tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21316098
Tiểu thuyết
18.08.2011
Nguyễn Nguyên Bẩy
Linh hồn lang thang

- Sao, mày nói sao?


- Thằng Irít! - Dú líu lưỡi vì xúc động.


- Giàng ơi, có đúng thằng Irít, con tao?


Yblem lao bổ ra ngoài. Ama Dú và Hơben cũng ra theo. Mạnh hiện ra trong mắt họ, xa lạ, bồng Irít trên tay, bước đi mệt nhọc. Yblem chạy lại phía anh, giằng lấy thằng Irít.


- Giàng ơi, đúng là thằng Irít con tôi... Irít ơi, Ama đi tìm con đã mấy ngày nay, rừng nào Ama cũng qua, suối nào Ama cũng tới...


Yblem khóc. Nhưng cảm xúc Yblem thay đổi ngay khi thấy người đàn ông xa lạ đang nhìn mình.


- Ông nói đi, ông đã tìm thấy nó ở đâu?


- Bên bờ suối, nó lết xuống uống nước?


- Rồi sao?


- Khắp người nó trầy trụa vết thương, tôi băng bó cho nó và đưa nó về đây.


Irít nói nhỏ với Yblem:


- Ông ấy bảo ông ấy là bạn với Ama Dú, ông ấy đã thề. Ông ấy đã bồng con đi và cho con ăn. Thức ăn ngọt lắm, thơm lắm, con chưa được ăn bao giờ.


Những lời nói của Irít làm dịu hẳn đôi mắt rực lửa của Yblem. Yblem đưa mắt nhìn Hơben, Hơben nhìn Dú, Dú nhìn Ama, những cái nhìn trao nhau ý nghĩa. Dú bước tới trước mặt Mạnh, giọng cậu bé rất oai:


- Ông bảo ông là bạn Ama Dú?


Mạnh gật đầu.


- Vậy chớ ông có biết mặt Ama Dú?


- Chúng tôi xa nhau cũng đã lâu rồi.


Ama Dú như nhớ lại một hình ảnh quen thuộc. Cái tẩu dài nhấc khỏi môi:


- Ông nói đi, ông tên gì?


Mạnh lấy trong túi áo tờ giấy đưa cho Ama Dú.


- Tôi tên Mạnh, Nguyễn Huy Mạnh, giấy tờ của tôi đây.


Ama Dú bổ choàng lại phía Mạnh.


- Giàng ơi, đồng chí Mạnh, chúng tôi đang chờ đồng chí. - Giọng Ama Dú như có tiếng reo. - Hơben ơi, Yblem ơi, đây là con của Avốc Hồ, tôi nhớ ra rồi, hồi chín năm chúng tôi đã gặp nhau. Giàng ơi, sao mắt tôi không sáng, trí nhớ tôi không đầy để nhận ra đồng chí. Con của Avốc Hồ...


Hơben và Yblem đều thốt lên:


- Con của Avốc Hồ.


Ama Dú kéo tay dẫn Mạnh vào lán.


Tất cả ngồi vây quanh đống lửa. Mạnh lấy lương khô trong ba lô, đưa cho Dú và Irít, rồi đưa cho Hơben, đưa cho Yblem, miếng nguyên vẹn đưa cho Ama Dú. Anh vừa nhìn mọi người nhai lương khô vừa hoan hỉ nói chuyện.


- Cô Hơblang, giao liên của khu ủy đưa tôi lên đây, dọc đường bị phục kích, cô đánh lạc hướng địch để cứu tôi... Và tôi bị lạc giữa rừng. Tôi phải đi suốt buổi mới tới con suối và thấy Irít.


Ama Dú gật gù:


- Khó khăn như thế đấy, đồng chí Mạnh ạ. Bọn Mỹ giăng mắc binh lính khắp vùng rừng núi Tây Nguyên này, buôn làng nào cũng nằm trong vùng kìm kẹp của chúng.


- Tôi nghe nói chúng mới càn quét lớn ở vùng Nam Sông Ba?


Hơben mồi thêm cây củi và bếp lửa. Ama Dú đưa mắt nhìn Dú như ngầm trao mệnh lệnh. Dú đứng dậy, kéo tay Irít cùng ra ngoài. Bên bếp lửa chỉ còn lại bốn người. Ama Dú đã ngậm lại cây tẩu.


- Chúng đã bất ngờ đánh úp chúng ta, trận càn quá lớn, chúng ta bị thiệt hại nặng lắm. Cả Huyện ủy hy sinh, chỉ còn hai đảng viên là đồng chí Yblem và đồng chí Hơben đây.


Tất cả im lặng, chỉ ngọn lửa cháy đỏ với những tiếng nổ lép bép.


- Khu ủy cử tôi về gây dựng phong trào Nam Sông Ba.


Hơben ngước cặp mắt sáng nhìn Mạnh:


- Đồng chí không tới đó được đâu. Các buôn làng đều bị dồn vào ấp chiến lược, mà đồng chí thì không thể lọt vào trong đó.


Yblem lầm lì, như nói với lửa:


- Chúng ta mở đường đưa đồng chí ấy vào.


- Yblem mở đường?


- Tôi và Hơben.


Ama Dú nắm chặt bàn tay Mạnh:


- Có đồng chí về Nam Sông Ba tôi yên lòng lắm. Yblem sẽ vào ấp chiến lược tìm cách thành lập đội du kích, còn Hơben sẽ vận động đồng bào. Đồng chí giúp đỡ cho cả Yblem và Hơben. Chúng tôi tin đồng chí như tin Ama Thư, con của Avốc Hồ.


- Xin các đồng chí coi tôi như là một người con của các buôn làng Êđê.


- Đồng chí có vợ chưa?


- Tôi có một đứa con gái, ngày tôi vào trong này nó mới hai tuổi.


Hơben ngước mắt nhìn anh:


- Tên nó là gì?


- Mai Vàng.


Ama Dú mỉm cười:


- Đồng chí Mạnh, đồng chí cũng đã biết phong tục của người Êđê chúng tôi. Kể từ nay, chúng tôi sẽ gọi đồng chí là Ama Vàng, đồng chí là người anh em của chúng tôi.


Yblem quay qua phía Mạnh:


- Ama Irít xin được nắm chặt tay đồng chí Ama Vàng.


- Hơben xin được làm người học trò của Ama Vàng.


Mạnh cố nén xúc động. Anh muốn nói với tất cả những người bạn Êđê mới quen này là anh sẽ cố gắng sống không hổ thẹn với cái tên Ama Vàng mà mọi người đã gọi anh. Mai Vàng ơi, Cúc ơi, thế là từ giây phút này con và em luôn ở bên anh, cùng anh chiến đấu. Nhưng anh đã không nói điều gì. Anh im lặng nhìn ngọn lửa, bàn tay anh nắm chặt tay các đồng chí của mình. Họ cũng im lặng như anh. Anh hiểu, tất cả đang trang nghiêm thề trước ngọn lửa, lời thề đồng chí.


Hai


Anh nằm li bì trên giường suốt một ngày, một đêm. Anh hiểu anh vừa trải qua cơn sốt rét tái phát. Chứng bệnh này anh đã thuộc nằm lòng. Thoạt đầu là giai đoạn rét run, phải đắp chăn, nhưng có chăn đâu mà đắp, anh co rúm người như một con sâu, rên hừ hừ. Anh sờ tay xuống bụng, cảm giác lá lách đang như chiếc bong bóng phình ra. Khi về tới bệnh viện, anh bước vào giai đoạn nóng, thân thể anh cháy như lò trấu ủ, da nóng rẫy, môi khô rộp, và lá lách như bị lửa hút hết hơi, xẹp lại... Thế rồi tới giai đoạn mồ hôi túa ra như tắm, đầu óc anh quay cuồng, anh không còn làm chủ được mình nữa. Anh cảm như đang bay, đang nhảy nhót giữa núi rừng Tây Nguyên, vây bủa quanh anh là chuồn chuồn, bươm bướm, anh đã kết bạn với chúng, và giờ đây chúng tụ hội lại để chôn anh. Anh đang chết? Không! Lúc con người nghĩ đến cái chết tức là cái chết không lôi được mình đi. Một trận mưa thần linh nào đó đã dập tắt ngọn lửa đang thiêu đốt người anh. Anh bỗng cảm thấy bụng rỗng tuếch, thèm ăn bát cháo hành. Không có cháo, ăn khô khốc chiếc bánh mì bích quy. Môi ngọt trở lại, anh thấy mình dễ chịu hơn.


Cô y tá lại tiêm thuốc cho anh. Cô có cái miệng rất đẹp, lúc nào cũng như cười.


- Anh sốt li bì làm em lo quá. Hôm qua giao ban, bác sĩ giũa em một trận.


- Sao vậy?


- Em đã để anh trốn viện.


- Tôi đi bỏ cái thư... - Anh nói dối.


- Cũng may, anh kịp về viện. Lần sau anh đưa em bỏ thư cho nghe.


Anh gật đầu.


- Hôm qua, có một chú tới thăm anh.


- Ai? - Anh nhỏm dậy, hỏi.


- Chú nói chú tên Ba, bạn cũ của anh, làm ở Đài phát thanh.


- Sao cô không gọi tôi.


Cô y tá cười. Anh hiểu lời trách của anh vô duyên vì khi đó anh đang sốt li bì.


- Chú ấy nói chú ấy sẽ quay trở lại.


Anh định hỏi cô y tá thêm điều gì đó, nhưng anh hiểu là có hỏi thêm cũng vô ích. Anh nhìn theo cô bước đi, lòng cảm thấy trống trải lạ lùng. Anh gượng ngồi dậy, tựa lưng vào chiếc gối kê sát đầu giường. Phải chi anh không bị cơn sốt rét giáng xuống đầu bất ngờ, thì chắc chắn anh đã biết tất cả mọi chuyện, anh Ba sẽ không giấu anh điều gì.


Anh có ý định từ lâu rồi, một lúc nào đó anh sẽ chép lại tất cả những suy nghĩ của anh về cuộc chiến tranh mà anh đã hiến dâng cả quãng đời thanh xuân tươi đẹp nhất của mình. Anh sẽ không chép những chuyện ngựa hí, quân reo, đầu rơi, máu chảy, những chuyện này người ta đã chép cả rồi, chép từ thời I-li-át, Ô-đi-xê, từ thời Tam quốc chí diễn nghĩa, thời công phá Béc Lanh, thời Điện Biên Phủ. Anh sẽ chỉ chép lại một khía cạnh nhỏ mà anh gọi là sự nghiệt ngã của thông tin trong thời chiến.


Anh và Cúc xa nhau gần mười năm trời, vậy mà anh không hề biết một mảy may tin tức gì về Cúc, Cúc cũng chẳng hay biết chút gì về cuộc sống, cuộc chiến đấu của anh. Điều đó có nên chép lại không? Có là tàn nhẫn không? Sẽ có hàng ngàn lý do để biện minh cho nó. Anh biết vậy.


Nhưng điều này anh phải chép. Thằng An, bạn anh, nó hy sinh ngay khi vừa đặt chân đến Trường Sơn. Có nghĩa là nó đã hy sinh cách nay gần mười năm. Ai cũng biết điều đó, chỉ có vợ và con nó vẫn đinh ninh là nó còn sống. Sao vậy? Người ta không muốn trao cho vợ An tờ giấy báo tử, vì người ta sợ rối loạn hậu phương. Bao nhiêu bi kịch xảy ra xung quanh cái chết của người anh hùng ấy.


Mình cũng đang rơi vào bi kịch đó. Anh thở dài. Buông chân xuống sàn đứng dậy. Anh lết lại văn phòng bệnh viện, anh muốn gọi điện thoại cho anh Ba. Chắc anh ấy vẫn ở Ban biên tập.


Điện thoại đổ những hồi dài. Không người nghe máy.


Anh ra vườn hoa bệnh viện, ngồi trên chiếc ghế đá khuất dưới lùm cây.


Anh Ba đã biết tin mình ở chiến trường ra, thì nhất định Thế cũng đã biết. Chắc cậu ấy đi viết bài ở Hải Phòng. Anh hài lòng với ý nghĩ của mình.


Anh và Thế đều coi anh Ba là bậc huynh trưởng, là người thầy. Anh Ba làm báo từ hồi Đài phát thanh Nam Bộ. Anh vốn người nhỏ bé, xương xẩu, nhưng đôn hậu. Anh ít nói, ai mới tiếp xúc với anh đều cảm giác anh là người lãnh đạm. Cái bắt tay của anh mềm xèo, hững hờ. Nhưng tiếp xúc vài đôi lần đều bị cuốn hút vào cái nồng nhiệt chân tình của anh.


Mạnh cảm mến anh Ba ngay từ lần tiếp xúc đầu tiên. Lần ấy, Mạnh đưa bài cho anh Ba duyệt. Mạnh hồi hộp chờ đợi. Chừng hai giờ đồng hồ sau, anh Ba mới gọi Mạnh lên. Anh trả bài viết cho Mạnh với chi chít những gạch xóa và những chữ chữa của anh viết bên lề.


- Cậu đem đánh máy đi, rồi xếp vào chương trình thứ bẩy.


Anh vê điếu thuốc sâu kèn trong tay. Còn Mạnh cầm bài viết của mình với một tâm trạng khó tả. Bài bị chữa quá nhiều, vậy mà anh Ba lại quyết định phát vào chương trình tối thứ bẩy. Thông lệ, những bài phát vào chương trình tối thứ bẩy phải là loại bài hay, có chất lượng. Mạnh táo bạo hỏi anh Ba:


- Em viết còn dở lắm, phải không anh?


Anh Ba cười:


- Tư duy trừu tượng của cậu rất khá, văn chương của cậu khoáng đạt. Chỉ phải cái, cậu viết còn nhẹ quá, văn còn theo lối học trò, lời lẽ còn sáo. Đồng nghiệp của chúng ta vốn coi thường nghề viết báo phát thanh, lời lẽ của chúng ta không ghi lại bằng giấy trắng mực đen, không thể đọc bằng mắt, mà đọc bằng tai, văn chương tung tóe lên trời. Vì thế, cần phải viết sao cho mỗi câu văn có sức mạnh, sức thuyết phục, thì mới gây được chú ý cho những lỗ tai và mới làm xúc động được những trái tim. Muốn thế, phải có vốn sống, phải lao động cật lực. Đọc văn của cậu, mình tin là cậu có khả năng đi xa.


Anh trở về phòng làm việc. Chưa vội đưa bài xuống tổ đánh máy, anh thận trọng đọc lại bài viết của mình với những dòng chữ của anh Ba. Rõ ràng bài viết có chất lên hẳn.


Gần như tất cả những mỹ từ Mạnh sử dụng trong bài viết đều bị anh Ba gạch đi. Anh thay vào đó những chi tiết mộc mạc của đời sống tương đương với nghĩa của mỹ từ đó. Văn chương không còn cái mướt của ngôn từ, nhưng có sức nặng của chi tiết đời sống. Mạnh đã tìm ra bí quyết viết văn từ bài chữa đó.


Quan hệ giữa Mạnh và anh Ba chỉ là quan hệ đồng nghiệp, quan hệ cấp dưới và cấp trên thông qua các bài viết. Mạnh viết bài hăm hở đến nỗi chính anh Ba cũng phải ngạc nhiên về sức làm việc của Mạnh. Anh Ba hài lòng và tạo mọi điều kiện để Mạnh thâm nhập thực tế, viết bài. Quan hệ giữa hai anh em, hai thầy trò cũng vậy, càng ngày càng đằm thắm.


Trong một lần đi thâm nhập thực tế ngành đường sắt, anh gặp Thế. Thế đã gây ấn tượng mạnh với anh về một sức khỏe trâu bò. Thế vác trên vai từng thanh tà vẹt, chạy như bay dọc con đường đá đang mở tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai.


Thấy anh có vẻ trầm trồ về sức mạnh của Thế, người đội trưởng tên Linh, đang dẫn anh đi thị sát công trường, nói cho anh nghe đôi điều về Thế.


- Sức vóc cậu ta không thể chê được, cao ngoài thước bẩy, nặng hơn bẩy chục ký lô, bọn tôi kêu cậu ta là Thế Trâu. - Linh chép miệng. - Nhưng phải cái ham gái quá. Cậu ta mới về công trường được hai tháng nay mà đã có chuyện rồi. Tôi đang tính viết thư báo cáo với ông Trình trên Tổng cục, cậu ta là bà con ông Trình, ông dẫn cậu ta tới tận đây, gửi tôi giúp đỡ giáo dục. Chả là cậu ta can tội hãm hiếp con gái vị thành niên bị Hội liên hiệp phụ nữ kiện, nếu không phải miền Nam tập kết thì đi tù rồi. Ông Trình đỡ cho cậu ta khỏi tù, chỉ phải đi lao động cải tạo. Để chuộc lại tội lỗi, cậu ấy lăn vào công việc. Nhưng cái máu trắng vẫn chưa chừa, tối nào cũng vào làng dụ con gái. Tôi đã gọi cậu ấy lên ban chỉ huy đội, khuyến cáo, cậu ấy chỉ cười trừ, hình như không có đàn bà, cậu ấy không chịu được.


Anh biết là mình đã gặp được típ người lạ. Anh không chú ý đến chi tiết cậu ấy ham gái, mà chú ý tới chi tiết tập kết của cậu ấy.


- Thế người Nam?


- Hình như người Quảng Nam, Quảng Ngãi gì đó, tôi không rành.


Mối thiện cảm đồng hương len dậy trong anh. Anh quyết định ngay trưa đó đi tìm Thế.


Anh gặp Thế trong bếp ăn tập thể.


Cậu ta cúi đầu xuống tô cơm, ăn nhanh như một con hổ đói. Lúc này, ngoài tô cơm ra, cậu ấy chẳng cần biết chuyện gì khác. Anh ngồi đối diện Thế, nhìn Thế ăn mà ái ngại. Anh chưa đụng đũa vào tô cơm của mình. Chỉ chừng ba phút Thế đã ăn xong, anh lẳng lặng đặt tô cơm của mình trước mặt Thế:


- Mời anh, phần cơm của tôi đấy.


Thế hơi nheo mắt, có lẽ vì trước mặt mình một gương mặt lạ, mà cũng còn bởi lẽ anh nói giọng Quảng với Thế. Thế gật đầu, không nói một lời, vục cái muỗng vào tô cơm, hối hả như sợ anh đột ngột đòi lại phần cơm đó.


Anh ngồi quan sát Thế.


Cái dáng ngồi khom khom, vai rộng, mái tóc cứng như rễ tre đâm ra những ngạnh bờm xờm. Gương mặt to xương, đầy những thịt, trán một tảng, hai má hai tảng, cằm một tảng. Nước da xanh tái và dầy khiến những tảng thịt thâm xì, hằn những thớ. Cặp môi dòe như cái loa, ôm đầy những răng. Răng cái nào cái nấy to như bàn cuốc, vàng xỉn. Cậu này gồ quá, anh hơi ngán.


Hai tô cơm sạch bong. Thế lấy hai cái đũa quẹt ngang miệng. Cậu ta ngước mắt nhìn anh, nói thay lời cảm ơn.


- Lâu quá mới được bữa no.


- Anh tên Thế?


- Vâng. Nghe nói anh là nhà báo?


- Tôi muốn viết bài về anh em công nhân đường sắt.


- Anh để bài đó tôi viết cho, chắc chắn sinh động hơn các anh.


- Anh cũng viết báo?


- Tôi ôm mộng này từ nhỏ.


- Vậy thì hay quá. Anh viết đi, chúng tôi đang cần một bài viết về công nhân đường sắt.


- Tôi cứ viết rồi nhờ anh sửa cho.


- Đồng ý. Anh viết chừng hai ngàn chữ, khoảng bốn trang... Chúng tôi rất cần bài của cộng tác viên.


Thế bắt tay anh. Cảm giác tay mình quá nhỏ, lọt thỏm trong bàn tay đầy chai của Thế. May mà Thế không bóp mạnh, nếu bóp mạnh chắc chắn anh sẽ đau điếng.


Anh tiễn Thế ra công trường. Trời nắng chang chang. Anh nói với Thế thêm vài điều. Thế cũng người xứ Quảng. Vậy là đồng hương với anh. Anh viết địa chỉ của anh cho Thế, hẹn Thế có điều kiện về chơi. Thế nhận lời. Anh cảm thấy một sợi dây vô hình nào đó của tình bạn đã buộc anh với Thế.


Chủ nhật kế đó, Thế từ công trường về thăm anh. Trong bộ quần áo bảnh bao, sạch sẽ, bộ râu sắt được cạo nhẵn nhụi, Thế dễ nhìn hơn.


Thế vồ vập anh như là hai người đã quen nhau từ lâu. Thế đưa cho anh bài viết với cái cười mắc cỡ. Thế đưa cho Cúc (anh mới lấy Cúc chừng năm tháng) một con gà và hai trái dứa.


Hai anh em ngồi trò chuyện bên trai rượu trắng và thịt gà luộc, lòng gà xào dứa.


Thế kể cho anh nghe nỗi đau đắng hiện tại mà mình phải chịu đựng. Một quân nhân đã chuyển ngành, lại miền Nam tập kết. Vậy mà phải quần quật khiêng tà vẹt làm đường. Công lý ở đâu? Chuyện Thế ham gái là có thật, nhưng chuyện đó có đáng gì để Thế phải bị trừng phạt. Không hiểu sao mỗi lời nói của Thế anh đều thấy đúng cả. Nỗi thương Thế tràn ngập lòng anh.


(còn tiếp)


Nguồn: Linh hồn lang thang. Tiểu thuyết của Nguyễn Nguyên Bẩy. NXB Văn học, 11 - 2011.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 16.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »