền. Một vị quan khác lại tâu xin vua truyền chiếu chỉ. Chiếu chỉ này được một viên quan đọc lên. Sau đó công bố để thần dân trong nước biết về lễ đăng quang.


Bản chiếu văn do quan bộ Lễ bỏ vào tráp, rồi tàn lọng che, quân lính cầm gươm theo hầu, từ Đại Nội ra cửa Quảng Đức đến Phu Văn Lâu niêm yết.


Một viên nội thần tâu xin phép vua bắn chín tiếng đại bác chào mừng. Để kết thúc buổi lễ, một viên quan tâu “Lễ thành”. Vua lên xa giá trở về điện Cần Chánh.


Bá quan theo chầu, đứng cả trước sân điện để lạy mừng năm lạy. Lần này ngoài văn võ bá quan ra, còn thấy một số người trong hoàng tộc cùng các cậu con quan đã được tập ấm(1) ra sắp hàng lạy mừng năm lạy.


Sau khi buổi lễ chấm dứt, ngoài việc dán chiếu văn tại Phu Văn Lâu bộ Lại còn có nhiệm vụ gửi khắp các tỉnh để mọi người đều biết.


Mở đầu bài bố cáo nói đến sự quan trọng trong việc lựa chọn người kế vị để thờ phụng tôn miếu xã tắc. Tiếp đến ca tụng công đức của vua cha võ công hiển hách tạo lập cơ đồ, củng cố ngôi báu, ân huệ thấm nhuần trăm họ, tại vị 18 năm, ân cần lo lắng công đức sánh tầy trời đất. Không ngờ cõi hạc xa chơi để đau buồn cho cả non sông cây cỏ.


Sau đó, vua Minh Mạng bày tỏ nỗi lo âu tài hèn đức bạc mà phải gánh vác nhiệm vụ nặng nề.


Đó không phải là những lời khiêm tốn theo lối hành văn ước lệ dùng nhiều sáo ngữ như trước đây, mà quả thật vua Minh Mạng cảm thấy nhiệm vụ nặng quá sức mình.


Đầu tiên là việc đối xử với những “công thần trung hưng” như Lê Văn Duyệt.


Sau khi vua Gia Long lên ngôi hoàng đế, công việc kiến quốc còn ngổn ngang nên trong mấy năm đầu triều nghi còn giản dị. Nhưng sau khi quan Thượng thư bộ Lễ Trịnh Hoài Đức đi sứ bên Trung Hoa về thì các chi tiết về triều nghi đều phỏng theo kiểu của triều Thanh. Đi sứ về, Trịnh có mang về dâng lên vua một cái áo long bào may theo kiểu của Mãn Thanh.


Lần đầu tiên, Lê Văn Duyệt vào chầu và cũng lần đầu tiên vua Gia Long mặc áo long bào kiểu mới ngự trên ngai để các quan văn võ vào triều bái. Theo thứ tự các quan văn quan võ vào chầu mỗi vị lạy vua năm lạy trước sân chầu rồi phân ra đứng hai bên ngai vua trong điện Thái Hòa. Đến phiên Lê Văn Duyệt thì chẳng những ông không lạy năm lạy ngoài sân chầu mà còn đi thẳng vào diện Thái Hòa lại gần ngai vua dựa vào tay ngai mà nói chuyện thân mật với vua như trước đây vậy. Thấy thế Thượng thư bộ Lễ Trịnh Hoài Đức bèn rón rén đi nhón gót lìa hàng của mình lại gần sau lưng Duyệt kéo áo ông mà khẽ biểu ông ra sân chầu bái mạng.


Duyệt cả giận bèn lấy tay hất mạnh tay quan Thượng thư bộ Lễ mà nói lớn lên rằng: “Ngươi là đứa phùng nghinh. Ai có nịnh thì lạy. Ta không nịnh, ta không lạy”.


Sau đó Trịnh Hoài Đức tâu vua Gia Long nên viện cái lệ đối xử với các vị công thần khai quốc và trung hưng trước đây, ban cho Duyệt một ghế ngồi nhưng không ở sát gần ngai vua mà ở về bên tả điện. Được cái là Duyệt vào trấn ở Gia Định chỉ năm thì mười họa mới về chầu vua nên sự đặt ghế ấy cũng không lấy gì làm quan trọng cho lắm.


Thứ hai là việc đối xử với những người Pháp.


Trước đây vua Gia Long đã có lệ, cho bốn người Pháp: Philippe Vannier, tên Việt là Nguyễn Văn Chấn, chức Khâm sai chưởng cơ, tước Chấn oai hầu, Jean Baptiste Chaigneau, tên Việt là Nguyễn Văn Thắng, chức Chưởng cơ, tước Thắng toàn hầu, De Forçant, tên Việt là Lê Văn Lăng, chức Chưởng cơ, Victor Olivier de Puymanuel, tên Việt là Tín, chức Vệ úy Vệ ban trực hậu quân Thần Sách, chỉ những buổi đại triều mới phải có mặt, nhưng được đứng ở bên hữu điện chứ không phải lạy dưới sân chầu. Hiện nay, De Forçant và Olivier đã chết, Chaigneau xin về Pháp nghỉ, chỉ còn lại Vannier.


Trong buổi lễ đăng quang của Minh Mạng, khi thông tán xưởng “Cúc cung bái”, các quan đều lạy, khi xướng “Bá quan giai quỵ” các quan đều quỳ cả xuống.


Vannier theo lệ cũ, chỉ bỏ mũ ra giơ trong tay và cúi đầu chào vua. Minh Mạng thấy cảnh đó rất chướng mắt, thầm nghĩ, khi mình lên làm vua thì không thể để như thế được.


Minh Mạng lại nghĩ, phụ hoàng mình cũng là vị vua sáng nghiệp như Hán Cao tổ Lưu Bang. Lưu Bang khi khởi binh ở đất Bái, chỉ là một viên đình trưởng, đối với các tướng thân mật như anh em, mọi người gọi ông là Lưu Tam có nghĩa “Anh Ba Lưu”. Sau khi Lưu Bang thắng Hạng Võ, tế Trời lên ngôi vua, không cử hành lễ triều hạ, cho nên đám anh em cùng ông tạo phản đoạt thiên hạ, vẫn coi hoàng đế như đầu lĩnh “Lưu Tam đại ca”. Khi hoàng đế chủ trì triệu tập hội nghị quốc vụ, những quan được phong thượng thư, đại tướng, người nào người nấy uy phong lẫm lẫm, uống rượu, cãi nhau, kêu la ầm ỹ, mượn cớ say giả điên làm tàng, rút kiếm ra chém bể bàn ghế của phòng họp quốc vụ… Hiện tượng đó kéo dài hơn một năm, Lưu Bang cũng chán ghét. Do đó có người ở Sơn Đông tên Thúc Tôn Thông tự nguyện đến, biên soạn một bộ nghi thức triều hạ hoàng đế, trước tiên do ông ta chiêu mộ học sinh đến diễn tập thành thục, lại mở lớp dạy, để tất cả các quan chức đều tiếp thụ bồi dưỡng huấn luyện.


Cuối cùng cuộc tập huấn nghi thức triều hạ được chính thức cử hành ở cung Trường lạc mới lạc thành. Hôm đó trời còn chưa sáng, bá quan từ sớm đã đến tập hợp trước cửa cung đều theo trật tự xếp hàng nghiêm chỉnh, do lễ quan dẫn vào đại sảnh, đứng ở phía đông, mặt chầu về phía tây, bên cạnh đều có vệ sĩ toàn thân vũ trang đứng kèm thúc không cho nói năng cử động bừa bãi. Trong khi mọi người im bặt, xa xa truyền đến tiếng thét hoàng đế ngự giá tới, tiếng này tiếp tiếng khác, từ xa đến gần. Đợi đến khi hoàng đế ngồi lên ngai vàng, mọi người cùng hành lễ quỳ lạy, rồi dựa theo đẳng cấp cao thấp, luân phiên nâng chén kính chúc hoàng thượng trường thọ. Lễ quan truyền: “Bãi tửu” thì không ai dám uống một giọt: nếu ai có động tác phạm vào quy củ, lập tức bị viên giám sát bắt giải đi. Toàn thể nghi thức trong quá trình cử hành, mọi người nghiêm túc cung kính, không nghe một tiếng ồn ào, không thấy có một chút thất thố. Lưu Bang cao hứng nói: “Ta đến hôm nay mới biết làm hoàng đế là tôn quý! Lập tức cử Thúc Tôn Thông làm Thái thường coi việc điển lễ Hoàng gia, ban cho 500 cân vàng.


Việc Trịnh Hoài Đức định ra nghi thức điển lễ để phân biệt tôn ti trật tự triều đình chẳng khác gì việc của Thúc Tôn Thông ngày trước. Khi Trịnh Hoài Đức đi sứ nhà Thanh về, Minh Mạng hỏi chuyện được biết khi sứ thần Anh cát lợi vào triều, không chịu làm lễ khấu đầu quỳ lạy, vua Gia Khánh không chịu tiếp. Minh Mạng lại hỏi Trần Văn Học được biết Nã phá luân đệ nhất đã bình luận chuyện găng trì về lễ khấu đầu này như sau: “Hoàng đế Trung Quốc có quyền được người khấu đầu, Anh quốc nên ra lệnh cho sứ thần của mình phục tùng thỉnh cầu khấu đầu đồng thời yêu cầu đại sứ Trung Quốc khi đến Luân Đôn cũng tuân hành nghi lễ nước Anh. Vào nước lạ hỏi điều cấm đoán, là lẽ đương nhiên. Hành lễ trước vua nước khác, theo tục của họ, cũng không tổn hại đến tôn dung”. Đến đại đế nước Phú Lang Sa còn nói như vậy, huống hồ mấy người Phú sang đây ngày trước không phải sứ thần mà chỉ là thần hạ nước ta, lại không chịu khấu đầu trước hoàng đế nước Đại Nam hay sao?


Minh Mạng có ý định báo cho Vannier biết, từ nay miễn cho ông ta việc vào dự đại triều, nếu ông ta thấy mình đối xử lạnh nhạt, chán nản bỏ về Pháp thì càng hay, đỡ lo sinh hậu hoạn.


Buổi lễ xong, Trịnh Hoài Đức hỏi Thượng thư bộ Lễ Phạm Đăng Hưng:


- Ngài thấy buổi lễ hôm nay như thế nào?


Phạm Đăng Hưng nói:


- Bẩm quan huynh, cũng nhờ trước đây quan huynh ngồi bộ Lễ đã định ra lễ nghi chỉnh tề, nay lại bổ sung cho đầy đủ, chúng tôi cứ theo đó mà làm nên lễ mới thành công viên mãn như vậy.


- Cũng vì trước đây quan Tả quân trách tôi, nên tôi mới tên vua để cho ông ấy được ngồi ghế mà không phải lạy. Nhưng tôi để ý trong buổi lễ hôm nay, khi thấy quan Tả quân và ông Chấn - chỉ cúi đầu chào, nét mặt nhà vua lộ ra vẻ không hài lòng. Sau khi Nguyễn Văn Thành chết thì Tả quân tâu xin tiên đế cho mình vào làm Tổng trấn Gia Định thành. Biết nếu xử không khéo có thể xảy ra đổ vỡ nguy hiểm, nên tiên đế buộc lòng phải cho Tả quân vào trấn đất Gia Định, nhưng lại sợ vạn nhứt Người thăng hà, Tả quân đang cầm trọng binh ở ngoài cõi, sẽ có chuyện không hay cho tân quân, nên nhân khi Tả quân vào triều, Người đã vời Tả quân và quan huynh vào nội điện, giao di chiếu và ân cần dạy Tả quân phò tân quân, lại giao cho Tả quân kiêm lĩnh cả năm dinh quân Thần Sách để tỏ lòng tin cậy. Trong tình thế này quan huynh cũng nên khuyên nhà vua, nếu không bằng lòng Tả quân cũng cố chịu đựng, đừng để xảy ra chuyện bạo loạn trong khi nhà vua mới lên ngôi.


Phạm Đăng Hưng cho là phải liền vào điện tâu với vua Minh Mạng.


Vua Minh Mạng thấy mình phải bỏ biềm riêng, lấy vịêc nước làm trọng, nên chuẩn y lời tâu của Phạm Đăng Hưng.


Đứng phía sau huyệt mộ nhìn thẳng ra trước và hơi xa một chút, vua thấy núi Thiên Thọ hình dẹp trên chóp và triền núi thông mọc thưa thớt. Hai trụ biểu xây bằng vôi gạch dựng hai bên như dùng để định rõ giới hạn giữa cảnh lăng tẩm uy nghiêm trầm mặc với khoảng trời đất bao la.


Trên đường trở về, vua đi qua một khu rừng trồng thông, mít, chè mới trồng thì đến một khu rừng rậm. Bất đồ một con hổ cái từ trong rừng xông ra, gầm thét dữ tợn. Thái hậu thấy hổ thì mặt mày xanh xám, run bắn người lên vì sợ hãi. Minh Mạng bình tĩnh, giật lấy súng từ một quan hầu, nhằm bắn chết con hổ cái, và sai quân vào bắt hổ con mang về nuôi. Khẩu súng ấy mệnh danh là “sát hổ”. Vì trước đó Minh Mạng đã một lần dùng khẩu này để bắn chết một con hổ dữ, từng làm nhiều dân làng bị chết và bị thương.


Hôm sau, vua sai quân lính vây quanh cả vùng núi Thiên Thọ để bắt thú dữ. Kết quả 2 con hổ và 5 con nai bị sa lưới.


Minh Mạng lại lấy lòng Duyệt, vời Duyệt vào an ủi và cử Duyệt làm Tổng bộ sứ trong coi toàn bộ lễ tang vua Gia Long, theo nghi thức đã định, Phụ tá cho Lê Văn Duyệt có Lê Chất, Nguyễn Văn Nhơn và Nguyễn Đức Xuyên. Tôn Thất Bình sung chức Phù luyện có Tôn Thất Định phụ tá. Tống Phúc Lương giữ chức Sơn lăng sứ có Nguyễn Xuân Phục phụ tá. Trương Tấn Bửu, Nguyễn Văn Vận, Nguyễn Văn Trí và Mai Văn Tánh chỉ huy hai đạo quân tả hữu theo hầu đám tang.


Lê Văn Duyệt mặc nhung phục đầu bịt khăn trắng cùng các võ quan điều khiển tang lễ. Dư quân(1) gánh đại thăng dư(2) vào đặt tại chính giữa lô điện(3) xây về hướng nam, đoạn đứng hầu chờ mệnh lệnh.


Một viên quan bộ Lễ lạy trước tử cung xin phép khiêng ra đặt vào bàn đại thăng dư. Các hoàng thân đã được phong tước cầm minh tinh, thần bạch, thần chủ thành vị và linh toạ. Nội giám bưng các tráp kim sách, thụy sách và các vật của vua Gia Long thường dùng hàng ngày.


Dư quân vào trước sân điện lạy bốn lạy chia thành hai toán tả hữu bước lên thềm trong khi ấy những người dự sự cất hết những tấm màn vàng bao phủ chung quanh tử cung. Dư quân gánh tử cung đầu quay về hướng nam đem ra đặt lên đại thăng dư. Lúc bấy giờ người ta phủ lên tử cung một tấm màng điểm hoa. Linh tọa của vua Gia Long gánh ra đặt trước đại thăng dư và cũng quay về hướng nam. Thần bạch đặt ở giữa, phía sau thần chủ thánh vị, hai bên kim sách, minh tinh cùng các thứ ngự dụng.


Giờ Mão ngày 13 tháng tư (24-5-1828), một vị đại thần bộ Lễ lạy trước tử cung xin long giá(1) khởi hành.


Đám tang theo thứ tự đã hoạch định sẵn từ từ lên đường. Dư quân miệng ngậm thẻ, từ cửa Hoàng Nhơn đưa ra khỏi hoàng thành rồi do cửa Thể Nhơn ra ngoài kinh thành. Minh Mạng mặc tang phục xổ trôn đi chân không theo hầu đại thăng dư, một số hoàng thân và bá quan hộ tùng.


Đám tang ra khỏi kinh thành thì một lá cờ trắng kéo lên kỳ đài, lệnh phát chín tiếng. Hoàng mẫu hậu, các công chúa, vợ các hoàng thân hoàng điệt, các bà mạng phụ trong màn vải, do một con đường khác ít đông đúc, đến trước chực sẵn ở bến đò.


Tại đây đã dựng sẵn lô điện. Đám tang lúc đến tạm đặt ngay giữa lô điện để nghỉ ngơi trong chốc lát. Một viên quan bộ Lễ quỳ tâu rước long giá xuống thuyền. Một quan khác quỳ tâu để rước thần bạch. Thế rồi các quan lần lượt chuyển vận tất cả xuống thuyền sắp đặt tề chỉnh.


Ngày 14 từ sáng sớm, quan Tổng bộ sứ lại ra lệnh khởi hành, chiếu theo một đồ bản đã vạch sẵn. Các đình chùa, miếu vũ các nơi quang đãng, của các làng xã nằm dọc theo bờ sông, đều đặt hương án, hai bên che lọng đen thắp nến, đốt hương trầm, lúc thuyền đám chèo ngang qua, các nhà sư tụng kinh gõ mõ, các hương chức quỳ xuống lạy bốn lạy để tiễn đưa.


Chiều ngày 15, đám tang đến bên lăng Thiên Thọ. Suốt cả đêm, đèn đuốc sáng rực cả một vùng.


Giờ Mão ngày 16, quan Khâm thiên tuyên bố giờ lành. Quan đại thần bộ Lễ quỳ tâu rước long giá lên bộ. Quan Tổng bộ sứ điều khiển mấy người dự sự và dư quân, theo trật tự đã ghi trong đồ bản mà khởi hành. Đường lên núi mỗi lúc một khó khăn, nhưng dư quân đã dày công luyện tập nên tử cung vẫn thăng bằng không mảy may dao động.


Minh Mạng đi trên một cỗ xe kéo cùng với các hoàng thân, các đại thần hộ tùng theo hầu sau bàn đại thăng dư. Đại thăng dư gánh đến trước điện Minh Thành lên tam cấp, đem đặt vào giữa lô điện, đầu xây về hướng nam. Một viên quan bộ Lễ quỳ tâu với thần bạch xin rước lên điện Minh Thành. Chiếc xe kéo thần bạch đến tam cấp điện thờ thì ngừng lại. Viên quan bộ Lễ lại quỳ, xin rước thần bạch xuống xe để đem đặt lên thần tọa. Việc bưng thần bạch từ xa lên thần tọa, do một hoàng thân, em vua Gia Long phụ trách. Người ta đặt thần chủ nằm ngay sau lưng thần bạch. Những tráp kim sách, kim bửu và các ngự dụng đều đem sắp cả ở hai bên. Các bàn hương án, minh khị, bàn đựng hào soạn theo thứ tự để trước lăng.


Giờ Dậu, quan đại thần bộ Lễ quỳ tâu: “Hôm nay chọn được giờ lành, xin đem tử cung đặt vào huyền cung”.


Quan Tổng bộ sứ ra lệnh cho những người dự sự và dư quân mang tử cung đặt xuống huyệt, đoạn rẽ ra hai bên đứng hầu.


Minh Mạng thôi không khóc nữa, bình tĩnh đến trước huyệt, nhìn xem thử các quan đặt tử cung có ngay thẳng và đúng phương pháp không. Trên tử cung phủ tấm màn và trên nữa trải tấm minh tinh.


Bên trái của lăng đã đào sẵn một cái hố sâu làm nơi chôn minh khí(1). (còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »