tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21055783
12.08.2011
Hà Minh Đức
Nguyễn Đình Thi-Chim phượng bay từ núi (4)

3. Tiểu thuyết Mặt trận trên cao (1967)


Sau khi Vào lửa (1966) được xuất bản, Nguyễn Đình Thi viết tiếp Mặt trận trên cao, cuốn tiểu thuyết về không quân Việt Nam. Đây là thời điểm cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của không lực Hoa Kỳ tiến hành quyết liệt, dồn dập ở các tỉnh miền Trung rồi leo thang ra cả miền Bắc. Chống trả lại kẻ thù tàn bạo có hàng trăm trận địa cao xạ pháo với nhiều pháo thủ dũng cảm tài năng. Các trận địa của dân quân du kích dùng súng nhỏ cũng bắn cháy nhiều máy bay địch. Nhưng rồi sự trưởng thành của quân đội Việt Nam đã cho xuất kích những máy bay đầu tiên đánh thắng những trận đầu giòn giã. Trên bầu trời của đất nước nhiều người đã chứng kiến những trận không chiến giữa một bên là những “Thần Sấm”, “Con Ma” với hình thù quái đản, âm thanh uy hiếp địch thủ và một bên là những cánh én bạc của Mig 17, Mig 19… hiền lành, linh hoạt. Nhiều chiến sỹ lái máy bay đã lập thành tích cao với những ngôi sao đỏ xuất hiện ngày càng nhiều in trên thân máy bay. Nhiều anh hùng phi công được ghi nhớ từ Phạm Ngọc Lan, Nguyễn Văn Cốc, Trần Hanh cho đến Phạm Tuân. Nguyễn Đình Thi muốn được viết về binh chủng này. Viết bút ký thì chỉ có thể thụ động nghe những điều người ở trên cao kể và người dưới mặt đất ghi chép lại. Nguyễn Đình Thi sử dụng hình thức tiểu thuyết. Vấn đề khó khăn đầu tiên là phải có một cốt truyện gắn bó giữa bầu trời và mặt đất, giữa những người chiến đấu ở trên cao với cuộc đời thường nhật vốn gắn bó với họ.


Với Vào lửa Nguyễn Đình Thi đã xây dựng cốt truyện dựa trên chuyến khảo sát của tiểu đoàn trưởng Xuân vào vùng chiến sự kiểm tra một trận địa pháo đang chiến đấu. Cốt truyện phát triển theo chuyến đi kiểm tra trận địa pháo, gặp gỡ một số đơn vị và cán bộ trong công tác, thân quen một số người và kết thúc hành trình. Thời gian trong chiến tranh trôi nhanh không dừng lại, không dễ tạo được quan hệ gắn bó giữa các nhân vật để thân quen, thành chuyện. Cốt truyện của Vào lửa được phát triển từ một hành trình có tính chất bút ký. Nhà văn Tô Hoài nhận xét là loại hình già ký non truyện. Với Mặt trận trên cao, vấn đề càng khó khăn hơn. Nguyễn Đình Thi đã xây dựng được một cốt truyện đơn giản mà chân thực tạo điều kiện cho nhân vật hoạt động và phát triển. Khởi điểm là từ người chiến sỹ lái máy bay Lương đi học ở Nga về và đã đến lúc đem tri thức và tài năng phục vụ cho đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh. Lương có một gia đình, nhiều năm xa cách người thân và việc tìm gặp lại cô em gái là giáo viên sơ tán ở một vùng quê đã mở đầu lôi cuốn cho câu chuyện. Lương chưa có vợ, và từ cô em gái dẫn đến chỗ quen biết và có tình cảm thân thiết với Tuyến bạn gái của em. Cái kết thúc là khung cảnh đôi trai gái tâm sự trong đêm trăng, Lương cầm tay đang run rẩy của cô gái. Giữa hai đầu câu chuyện là các trận đánh. Gặp nhau rồi lại về đánh trận, và đánh trận thắng lại có dịp gặp nhau. Mặt trận trên cao đã có một kết cấu hợp lý đan xen giữa các khung cảnh chiến đấu và hòa bình của người lính trong chiến tranh.


Viết Mặt trận trên cao Nguyễn Đình Thi hiểu rõ những khó khăn của nhà văn khi miêu tả một binh chủng hiện đại. Nguyễn Đình Thi không dành nhiều trang viết về kỹ thuật của binh chủng không quân mà chủ yếu là quan tâm đến con người, những chiến sỹ không quân.


Nguyễn Đình Thi đã miêu tả được sức mạnh đồng đội của các phi công. Trên trời cao họ không cô đơn mà gắn bó với nhau, chi viện cho nhau trong chiến đấu. Một tình huống được miêu tả chi tiết khi Sáu cứu Lương thoát hiểm: “Nghe Sáu gọi, Lương giật mình bẻ mạnh cái cần lái và đạp chân, máy bay của anh ngoặt dữ dội, rùng lên một cái thì vừa vặn một vệt sáng dài trượt vút qua ngay sau đuôi. Tên lửa! Bị bám phía sau rồi. Lương vẫn dồn sức vào hai tay kéo cái cần lái, trên hai vai, sống lưng, trên khắp người anh như có một bức tường đồng nghiến xuống, mắt anh bật đom đóm, chiếc mích vọt ngửa, rít lên kêu re re, re re, những đám mây, những mảng trời xanh, những chỏm núi, những mảng rừng đuổi nhau, quay nhanh trước mắt anh. Một vạch tên lửa lại trượt qua, rồi một chiếc “Con ma” đầu nhọn múp trượt đà văng ra bên phải Lương. Nó vội vã kéo lên cao trước những làn đạn lửa đang chớp chớp đuổi theo nó. Lương thấy chiếc mích của Sáu nghiêng bụng cong cong vụt lên rượt theo thằng địch và bắn thêm một loạt đạn nữa. Lương hiểu Sáu vừa cứu anh thoát nguy hiểm” .


Những nỗ lực của các chiến sỹ trong học tập rèn luyện và chiến đấu thể hiện rõ ý chí kiên cường của một binh chủng mới vừa có sức mạnh truyền thống vừa hiện đại. Tuy cũng không có gì quá khác biệt với những người lính của binh chủng khác nhưng ở mỗi người cũng hình thành một phong cách làm việc, sinh hoạt và chiến đấu riêng. Tình yêu Tổ quốc với những chiến sỹ không quân cũng thường xuyên được bồi đắp bằng biết bao hình ảnh tươi đẹp của đất nước. Dưới cánh bay là dòng sông trong xanh của quê hương, dãy núi phủ trắng mây mờ, rồi hình ảnh làng mạc thân yêu. Không thể nào để cho kẻ thù xâm phạm. Nguyễn Đình Thi với ngòi bút sắc sảo và đằm thắm tình yêu đã miêu tả rất gợi cảm những hình ảnh quê hương từ tầm nhìn trên cao. Và trực tiếp hơn là tình yêu giữa con người với con người. Nguyễn Đình Thi đã miêu tả với nhiều xúc động tình cảm giữa Lương và Đào, hai anh em gặp nhau sau nhiều năm xa cách. Thật quen thuộc và như không có gì mới cả, nhưng sao vẫn gợi nhiều xao động với người đọc giữa người chiến sỹ không quân và cô em gái ở một làng quê sơ tán. Và rồi nữa là quan hệ tình cảm giữa Tuyến và Lương. Đôi trai gái này đến với nhau như đã hẹn trước, tin cậy, quý mến rồi yêu thương. Chất trữ tình trong Mặt trận trên cao bộc lộ rõ trong quan hệ tình cảm giữa các nhân vật. Nhà phê bình Trịnh Xuân An nhận xét: “bằng những nét bút khỏe, linh hoạt, khái quát Nguyễn Đình Thi đã làm nổi lên không những cái mối tình truyền thống trong những gia đình của các tầng lớp cơ bản Việt Nam mà còn làm bật lên hình ảnh cần cù tháo vát và những đức tính đẹp đẽ của người đàn bà Việt Nam nói chung và của người phụ nữ “ba đảm đang” ở thời đại anh hùng của ta nói riêng”. Một số nhà phê bình đã sâu chuỗi các nhân vật phụ nữ trẻ của Nguyễn Đình Thi từ cô Lý trong Xung kích, Quyên và An trong Vỡ bờ, rồi Lích trong Vào lửa, Đào và Tuyến trong Mặt trận trên cao. Họ đều là những nhân vật đáng yêu mang đậm nét của người phụ nữ dân tộc, giàu tình cảm, sống vị tha và có trách nhiệm xã hội cao nhất là trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh. Các nhân vật nữ góp phần làm cho những bức tranh xã hội được miêu tả thêm chân thực, gợi cảm. Mặt trận trên cao đi vào một đề tài khó nhất là khi người viết không phải là người trong cuộc. Phải học hỏi tỉ mỉ để có trang viết chính xác nhất là việc miêu tả sử dụng vũ khí hiện đại. Trước đây viết tiểu thuyết Bốn năm sau Nguyễn Huy Tưởng đã phải trao đổi nhiều lần với chiến sỹ tháo gỡ bom mìn ở trận địa Điện Biên Phủ khi cần tả một chiến sỹ bị mìn nổ làm cụt chân. Tình huống, các động tác và hậu quả xấu diễn ra cụ thể như thế nào để tránh nhầm lẫn. Chắc chắn là Nguyễn Đình Thi có tham khảo các tác phẩm viết về không quân của Saint Exupéry nhà văn nổi tiếng Pháp về lĩnh vực này. Nguyễn Đình Thi nói như một vài nhà phê bình là đã bạo dạn đi vào những đề tài mới. Ở đây chắc chắn là mọi việc sẽ diễn ra quyết liệt thậm chí khốc liệt. Đâu là những trận chiến đấu nẩy lửa, bom đạn, sắt thép, khói lửa, chiến trường đang dồn các nhân vật vào chân tường, vào cõi chết. Đâu là sự chống chọi cao nhất, quyết liệt nhất của các nhân vật trước thế lực hung hãn bạo tàn. Vào lửa cũng như Mặt trận trên cao còn ít những trang viết như thế. Nguyễn Đình Thi không dễ hư cấu vào khu vực hiểm yếu này mà chủ yếu là hư cấu vào các mối quan hệ trong đời sống giữa các nhân vật. Tác giả không muốn tường thuật đơn giản, gò bó theo sự việc nhưng cũng bị những giới hạn chặt chẽ của đối tượng miêu tả là không quân. Có lần anh tâm sự: “Như anh biết đấy, tôi không muốn viết người thật việc thật. Sự thật tuy hấp dẫn nhưng nhiều khi như vít chặt người viết vào dòng sự kiện, không thể tưởng tượng bay bổng theo chủ định của mình được. Cả Vào lửa lẫn Mặt trận trên cao đều là truyện vừa, những tiểu thuyết nhỏ linh hoạt về chiến tranh mà sự phân biệt cơ bản với truyện ký là có hư cấu nghệ thuật. Vả lại với Mặt trận trên cao, tác phẩm viết về bộ đội không quân mà viết theo truyện ký, thì tôi chỉ là người ghi lại lời kể của chiến sỹ lái máy bay thôi. Tôi không thể thụ động như thế mà muốn nói về một cái gì rộng hơn, sâu sắc hơn” .


Xung kích (1951), Vào lửa (1966), Mặt trận trên cao (1967)… những cuốn tiểu thuyết về chiến tranh cách mạng được viết trong không khí của chiến trường và đáp ứng kịp thời nhu cầu phản ánh hiện thực trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trước hết phải thừa nhận sự nhạy cảm và ý thức trách nhiệm thường trực của nhà văn trước cuộc sống. Nói đến tiểu thuyết là nói tới một thể loại đòi hỏi người viết phải biết tích lũy vốn sống, có thời gian để khảo sát nghiên cứu đối tượng rồi tổ chức kết cấu tác phẩm. Trước hết là một đường dây cốt truyện. Có thể người viết đã chuẩn bị đầy đủ những chất liệu, những mẫu hình nhân vật nhưng chưa có cốt truyện cũng khó thực hiện tác phẩm. Gogol đã từng nói lên khó khăn đó khi viết Quan thanh tra và Goethe với Những nỗi đau khổ của chàng Vectơ. Phải chờ đợi trong một thực tế không thể chờ đợi. Nguyễn Đình Thi đã nỗ lực nhưng chỉ thực hiện được cái mức “già ký non truyện” như cách nói của Tô Hoài. Trong sáng tác văn nghệ người ta thường nói tới những bài thơ thời sự hoặc văn xuôi với các thể ký. Còn với tiểu thuyết có trường hợp phải chờ đợi cho sự việc và dòng đời lắng sâu, phải có khoảng cách. Có những cuốn tiểu thuyết ra đời chậm hơn, sự kiện xảy ra hàng chục năm và nhiều hơn nữa. Nguyễn Đình Thi muốn xóa bỏ khoảng cách vì yêu cầu phục vụ kịp thời cuộc sống và hơn nữa đây là đề tài chiến tranh, chiến tranh đang tiếp diễn. Có thể gọi những sáng tác này là loại “tiểu thuyết thời sự”. Nguyễn Đình Thi xem đây là tiểu thuyết, vì có hư cấu nghệ thuật. Hư cấu nghệ thuật vẫn là mặt mạnh của ngòi bút Nguyễn Đình Thi. Người nghệ sỹ không muốn bị ràng buộc gò bó trong phạm vi của sự thực. Sự thực nhiều khi như cái khung chi phối, hạn chế cảm hứng sáng tạo. Chính tác giả khi có điều kiện đã vận dụng trí tưởng tượng đến mức tối đa để tạo nên bức tranh xã hội lớn trong Vỡ bờ.


Những cuốn tiểu thuyết về chiến tranh của Nguyễn Đình Thi được viết bằng vốn sống trực tiếp. Trăm nghe không bằng một thấy, nhà văn là người chứng kiến hay đúng hơn là trong cuộc, người cầm bút cũng là người cầm súng. Chính vốn sống mà nhà văn thu nhận được trong chiến tranh là vốn quý tạo nên cốt cách, xương thịt và thổi hồn vào tác phẩm. Viết về thời kỳ trước Cách mạng tác phẩm trải rộng ra nhiều miền đất, nhiều chặng đường lịch sử, miêu tả nhiều lớp người mà người viết chưa có điều kiện tiếp sức, nên trong Vỡ bờ các mảng sống không đồng đều, có những trang viết còn sơ lược. Với các tác phẩm viết về chiến tranh, Nguyễn Đình Thi sử dụng vốn sống trực tiếp nhưng lại bị khuôn lại trong một trận đánh, một chuyến đi nên không dễ phát huy, mở rộng. Cái khó cũng là vấn đề thời gian, thời gian gấp rút, thời gian vàng của thời cuộc chiến tranh. Nguyễn Đình Thi đã viết: “Trong những năm chiến tranh tôi có rất ít thì giờ để viết. Và nhiều khi viết ở một nơi giữa đường cho đến sau chiến tranh, thời gian thật sự ngồi làm việc trước trang giấy vẫn không được bao nhiêu. Muốn viết một tác phẩm dài có quy mô, là phải làm việc trong những khoảng thời giờ cắt xén rải rác. Còn thường mỗi lần cầm đến bút là khác nào phải tìm cách dồn hết tinh lực của mình vào những tác phẩm viết trong thời gian ngắn trong hoàn cảnh đời sống hàng ngày còn nhiều bề bộn, gieo neo chung của mọi người” . Nguyễn Đình Thi viết nhanh nhất là với tác phẩm về đề tài chiến tranh. Xung kích được viết ra trong khoảng 40 ngày. Vào lửa xuất bản năm 1966 và tiếp theo nhanh là Mặt trận trên cao xuất bản 1967. Có một tác phẩm mà tác giả đầu tư nhiều công sức và thời gian vì tính chất quy mô của chiến dịch lớn, vì tinh thần trân trọng công việc nhưng cuối đời vẫn không thực hiện được: cuốn tiểu thuyết về Điện Biên Phủ. Trực tiếp tham gia chiến dịch, và người viết khao khát có một tác phẩm có tầm cỡ về Điện Biên Phủ. Nguyễn Đình Thi luôn tâm niệm và nuôi dưỡng hoài bão và cảm hứng về tiểu thuyết Điện Biên Phủ. Nhưng rồi thời gian lôi cuốn đi hết chiến tranh chống Pháp, đến chống Mỹ, đất nước thống nhất, rồi công cuộc đổi mới… tất cả đều gấp rút. Có lần nhà văn tâm sự: “Viết về Điện Biên Phủ phải có những trang xứng đáng, hấp dẫn. Nhiều công việc phải khảo sát lại từ đầu, tháng nào hoa ban nở, tháng nào con suối cạn, phải có mặt ở chiến trường cũ, để tìm hiểu dấu vết cái gì còn, cái gì đã mất và gặp lại những con người tiêu biểu góp phần làm nên chiến dịch. Phải có nhiều thời gian để tạo cảm hứng cho trang viết”. Và nhà văn bị lôi cuốn vào công việc, và chỉ đủ thời gian để viết những cái ngắn. Điện Biên Phủ đề tài thiêng còn phải chờ đợi… Rất tiếc cuốn tiểu thuyết dài hơi, tâm huyết đã không đến. Thời gian của cuộc đời không chờ đợi.


Thế kỷ XX đã kết thúc, nhiều cuốn tiểu thuyết về chiến tranh đã được viết ra khi chiến trường đã im tiếng súng. Một thế hệ những nhà văn chiến sỹ cầm bút, cầm súng lăn lộn nơi chiến trường đã góp phần xây dựng.


II. VỠ BỜ, MỘT THÀNH CÔNG CỦA


TIỂU THUYẾT VIỆT NAM HIỆN ĐẠI


Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, hòa bình được lập lại, văn học chuyển sang một chặng đường mới. Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, đất nước bước vào giai đoạn khôi phục, phát triển kinh tế, văn hóa. Văn học mở rộng đề tài. Một số nhà văn như Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Nguyên Hồng… trở lại với đề tài trước Cách mạng. Nguyễn Công Hoan viết Tranh tối tranh sáng, Tô Hoài viết Mười năm, Nguyên Hồng với Sóng ngầm, Cơn bão đã đến những tập đầu của bộ Cửa biển (4 tập). Thành công có thể khác nhau nhưng rõ ràng các nhà văn muốn khai thác, miêu tả một thời kỳ lịch sử phức tạp vận động dưới sự lãnh đạo của Đảng để cách mạng thành công. Nguyễn Đình Thi là nhà văn sống chủ yếu ở thời kỳ sau cách mạng, nhưng ông cũng đã sống và hoạt động ở một chặng đường lịch sử quan trọng từ 1941-1945 trong xã hội cũ. Nguyễn Đình Thi đã viết Vỡ bờ, bộ tiểu thuyết dài (2 tập) về phong trào Cách mạng và tình hình xã hội thời kỳ trước 1945. Quyển I của Vỡ bờ mở ra một hiện thực theo hai chiều rộng và sâu nhưng chưa toàn vẹn. Có những cảnh ngộ còn dang dở, nhân vật tiếp tục trên chặng đường đi của mình, nhưng cũng có những cuộc đời đã khép lại. Thế giới nhân vật trong Vỡ bờ đang bị lịch sử xô đẩy trên một chặng đường gay gắt và nhiều thử thách nhất của thời kỳ 1939-1945.


Nội dung hiện thực của Vỡ bờ được giới thiệu trên một quy mô rộng rãi. Cuộc đời ở đây mở ra trên nhiều nẻo đường khác nhau từ nông thôn đến thành thị, từ những cuộc sống quyền quý sang trọng đến những cảnh ngộ tối tăm cực nhọc nơi ngoại ô, thôn dã.


Người đọc bắt gặp trong tác phẩm đủ loại người khác nhau: từ bọn Pháp thực dân, phát xít Nhật, bọn quan lại, địa chủ, tư sản đến các tầng lớp tiểu thương, tiểu chủ, công chức, thầy giáo, họa sỹ, nhạc sỹ, chiến sỹ cách mạng, công nhân, nông dân, người làm thuê, người thất nghiệp v.v… Những con người đó gắn bó và ghép lại bên nhau với nhiều quan hệ phức tạp. Có người sống có lý tưởng cao cả, có người sống an phận thủ thường lại có người ham sống, sợ chết hèn hạ tồi tệ. Có những quan hệ yêu thương trân trọng nhau của tình đồng bào đồng chí, có những quan hệ bóc lột, giằng xé, chà đạp, vùi dập nhau. Có những mối tình trong sáng thiết tha, tin yêu chung thủy, lại có những mối tình gò ép, vụng trộm đổ vỡ trên tiền tài danh vị và lòng đố kỵ, thù ghét nhau.


Nguyễn Đình Thi đã cho nhân vật của mình hoạt động đan đi đan lại trên môi trường rộng lớn của ba địa điểm Hải Phòng, Hải Dương, Hà Nội.


So với các truyện dài gần đây thì cuộc sống trong Vỡ bờ được mở rộng hơn cả. Đó là một thuận lợi, nhưng cũng là một khó khăn không nhỏ cho người viết. Nguyễn Đình Thi muốn dựng lại cả giai đoạn lịch sử của thời kỳ Đại chiến Thế giới lần thứ hai trên khuôn mặt toàn vẹn của xã hội. Tác giả Vỡ bờ muốn phát hiện và nêu lên quy luật vận động của cả thời đại đang bị cuốn hút theo cơn bão táp của xã hội, để đi đến một cuộc đổi đời, một cuộc cách mạng vĩ đại và triệt để nhất.


Như thế nghĩa là qua khâu trung tâm của tác phẩm, phải thể hiện được phong trào đấu tranh cách mạng âm ỉ, phát triển, và bùng cháy trong lòng cuộc sống và thái độ của mọi tầng lớp trong cuộc đấu tranh đó.


Việc thể hiện yêu cầu nội dung tư tưởng trên, đòi hỏi ở tác giả một năng lực nhận thức và khái quát lớn; môi trường hoạt động của tác phẩm tuy có rộng lớn, khối lượng nhân vật tuy có đông đảo và có mặt ở khắp nơi, nhưng trong Vỡ bờ họ đã tụ họp một cách tự nhiên, trong những mối liên hệ khá chân thực.


Nguyễn Đình Thi đã vận dụng hai địa bàn chủ yếu để cho nhân vật hoạt động trên những chiều hướng tác động qua lại với nhau: thành phố và nông thôn, hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng và vùng quê của tỉnh Hải Dương.


Thể hiện bộ mặt xã hội và tương quan giai cấp thời kỳ đó thông qua những kiểu người cụ thể. Nguyễn Đình Thi đã khắc họa ra, phản ánh được nhiều mặt phong phú khác nhau của đời sống, của nhiều tầng lớp khác nhau ở nông thôn và thành thị, Vỡ bờ là một bức tranh về đời sống được xây dựng công phu, hợp lý và có giá trị chân thực.


Tuy nhiên do chỗ hiện thực của tác phẩm được mở ra quá rộng lớn, nên trong Vỡ bờ có những phần còn non yếu về vốn sống.


Nhược điểm về vốn sống thể hiện ở nhiều cảnh sống được giới thiệu chung chung mà người đọc nghĩ rằng mình đã cảm, đã nghe đây đó trong cuộc đời. Những khung cảnh đó thiếu phần gợi cảm sâu sắc và mới lạ, thiếu sự đóng góp và phát hiện riêng của tác giả. Cuộc sống ở vùng nông thôn ven bờ sông Lương chưa được miêu tả làm bật lên cái khí sắc riêng của vùng này. Nói đến những cảnh đời nghèo khổ, đói ăn thiếu mặc của người nông dân nghèo ở làng Chẩm, làng Gành, nói đến những thủ đoạn gian ác bóc lột, những lề thói xa hoa trụy lạc của bọn địa chủ, Nguyễn Đình Thi nói đúng, nói đủ, nhưng vẫn thiếu cái nhìn và phát hiện riêng của tác giả. Chắc chắn là còn thiếu sự trải nghiệm trực tiếp đối với đời sống nông thôn như Ngô Tất Tố, Nam Cao, hoặc với đời sống thành thị như Vũ Trọng Phụng. Dù sao trong tuổi trẻ học sinh sinh viên của mình ông là một thanh niên thành phố. Do đó qua Vỡ bờ những chương viết về thành phố thường có khí sắc và nhuần nhuyễn hơn những chương viết về nông thôn, viết về quan hệ tình cảm thường chắc tay và truyền cảm hơn viết về những cảnh đời sinh hoạt lam lũ, khổ cực.


Qua Vỡ bờ tác giả vận dụng nhiều đến vốn sống gián tiếp, mà còn thiếu sự thể nghiệm trực tiếp. Đành rằng nhà văn có thể sử dụng vốn sống gián tiếp nhưng vốn sống đó phải được bồi đắp đến mức có thể thay thế được kinh nghiệm trực tiếp. Ở Nguyễn Đình Thi, chưa thể hiện được đầy đủ điều đó.


Đi vào xây dựng những tiểu thuyết dài, bên cạnh vốn sống là vấn đề quan điểm nhận thức. Nếu không có một quan điểm nhận thức đúng rất có thể tác phẩm phản ánh sai lệch bộ mặt xã hội.


Quan điểm nhận thức của Nguyễn Đình Thi trong Vỡ bờ sắc sảo và đúng đắn. Nguyễn Đình Thi muốn gọi đúng tên, đặt đúng chỗ, đánh giá đúng bản chất của từng kiểu người và tầng lớp trong mối tương quan chung của xã hội. Cái nhìn của tác giả đối với phong trào cách mạng, với bè lũ thống trị và lớp người giàu có, với các tầng lớp dân nghèo và quần chúng lao động đều đúng đắn, đánh giá chính xác vị trí khả năng và việc làm của mỗi loại người và từng cá thể.


Các nhân vật trong Vỡ bờ đều được khai thác hết mặt tốt đẹp của họ, đặc biệt là lớp trẻ. Ở làng quê chúng ta bắt gặp những khuôn mặt hiền lành nhưng có vẻ đẹp bên trong của tình thương yêu và lòng nhân hậu. Lớp nam nữ thanh niên như Xoan, Quế, Mầm, Côi không khác gì những thanh niên ở nông thôn thời kỳ sau Cách mạng, nhưng họ lại phải gánh chịu bao bất công, đau khổ thậm chí tan tác, chia lìa. Xoan là một gương mặt đẹp, hiền lành tưởng như người con gái đó sinh ra trong mái ấm để hưởng hạnh phúc gia đình, nhưng lại chịu nhiều bất hạnh. Quế cũng để lại được trong lòng người đọc một cái gì bồi hồi thương tiếc. Quế là một cô gái tốt, bị xã hội dồn đến chỗ cùng nhưng luôn có những biểu hiện chống đối của một tâm hồn giàu sức sống và tình cảm nồng cháy. Viết về cuộc đời lam lũ, nghèo khổ ở làng quê Nguyễn Đình Thi không có những trang viết đớn đau về những nhân vật tự kết thúc đời mình như Chí Phèo, lao vào đêm tối như Chị Dậu hoặc giơ hai cánh tay bị trói lên kêu giời như anh Pha trong Bước đường cùng. Tác giả vẫn dành cho họ một mảnh đất xanh tươi để sinh sống, một mái ấm để hưởng hạnh phúc riêng, một mảnh trời nhỏ để mong ước. Cách nhìn nhân hậu ấy là hợp lý. Cùng viết về cuộc đời của các tầng lớp dân nghèo ở thời kỳ trước Cách mạng, một số nhà văn chưa nhìn thấy và khai thác hết cái tốt trong họ. Ở đâu cũng thấy cuộc đời khổ cực quá, tối tăm quá, ở đâu cũng nghèo khó, tội lỗi và bệnh tật. Nếu đời sống của lớp nghèo trong xã hội cũ chỉ có thế, thì làm sao con người có thể sống được?


Các nhân vật trong Vỡ bờ được dựng khá công phu, có tính cách đã ổn định, có tính cách đang chuyển hóa. Quá trình phân hóa của các nhân vật là quá trình thúc đẩy một số nhân vật đi vào hoạt động cách mạng và một số sẽ đi theo chiều hướng phản cách mạng. Nguyễn Đình Thi đặc biệt chú ý lớp cán bộ cách mạng, nòng cốt của phong trào, động lực phát triển xã hội. Nguyễn Đình Thi đã dựng những người cán bộ cách mạng và lớp quần chúng lao động giác ngộ cách mạng thành hình ảnh trọng tâm làm nền cho tác phẩm. Hình ảnh của Khắc, người cán bộ cách mạng suốt đời phấn đấu không mệt mỏi cho lý tưởng, đã để lại những ấn tượng khá sâu sắc cho người đọc. Ở nhân vật Khắc toát lên nhiều nét tươi đẹp của một người hoạt động cách mạng chân chính. Khắc là một cán bộ tốt của phong trào, người con hiếu thảo của gia đình, người bạn tốt và chung thủy của mọi người và là người chiến sỹ sắt đá trước kẻ thù. Dựng nhân vật Khắc, Nguyễn Đình Thi đã chú ý nhiều đến nhiều mặt khác nhau của nhân vật trong quan hệ với đoàn thể, gia đình, vợ con, yêu đương, bè bạn… Nhân vật Khắc có ý nghĩa giáo dục, gây được lòng cảm mến ở người đọc. Xây dựng, chăm sóc, vun vén cho nhân vật nhưng ở thời điểm nhân vật phát triển đến điểm cao nhất thì Khắc đã hy sinh. Cái chết của Khắc gây bao tiếc thương và làm cho câu chuyện có phần hẫng hụt. Một lần Nguyễn Đình Thi giải thích về sự việc này. Theo tác giả thì đa số các cán bộ hoạt động trong thời kỳ Mặt trận dân chủ đều chịu đựng nhiều, tù đày, tra tấn, bệnh tật nên nhiều người đã hy sinh. Khắc mất nhưng còn bạn bè, đồng chí sẽ tiếp nối công việc của anh. Cái chết của nhân vật có thể là một dụng ý của tác giả.


Bên cạnh Khắc là hình ảnh của An, người con gái có đôi mắt đen mở ra một chiều sâu của tâm hồn và một đời sống tình cảm giầu có. An là một nhân vật có nét truyền thống. An có một tâm hồn trong sáng tin yêu, và lòng tin vào lý tưởng đã giúp cho người con gái này có được một tình yêu đẹp đẽ, biết hy sinh. Ngay từ một số nét ban đầu An đã lấy được cảm tình ở người đọc; tình yêu giữa Khắc và An gần như là một sự gắn bó tự nhiên không khác được. Hình ảnh của An nức nở bên chiếc áo len, hình ảnh của An bị xô đẩy trong sóng gió của cuộc đời từ khi Khắc bị bắt đã làm cho nhân vật này có chiều sâu nội tâm và được cảm mến.


Nguyễn Đình Thi đã lưu ý nhiều đến phần nội tâm, đến sự thể hiện tình cảm của nhân vật trong quan hệ đối xử giữa người và người, nên nhân vật của anh nói chung đều có dáng dấp và màu sắc riêng, đều có sự gợi cảm từ bên trong của nhân vật. Lối thể hiện đó đặc biệt thích hợp với lớp nhân vật phụ nữ. Đọc Vỡ bờ, có lẽ những hình ảnh đậm đà, gợi cảm thấm sâu vào lòng người đọc là những hình ảnh khác nhau của các nhân vật phụ nữ như An, Xoan, Quế, Quyên đều là những nhân vật dễ cảm mến và mỗi người đều có cuộc sống riêng phong phú. Khi nói về các nhân vật trong Vỡ bờ, Nguyễn Đình Thi nói vui là nhân vật chính được yêu thích của Vỡ bờ là phụ nữ và trẻ em. Trong các nhân vật phụ nữ có lẽ Phượng là nhân vật đặc biệt hơn cả. Phượng cô gái con nhà giàu có ở Hàng Đào. Phượng đẹp và ham cuộc đời giàu sang khi lấy chồng là huyện Môn rồi cuốn vào cuộc tình với Thanh Tùng, họa sỹ chạy theo mốt thời thượng và cứ thế người đàn bà đẹp này chán nản và thất vọng. Một mặt Phượng cũng là người tốt muốn được giải thoát trước hoàn cảnh. Trong tuổi học trò Phượng yêu Tư một họa sỹ nghèo, có lương tâm trong nghề nghiệp. Tình yêu ấu không mất đi nhưng cũng không giúp gì cho Phượng khi đã dấn sâu vào hoàn cảnh khác biệt.


Hình ảnh của lớp người trí thức và văn nghệ sỹ trong Vỡ bờ cũng có nhiều nét gợi cảm và dáng dấp đặc biệt. Từ hình ảnh của hai cuộc đời trái ngược và hai quan niệm nghệ thuật đối lập nhau của hai họa sỹ Tư và Thanh Tùng, rồi số phận luôn bị đe dọa của nhạc sỹ Toàn, của thầy giáo Hội, đã nói lên cái bế tắc của đời sống và sự phân hóa của lớp người này. Họ đang sống trong cảnh tù túng với cuộc sống rủi ro, con đường đi tới của nghệ thuật còn mờ tối; ước mơ, hoài bão và sự nghiệp đang mất dần trước sự hủy hoại của đời sống. Nói chung, với lớp người trung gian này ở môi trường thành thị Nguyễn Đình Thi có dịp gần gũi và anh am hiểu tường tận hơn, nên tác giả khai thác được nhiều vẻ, nhiều mặt của hành động và tâm lý nhân vật.


Trong hệ thống tính cách nhân vật của Vỡ bờ, có những nhân vật còn mờ nhạt. Có thể những nhân vật đó giữ vai trò thứ yếu, hay có thể hình bóng của họ sẽ được phát triển đậm đà sâu sắc hơn ở tập 2. Người đọc dễ lẫn lộn giữa những tên bá Soạn, nghị Khanh, chánh hội San; rồi lớp người nghèo ở thành phố bên bờ sông Cửa Cấm, bờ sông Tam Bạc, cũng không có hình ảnh nào bật lên rõ nét. Trong những nhân vật hoạt động cách mạng, hình ảnh của Khắc như choán hết các nhân vật khác, nên khi Khắc chết đi cũng gây khó khăn cho tác giả trong việc thay thế nhân vật chính.


Nhưng có lẽ vấn đề quan trọng hơn được đặt ra trong Vỡ bờ là tính cách của một số nhân vật được khai thác chưa toàn diện.


Tác giả Vỡ bờ thiên về khai thác và xác định tính cách nhân vật trong quan hệ tình cảm và xử lý đời sống, đặc biệt là trong tình yêu và tình cảm gia đình, tình bạn bè, đồng chí. Những chương viết về những quan hệ tình cảm trên đều khá thành công. Ngòi bút tế nhị của Nguyễn Đình Thi nhiều lúc tỏ ra tinh tế sắc sảo, bay bổng trong lĩnh vực này. Mối tình thầm kín như giữa Xoan và Mầm, mối tình nồng cháy giữa Côi và Quế, tình cảm trong sáng thiết tha giữa Khắc và An, tình chồng vợ gượng ép của Phượng và huyện Môn, và quan hệ vụng trộm giữa Phượng và Thanh Tùng v.v… nói chung những trang viết này đều được khai thác vào chiều sâu tâm lý và tình cảm, nên có sức hấp dẫn. Nhưng nếu các nhân vật được xác định và hình thành chỉ trên những phương diện đó thì không đủ, cần phải khai thác sâu hơn trong những biểu hiện phức tạp khác nhau của đời sống. Các nhân vật của Vỡ bờ đều chưa được thử thách đầy đủ trong sinh hoạt, lao động, đấu tranh, trực tiếp trên mặt trận chính trị, kinh tế. Những chương viết về lao động và bóc lột giữa nông dân và địa chủ, giữa thợ thuyền và bọn tư bản thực dân đều còn vướng vào tính chất ước lệ chung, thiên về phần kể mà thiếu những sự kiện và tình tiết chân thực, có sức thuyết phục, nẩy lên từ bản thân đời sống.


Từ đó cho nên có những nhân vật, tuy gây được sức cảm mến ở người đọc, nhưng màu sắc giai cấp và nguồn gốc xã hội lại còn mờ nhạt. Lấy ví dụ như lớp người bên bờ sông Lương cũng ít nhiều vướng vào nhược điểm đó, gia đình ông đồ Giao, gia đình cụ Tú Mai đều chưa được giới thiệu rõ nét về mặt đời sống, cơ sở giai cấp, và cả những nhân vật như Mầm, Côi, Quế, Quyên v.v… bên cạnh sự thể hiện thành công trong quan hệ tình cảm cũng cần có sự miêu tả thêm về những biểu hiện cụ thể trong lao động, sinh hoạt, quan hệ giai cấp. Một ưu điểm rất đáng kể của Vỡ bờ là nghệ thuật thể hiện. Nội dung hiện thực trong Vỡ bờ được tổ chức trong một kết cấu chặt chẽ. Tác giả Vỡ bờ cũng biết nghiêm khắc với ngòi bút của mình. Trong cách xây dựng nhân vật, miêu tả cảnh ngộ, anh biết cân nhắc, chọn lọc những sự việc tiêu biểu, những tâm trạng sâu sắc, không dễ dãi tham lam, biết tránh không bị cuốn theo những thị hiếu dễ dãi. Ngôn ngữ trong Vỡ bờ giữ được tính trong sáng và gợi cảm. Nguyễn Đình Thi đã khéo vận dụng ngôn ngữ đó trong miêu tả người và cảnh. Từ những cánh đồng bát ngát ven bờ sông Lương, đến khung cảnh tấp nập ồn ào của dòng sông Cửa Cấm, tất cả đều gợi lên một cái gì thân yêu, gần gũi với dân tộc.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi. Chuyên luận, trò chuyện và ghi chép của Hà Minh Đức. NXB Văn học sắp ấn hành.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »