tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21084682
Tiểu thuyết
18.08.2011
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

I


Vua Gia Long nằm thoi thóp trên giường bệnh, hơi thở đứt quãng. Hễ cứ thiêm thiếp ngủ là ông lại mơ thấy những cảnh bị quân Tây Sơn đuổi chạy xất bất xang bang trước đây. Những giấc mơ ấy thường lộn xộn không đầu không đuôi, như khi chạy đến gần cửa Cần Giờ bỗng thấy ba con cọp xuất hiện đang bám mấy cây gừa, cây kè trong gò nỗng, ông sợ quá kêu lên một tiếng lớn, tỉnh dậy, trán còn toát mồ hôi. Lại có khi thấy mình đang đi trên một chiếc thuyền lênh đênh mặt biển, bỗng một con cá sấu hoa cà da có nhiều đốm trắng đen lẫn lộn, há cái miệng lởm chởm những răng toan táp, cái đuôi quật lại toan đập ông ngã xuống sông để nuốt, ông sợ quá, tỉnh dậy, người vẫn còn run cầm cập. Nhưng giấc mơ cứ trở đi trở lại với ông là khi chạy đến Gia Định, hết cả lương thực, phải ăn trái bần chua với mắm sống, vợ ông là bà nhị phi họ Trần lại đang mang bầu, chạy đến thôn Hoạt Lệ thuộc Gia Định thì giở dạ đẻ, sinh ra một đứa con trai là hoàng tử Đảm. Không có bà mụ, bà nhị phi phải kiếm một thanh nứa tự tay cắt rốn cho con xong rồi ngất đi. Giữa lúc đó thì có tin quân Tây Sơn đuổi tới, ông bồng lấy đứa trẻ, để bà nhị phi bám vào ông mà đi. Chạy tới mé rạch Bến Nghé, thủ hạ đi theo ông kiếm được một chiếc thuyền chạy ra biển, lênh đênh mấy ngày trên mặt biển, nước ngọt dự trữ trên thuyền đã hết, bà nhị phi ăn uống kham khổ quá không có sữa, đứa trẻ thiếu sữa lại khát nước, môi bỏng rộp cả lên, cất tiếng khóc như xé trời, khiến ông tỉnh dậy. Thật ra đó là một giấc mơ chắp vá, vì khi hoàng tử Đảm sinh ra, ông không còn phải chạy trốn quân Tây Sơn mà đã hoàn toàn làm chủ đất Gia Định được hơn ba năm, nơi hoàng tử Đảm sinh ra là đền Hiển Trung. Nhưng giấc mơ lộn xộn ấy lại làm ông thương bà nhị phi và hoàng tử Đảm hơn. Bà nhị phi là con gái Trần Hưng Đạt ở huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên. Năm 1778, ông chiếm lại Gia Định, năm 1781, bà mới 14 tuổi, được tuyển vào cung, được phong là Tả cung tần. Năm 1791, bà 24 tuổi, sinh ra hoàng tử Đảm. Thế nhưng bà chính phi họ Tống, mẹ của đông cung Cảnh, tính hay ghen, cứ hành hạ bà nhị phi đủ điều, lại hay tâu vua kể tội bà nhị phi, đòi vua phải trị tội. Bà nhị phi cũng không chịu, bắt bẻ bà chính phi và khi ông vào cung thì níu lấy áo ông, bù lu bù loa khóc, tóc xổ ra rũ rượi, mặt đầy vẻ giận dữ nói: “Muôn tâu bệ hạ, xin bệ hạ phân xử, bà ấy đã sỉ nhục thần thiếp, xin bệ hạ phân xử!”. Gia Long biết là bà chính phi sai, nhưng không dám trách cứ vì bà đang phải xa con là hoàng tử Cảnh theo giám mục Bi-nhu(1) sang Pháp cầu viện. Muốn lấy lòng bà chính phi, năm 1793, khi hoàng tử Đảm mới lên 3 tuổi, ông đã giao cho bà chính phi nuôi làm con mình. Bà chính phi đòi làm giấy khế khoán, ông bèn sai Lê Văn Duyệt viết giấy đưa cho. Bà chính phi giao cho cung tì là Nguyễn Thị Lê cất giữ tờ khế khoán ấy.


Tin chắc sau này hoàng tử Đảm có lên nối ngôi chăng nữa, bà vẫn là đích mẫu của vua và làm thái hậu, nên bà mới bớt hành hạ bà nhị phi. Từ đấy hoàng tử Đảm thường vào chầu ở Đại Nội, làm con của bà chính phi (lúc đó đã được phong làm hoàng hậu) và gọi bà là mẹ. Đến khi hoàng tử Cảnh, hoàng hai là Hy, hoàng ba là Tuấn con hoàng hậu nối nhau mất, hoàng tử Đảm lấy thứ bậc được coi là lớn nhất. Nhưng do đời trước phái trưởng của các chúa Nguyễn phần nhiều khó nuôi, nên không muốn gọi là trưởng mà vẫn gọi là hoàng tử. Năm Gia Long thứ 13 (1814) tháng hai, hoàng hậu Tống thị qua đời, thọ 54 tuổi.


Gia Long đã quyết định cho hoàng tử Đảm đứng làm chủ tế thay vì hoàng tôn Đán, con của hoàng tử Cảnh.


Thế nhưng khi Gia Long phong hoàng tử Đảm là hoàng thái tử, thì Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành lại viện cái thuyết “Đích tôn thừa trọng”(1) xin lập con trai của Đông cung Cảnh là hoàng tôn Đán làm hoàng thái tử để sau này nối ngôi. Gia Long giận dữ thầm nghĩ: “Hắn muốn dựng vua nhỏ để dễ khống chế, ngày sau có thể chẹt họng vỗ lưng chăng? Ta há tối tăm lầm lẫn, không biết đắn đo nên chăng vội nghe lời hắn, mà không vì xã tắc chọn người sao?”. Tuy nghĩ vậy nhưng Gia Long lại làm ra vẻ khoan thai phán: “Nước nhà mới yên, phải chọn người lớn tuổi cầm quyền, chẳng nên dùng kẻ ấu thơ”. Khi Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt từ trong Nam ra, vào triều kiến, Gia Long hỏi ý Duyệt về việc lập hoàng thái tử, Duyệt vịn vào câu “lập tự duy đích” và tâu rằng: “Đông cung tuy mất sớm, nhưng công lao trong sự nghiệp trung hưng không phải là nhỏ, vậy con Đông cung phải được hưởng công lao lớn của cha”.


 Gia Long bèn vịn vào một điều trong bộ luật Gia Long, do chính Nguyễn Văn Thành và Vũ Trinh soạn ra, mà phán rằng: “Quốc pháp là: Phụ trái, tử hoàn: cha nợ thì con phải trả, chứ không bao giờ đến cháu phải gánh. Mà con đã trả nợ cha thì lẽ tự nhiên là được quyền thừa hưởng sự nghiệp của cha. Vậy ý trẫm chọn hoàng tử Đảm cũng không có gì là trái với quốc pháp cả”.


Món nợ mà Gia Long nói đây là món nợ đối với người Pháp và các giáo sĩ. Năm 1784, Gia Long buộc lòng phải giao hoàng tử Cảnh mới lên bốn tuổi cho giám mục Bi-nhu đưa sang Pháp “làm tin” để mượn quân. Ngày 28.8.1789 chiếc tàu Pháp La Méduse chở Cảnh và Bi-nhu về tới Vũng Tàu, ở đó Tôn Thất Hội đã mang binh thuyền đón sẵn đưa hai người về Bến Nghé. Cái “sứ bộ nhỏ bé” thất bại trong việc biến Hiệp ước Versailles thành hiện thực này không đem về được gì ngoài 2.000 cân thuốc súng mà hầu tước De Rosilly Mérose thuyền trưởng tàu Méduse ái ngại biếu “để cậu hoàng tử không có cái dáng vẻ trở về với hai bàn tay trắng”, song lại đưa tới Gia Long và triều đình Gia Định một sự bất ngờ làm hởi dạ Bi-nhu. Trong buổi lễ trình diện trước bàn thờ tổ tiên, hoàng tử Cảnh nhất định không chịu lạy, và trước sự chứng kiến của đông đủ triều thần, cứ nhất quyết cho rằng trên đó chỉ là “những con quỷ sứ”, bất chấp mấy cái bạt tai của mẫu hậu Tống thị để cho cuối cùng Gia Long phải nén giận mà lạy thay con! Với tâm nguyện “Tôi muốn sống và chết như một tín đồ Thiên Chúa giáo”, Cảnh hứa sẽ chỉ lấy một vợ theo đúng giáo luật của đạo Thiên Chúa về hôn nhân, và với sự xui giục gián tiếp “đừng quên Chúa” của Bi-nhu, còn lén đọc kinh lầm rầm lúc đi ngủ. Cảnh còn tiếp tục tiến xa hơn trên con đường bày tỏ đức tin Thiên Chúa: Cảnh vạch hai dấu thập tự lên tượng phật của mẹ rồi kế đó, lại bày cho bà này lấy phân bò bôi lên tượng Thích Ca! Hơn thế nữa, cậu hoàng tử chín tuổi này còn hiên ngang tuyên bố: “Tôi không muốn làm vua và nếu không định làm cho cả dân tôi theo đạo thì tôi đã trở lại Pháp ngay rồi”.


Biết Bi-nhu đã lập tâm dẫn dắt hoàng tử Cảnh đi theo con đường của Thiên Chúa giáo, ngay từ khi đó, Gia Long đã giao cho những văn thần tinh thông Nho học như Ngô Tùng Châu, Trịnh Hoài Đức thay nhau dạy dỗ, kèm cặp hoàng tử Cảnh. Lúc đó Gia Long còn cần đến sự giúp đỡ của người Pháp và các giáo sĩ, tuy biết Cảnh khi làm con nuôi Bi-nhu đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo Thiên Chúa, nhưng buộc lòng phải lập Cảnh làm Đông cung. Nay Cảnh đã mất, con Cảnh là hoàng tôn Đán còn nhỏ tuổi, lên nối ngôi sẽ bị người Pháp và các giáo sĩ dụ dỗ, lung lạc, kết quả đất nước sẽ rơi vào tay Pháp. Theo Gia Long chỉ còn một cách, nhân cơ hội này cự tuyệt với Pháp, và sau khi Gia Long qua đời nếu kẻ nào xác định phương hướng hành động như vậy thì kẻ đó được nối ngôi.


Lý do Gia Long chọn hoàng tử Đảm là ở chỗ đó chứ không phải vì Gia Long muốn chọn con hơn chọn cháu để phó thác việc trả món nợ của mình. Hay nói cho đúng hơn, Gia Long quyết định chọn hoàng tử Đảm vì thấy Đảm đã 27 tuổi, có thể có đủ bản lĩnh để vỗ tuột món nợ mà Gia Long đã trót vay của người Pháp và giáo sĩ.


Nghĩ như vậy, Gia Long cho vời Thượng thư bộ Lại Trịnh Hoài Đức vào hỏi ý kiến.


Muốn biết tại sao Gia Long lại đặc biệt coi trọng ý kiến của Trịnh Hoài Đức, phải hiểu lý lịch của vị quan văn này.


Trịnh Hoài Đức quê gốc ở Phước Kiến, Trung Hoa, vì chống đối không chịu thần phục nhà Mãn Thanh, nên ông nội Trịnh là Hội sang xin tỵ nạn ở nước ta. Lúc đầu gia quyến Hội được chấp cho tạm ở Phú Xuân, sau dời về thôn Bình Trước thuộc dinh Trấn Biên. Nhờ có căn bản văn hay chữ tốt, cha của Trịnh là Khánh được chúa Nguyễn Phước Khoát thâu dụng, cử làm cai thủ An Dương. Sau Khánh thuyên chuyển ra trại Bả Canh ở Qui Hóa, Qui Nhơn, giữ chức Chấp canh tam trường cai đội.


Khánh mất năm 1775 trong lúc Trịnh Hoài Đức chỉ mới được mười tuổi. Mẹ của Trịnh lại dời gia đình đến trấn Phiên An. Bà cho Trịnh theo học với xử sĩ Võ Trường Toản, năm 1780, tại huyện Bình Dương.


Năm 1788, sau khi chúa Nguyễn Phúc Ánh (Gia Long) thu phục thành Gia Định, Trịnh Hoài Đức thi đỗ và được sung vào làm Hàn lâm viện chế cáo.


Năm 1791, được bổ Tri huyện phủ Tân Bình, kiêm Điền tuấn sứ, cùng với Ngô Tùng Châu, Huỳnh Minh Khánh trông coi việc khai đất khuyến nông ở Phiêntrấn, kế đó vào tòng sự tại bộ Hình.


Tháng 11 năm Quý Sửu (1793), sung chức Đông cung thị giảng, theo dạy Đông cung Cảnh ra trấn thành Diên Khánh. Sau đó Trịnh có dự vào bộ tham mưu để bàn việc cơ mật, khi Đông cung tiến binh ra lấy thành Phú Yên. Năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Vương thu phục thành Phú Xuân, hai tướng Tống Viết Phước và Lê Văn Duyệt cử binh vào giải vây thành Bình Định cho Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, thì chính Trịnh ở lại Quảng Nam và Quãng Ngãi lo việc thâu gặt, để tiếp vận quân lương.


Tháng 5 năm 1802, Trịnh được thăng Thượng thư bộ Hộ, và làm Chánh sứ sang nhà Thanh cầu phong cho vua Gia Long. Lo xong việc ngoại giao, sứ hộ Trịnh Hoài Đức cùng trở về với Án Sát Quảng Tây Tể Bố Sum mang sắc sang phong cho vua Gia Long, Trịnh trở về nhiệm chức cũ ở bộ Hộ.


Năm 1805 được bổ vào lĩnh chức Hiệp tổng trấn thành Gia Định. Năm 1812 về Phú Xuân được thăng Thượng thư bộ Lễ kiêm quản tòa Khâm thiên giám. Năm 1813 đổi sang bộ Lại.


Gia Long thấy Trịnh Hoài Đức đã từng dạy Đông cung Cảnh học và cộng sự với Lê Văn Duyệt, ý kiến ông chắc sẽ rất bổ ích.


Nhưng Trịnh Hoài Đức là người rất khôn ngoan, không tội gì mà đi gây hiềm khích với người khác, nên khi được Gia Long hỏi, chỉ trả lời:


- Biết con không ai bằng cha, việc trong nhà sao lại đi hỏi người ngoài, việc ấy là việc bệ hạ, xin bệ hạ liệu lấy.


Nghe nói vậy, Gia Long bèn quyết định, ngày hôm sau gượng bệnh ra thiết triều ở điện Cần Chánh và dụ rằng: “Trẫm nay làm việc mệt mỏi, rất lo đến kế lớn của xã tắc. Thái tử là người sẽ nối ngôi của nước”. Rồi triệu Thượng thư bộ Lại Trịnh Hoài Đức đến trước giường ngự sai viết: “Lập hoàng tử Hiệu(1) làm thái tử” để đưa cho bầy tôi xem. Gia Long nói: “Ai đồng ý thì ký tên vào”. Khi đó Nguyễn Văn Thành vì bài thơ của con trai là Nguyễn Văn Thuyên bị nghi ngờ là âm mưu phản loạn, sợ tội đã uống thuốc độc chết. Chỉ còn có Lê Văn Duyệt, nhưng trước đó Gia Long đã khôn khéo thừa dịp trong một lần Duyệt về kinh triều bái, cho mời Duyệt vào một phòng riêng trong đó đã có mặt nhà vua và hoàng tử Đảm. Trước mặt nhà vua, nhà vua dạy hoàng tử Đảm phải lạy Duyệt hai lạy mà kêu là cha nuôi. Đồng thời nhà vua gửi gắm hoàng tử Đảm lại cho Duyệt sau này và giữ Duyệt ở lại kinh phù tá. Do đó Duyệt cũng nể tình không tiện phản đối. Thấy Duyệt không nói gì, triều thần như rắn không đầu, đều nói: “Ý thánh định trước thực là phúc không cùng của xã tắc. Bọn thần xin noi theo mệnh lệnh”.


Lập xong hoàng thái tử, Gia Long yên tâm, thấy người mạnh mẽ hơn, bệnh cũng dần bình phục.


*


Sau khi lên ngôi Thái tử, Đảm vẫn không trễ nải việc học hành. Tuy đã có hai quan Tả thị giảng và Hữu thị giảng lo việc dạy thái tử học, nhưng Đảm vẫn thường xuyên vời người thầy cũ của anh mình và mình hồi nhỏ là Trịnh Hoài Đức vào giảng sách, vì ngoài những sách kinh điển Nho gia, như Tứ thư, Ngũ kinh, còn có những sách của Bách gia chư tử đời Tiên Tần mà chỉ Trịnh Hoài Đức mới đủ trình độ giảng.


Bữa nay, Đảm học đến sách Hàn Phi Tử. Trịnh Hoài Đức áo lương, khăn lượt, ngồi ở ghế bên cạnh sập vàng của thái tử, bắt đầu giảng:


- Hàn Phi là một trong rất nhiều công tử nước Hàn, sinh khoảng năm thứ 14 đời Hàn Tương Vương(1). Ông đọc rất nhiều sách, lai từng từ kinh đô nước Hàn ngàn dặm xa xôi đến Lan Lăng nước Sở, theo học Tuân Khanh. Hàn Phi nói lắp, nói năng rất khó khăn, nhưng lại rất biết viết văn.


Nhà Chu ban đầu có đến 800 nước chư hầu, bởi vì từ đời Xuân Thu, kiêm tính lẫn nhau, đến cuối thời kỳ Chiến Quốc chỉ còn lại bảy nước Triệu, Hàn, Ngụy, Yên, Sở, Tề và Tần, tức Thất hùng. Trong Thất hùng, nước Tần mạnh nhất, dòm ngó Sơn Đông, có cái thế gồm nuốt Lục quốc. Lục quốc muốn sống còn mà không bị diệt vong, ngoài phú quốc cường binh và đối kháng với Tần ra, không có biện pháp gì khác. Mà, giữa lục quốc cũng xâm phạm lẫn nhau, các nước muốn bảo tồn đất đai không bị họa “tằm ăn lá dâu”, cũng phải có binh lực lớn mạnh và quốc khố dồi dào. Hàn Phi thấy nước mình ngày càng suy yếu, do đó ông tìm cái đạo làm nước giàu binh mạnh, khiến nước mình phú cường lên. Đối với học thuyết các nhà các phái từ Xuân Thu đến nay và thành bại của họ về trị nước đều đi sâu nghiên cứu. Ông rất tôn sùng Thưởng Ưởng, thuyết pháp trị của ông, về đại thể là noi theo Thưởng Ưởng.


Pháp trị là đem “hiến lệnh áp dụng ở quan nha”, mọi người dựa theo hiến lệnh làm việc, người lập công được thưởng, kẻ phạm lệnh bị phạt. “Hữu công giả tất thưởng, thưởng giả bất đức quân, lự chi sở chí dã; Hữu tội giả tất tru, tru giả bất oán thượng, tội chi sở sinh dã. Dân tri tru thưởng chi giai khởi vu thân dã. Cố tật công lợi tri nghiệp nhi bất thụ tứ vu quân” là “Người có công ắt thưởng, người được thưởng không phải nhờ vào đức của vua, mà do sức mình dẫn tới. Kẻ có tội ắt bị giết, kẻ bị giết không oán bề trên, mà do tội của mình gây nên. Dân biết giết hay thưởng đều khởi tự thân mình, cho nên cố sức lập công lợi cho sự nghiệp, mà không chịu ân tứ ở vua”. Như vậy người cầm quyền không cần động não để thưởng phạt người nào, cũng không cần ứng phó với những người không có công mà xin thưởng, có tội mà cầu tha. Thần dân vừa không dám lừa dối trên làm điều trái, cũng không phải xin thưởng cầu tha. Như thế gọi là “thượng hạ vô vi” (trên dưới không phải làm gì cả).


Nhưng Hàn Phi vẫn chưa hoàn toàn hài lòng với Thưởng Ưởng, bởi vì Thưởng Ưởng chỉ là làm ra pháp mà không dụng thuật. Hàn Phi nói: “Không có thuật để nhận biết kẻ gian, thì dù cho có phú cường cũng chỉ nuôi béo kẻ nhân thần mà thôi. Hiếu Công, Thương quân chết, Huệ Vương lên ngôi, mà phép nước Tần vẫn chưa bại. Nhưng Trương Nghi dùng Tần đánh Hàn, Ngụy. Huệ Vương chết Vũ Vương lên ngôi, Cam Mậu dùng Tần đánh Chu. Vũ Vương chết, Trang Tương Vương lên ngôi, Nhương hầu vượt Hàn, Ngụy mà đánh Tề ở phía đông, năm năm mà Tần không lợi một tấc đất nào, mà thành trở nên đất phong Đào ấp của Nhương hầu. Ứng hầu đánh Hàn tám năm, thành cái đất phong Nhữ nam của ông ta. Từ đó đến nay, những kẻ dùng Tần đánh các nước, đều là loại Ứng hầu, Nhương hầu. Cho nên chiến thắng thì đại thần thành tôn quý, được đất thì phong lập riêng, đó là do chúa không có thuật để biết kẻ gian vậy. Thương quân tuy hết sức hoàn thiện pháp của ông ta, nhân thần trái lại dùng làm của riêng, mấy chục năm mà Tần không tới được bậc đế vương. Pháp tuy chăm lập phải có quan sửa sang, chúa không có thuật là cái lo của bề trên. Bởi vậy Hàn Phi muốn sử dụng cái thuật của Thân Bất Hại. “Thuật là nhân nhiệm vụ mà trao chức uqan, dựa theo danh mà cung cấp cái thực, nắm cái quyền sát sinh, thi khảo tài năng của quần thần. Đó là điều bậc nhân chủ phải nắm”. Đó là nói, thuật là thủ đoạn, là thủ đoạn của nhân quân chế ngự nhân thần”.


Lời giảng của thầy khiến Đảm vụt sáng ra. Phụ hoàng ta tuy thánh trí, vẫn chưa đủ thuật để chế ngự những quyền thần như Lê Văn Duyệt, Lê Chất. Chinh chiến mấy chục năm, tiếng rằng có đất đai từ nam ra bắc, nhưng không có lợi cho triều đình, mà chỉ nuôi béo bọn quyền thần. Tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành đều coi Bắc thành và Gia Định thành như đất phong riêng của họ chẳng khác gì bọn Ứng hầu, Nhương hầu đời Tần, Họ tự cắt đặt quan chức xong xuôi mới bẩm triều đình cho có lệ, công khố họ tự ý chi tiêu ban thưởng cho tay chân vây cánh của họ. Ở mỗi thành đều có quân đội riêng. Không được! Khi Đảm chính thức lên ngôi vua sẽ không thể duy trì tình trạng vô pháp vô quân đó được. Vừa phải đặt thêm pháp trị nhân thần, vừa phải có thuật chế ngự nhân thần. Làm điều này, Đảm hy vọng Trịnh Hoài Đức sẽ là cánh tay đắc lực của mình.


Đảm liền hỏi Trịnh Hoài Đức:


- Thưa thầy, lần trước thầy có giảng về thuyết chính danh của Khổng Phu Tử, xin thầy nói thêm cho rõ.


- Tử viết: “Danh bất chính tắc Ngôn bất thuận, Ngôn bất thuận tắc sự bất thành”. Đó tức là nói trong đời thường danh là để chỉ sự vật, sự thể có thật. Mỗi vật mỗi người đều có một tên mà người ta dành cho nó. Muốn chính danh thì cái tên phải tương ứng với sự thật. Một Danh không tương ứng với sự thật là một giả danh, là hư ngụy, bất chính. Phu Tử cũng nói: “Cô bất cô, cô tai cô tai!” Ly là phải vuông góc, góc không vuông thế này mà cũng vẫn gọi là ly ư? Thế là cái bất chính! Cái ly bất chính là tội ở người trên chứ không phải do cái bọn làm ly, làm cốc. Mục tiêu của Chính danh là lập ngôn thuyết để thực thi chính đạo. Danh chi, Ngôn chi, Hành chi. Phương án giáo dục của Phu Tử là: Hưng ư Thi, lập ư Lễ, thành ư Nhạc, khởi hứng bằng thi ca, dạy dỗ uốn nắn bằng lễ nghi, kỷ cương, để đạt tới sự hài hòa thanh cao ở nhạc.


Tan buổi học, Đảm nói với Trịnh Hoài Đức, lần này là lời một Thái tử nói với một đại thần:


- Từ nay khanh hãy chú ý giúp Phạm Đăng Hưng định ra lễ nghi, kỷ cương của triều đình. Chẳng hạn như lễ an táng của hoàng đế, lễ đăng quang của tân quân, lễ triều yết của các quan, đều phải có lệ luật rõ ràng để mọi người cứ thế mà tân hành, làm khuôn phép cho triều đình và đất nước ta muôn ngàn đời về sau.


Trịnh Hoài Đức đi rồi, Đảm lai giở bộ Đường thi ra đọc để tiêu khiển. Nhưng lần này Đảm không chỉ thưởng thức lời thơ hay đẹp mà có để ý liên hệ lời thơ với chính sự của đất nước, đó là lần đầu tiên Đảm thực hiện phương châm “Hưng ư Thi, lập ư Lễ, thành ư Nhạc” của Phu Tử.


Vừa đọc, Đảm vừa nghĩ đến cách chính danh cho nước ta, nên gọi tên nước ta là gì? Đọc bài Đằng Vướng Các phú của Vương Bột, Đảm tán thưởng câu Lạc hà dữ cô vụ tề phi, Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc(1), nhưng không thích câu Thỉnh Chung Quân chi trường anh, ý Vương Bột muốn noi gương Chung Quân xin vua Hán cái dây để buộc vào cổ vua Nam Việt lôi về. Như vậy cái tên Nam Việt của Triệu Đà cũng không nên dùng, vì dù sao Triệu Đà cũng là người Tàu. Vương Bột có cha làm quan đô hộ ở Giao Chỉ, trên đường đi thăm cha đắm thuyền bị chết đuối! Đáng kiếp cho anh chàng ôm cái mộng bành trướng xâm lược! Đọc đến bài Tống sứ An Tây của Vương Duy với câu thơ bất hủ: Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu, Tây xuất Dương quan vô cố nhân.(1) Đảm thầm nghĩ An Tây tức An Tây đô hộ phủ đời Đường. An Tây đô hộ phủ là cơ quan để đô hộ các nước phía Tây Trung Quốc như Ô Tư, Sơ Lặc, Vu Chân, Yên Kỳ... An Đông đô hộ phủ là cơ quan để đô hộ nước Triều Tiên. An Nam đô hộ phủ là cơ quan để đô hộ nước ta. Từ trước đến nay, Trung Quốc vẫn phong cho vua đời Lý, Trần, Lê là An Nam quốc vương. Đến phụ hoàng ta, thấy dùng chữ An Nam là nhục cho quốc thể, sai sứ là bọn Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức sang cầu phong, xin đổi quốc hiệu là Nam Việt. Vua Thanh sợ rằng Nam Việt vốn là nước cũ của Triệu Đà, khi đó bao gồm cả đất Quảng Đông, Quảng Tây, nếu phong là Nam Việt quốc vương, e sau này ta sẽ kiếm cớ đòi lại Quảng Đông Quảng Tây, nên bắt đổi là Việt Nam, ý là Lạc Việt (một trong Bách Việt) ở phương Nam.


Tuy các triều Lý, Trần, Lê nhận phong An Nam quốc vương, nhưng ở trong nước vẫn tự xưng là Đại Việt. Nếu lấy tên Đại Việt thì e rằng khiến lòng người còn nhớ nhà Lê, chi bằng lấy tên Đại Nam ngụ ý nước lớn ở phương Nam mà Ai Lao, Chân Lạp đều phải thần phục. Khi nào đăng quang, ta sẽ ban chiếu đổi quốc hiệu là Đại Nam.


Nhưng nước Đại Nam nên theo chính thể gì? Đảm hỏi Trần Văn Học được biết là bên Phú Lang Sa cũng đã từng có Cách mệnh, phe Cộng hòa nổi lên giết vua, lập chính thể Dân chủ. Không, cái gì chứ Dân chủ là nhất định không hợp với tình hình nước ta. Hay là dân chủ lập hiến như nước Hồng mao(2)? Tuy vẫn có vua, nhưng lại có Thủ tướng điều hành quốc sự, vua và Thủ tướng đều phải tôn trọng hiến pháp. Thế thì vẫn như cái thời vua Lê chúa Trịnh ngày truớc, vua chỉ là hư vị. Đảm đang muốn chế ngự bọn quyền thần ở các địa phương, thâu tóm toàn bộ quyền lực vào tay trung ương, xây dựng nhà nước pháp trị trung ương tập quyền đầu tiên trên đất nước này, với cái danh “kiến trúc sư của nước Đại Nam”.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »