tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21054420
10.08.2011
Hà Minh Đức
Nguyễn Đình Thi-Chim phượng bay từ núi (2)

Thơ Nguyễn Đình Thi càng ở vào chặng đường sau càng nặng chất suy nghĩ và thấm sâu tình cảm nhân đạo. Tình yêu của tuổi trẻ mở ra và lắng sâu trong tình yêu cuộc đời và con người. Nguyễn Đình Thi nhìn cuộc đời từ nhiều phía, niềm vui hiện tại và nỗi hư vô của mai sau, những đau khổ và giới hạn của con người. Thơ Nguyễn Đình Thi có những tâm trạng buồn nhưng không ảm đạm, tuyệt vọng mà trong mạch sâu kín vẫn là lòng thiết tha yêu cuộc sống, ý thức trách nhiệm với đời.


Và trong những ý nghĩ sâu thẳm về cuộc đời và con người, tác giả vẫn tuyệt đối tin tưởng vào con người. Con người sống phải biết cần đến nhau. “Một tâm hồn cần có một tâm hồn khác”, cần phải biết dựa vào nhau và biết yêu thương nhau. Cho dù là một tình cảm lớn hay “niềm nhỏ” cũng phải có hạt nhân của sự yêu thương:


Hỡi người sắp đi xa, người có muốn đem theo gì không?


Tôi chỉ mong được một vài ánh mắt nhìn quyến luyến


Người có muốn gửi lại gì không?


Chút nắng ấm cho người tôi yêu thương


(Niềm nhỏ)


Nguyễn Đình Thi cũng có những đóng góp quan trọng về nghệ thuật kịch. Quan niệm của ông về kịch tuy chú ý đến đặc trưng thể loại nhưng cũng không ở ngoài quan niệm chung về văn học cách mạng. Kịch cách mạng trước hết cũng phải hướng về phản ánh những vấn đề, những xung đột của hiện thực cách mạng để chỉ ra hướng vận động phát triển của phong trào, không thể gò cuộc sống lớn lao vào những khuôn mẫu chật hẹp. Nói về kịch cổ điển Pháp vốn có ảnh hưởng nhiều đến kịch Việt Nam, ông nhận xét: “Những kịch đó phần nhiều gò bó trong những khuôn khổ chật hẹp như những bài thơ Đường bố trí một cách đơn sơ quá, không hợp với cuộc sống mãnh liệt của xã hội ngày nay” .


Quan niệm trên dường như cũng có những thay đổi khi ông bắt tay vào sáng tác, ông vừa quan tâm tới việc phản ánh hiện thực trực tiếp qua kịch và ông cũng đặc biệt chú ý đến những vấn đề đặt ra cho muôn đời: thiện và ác, chính và tà, hạnh phúc và bất hạnh, hy vọng và tuyệt vọng, những bi kịch của kiếp người và những phẩm chất cao cả trong đời. Có thể nói phần lớn kịch Nguyễn Đình Thi đều khai thác từ những câu chuyện lịch sử, có phần chính sử và nhiều phần là những chuyện mang màu sắc dân gian. Từ kịch Con nai đen mô phỏng theo một câu chuyện cổ nước Ý đến Rừng trúc rồi Nguyễn Trãi ở Đông Quan, từ Cái bóng trên tường đến Người đàn bà hóa đá đều mang đậm chất bi kịch và huyền thoại của câu chuyện chính sử hoặc dân dã đời thường. Nguyễn Đình Thi không khai thác tỉ mỉ chuyện xưa mà tiếp cận ở hai góc độ, một là ý nghĩa xã hội và nhân bản của xung đột kịch, hai là mối liên hệ giữa cuộc sống hôm nay với những vấn đề của ngày qua. Có thể bắt đầu từ truyện Con nai đen. Qua tác phẩm kịch này Nguyễn Đình Thi muốn nói tới cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác muôn đời vẫn dai dẳng, quyết liệt và cái ác nhiều khi lại đội lốt cái thiện nên càng khó để phân biệt và đối phó. Nguyễn Đình Thi đã nhấn mạnh đến vai trò của nhân dân, con mắt sáng suốt và tỉnh táo của nhân dân sẽ nhìn tỏ sự việc. Trong Nguyễn Trãi ở Đông Quan qua những xung đột Nguyễn Đình Thi lại muốn miêu tả một tầm vóc của một nhân cách lớn. Trước cảnh non sông đang lâm nạn kẻ thức nhân phải tỉnh táo, Nguyễn Trãi đã phê phán những cách nghĩ, cách làm không đúng: “Một ông quay lưng lại việc đời, tìm một nơi góc vắng để chết một mình cho sạch. Một ông lẫm liệt nhảy vào mũi dao của chúng nó để chết cho anh hùng. Các ông muốn đánh lại chúng nó nhưng mà cái đầu của các ông chỉ nghĩ được trong vòng cái khuôn của chúng nó. (Như gầm lên) Sao lại chết (Im lặng một lúc). Đêm nay đất trời sao mà thăm thẳm… Non sông cách đường nghìn dặm. Sự nghiệp buồn đem trống ba” . Những giày vò đau đớn là thế nhưng Nguyễn Trãi luôn ở trong thế chủ động tìm cách vượt lên những thúc bách của hoàn cảnh trong cách nghĩ, cách cảm: “Vâng, may mà nước ta không phải chỉ có những ông nhà Nho nghĩ bằng sách Tàu. May mà chúng ta còn biết sống theo lẽ của ta, nghĩ bằng cái đầu của ta… Bây giờ bốn bên lặng lẽ, im lìm nhưng không phải vậy đâu, nghe kỹ xem rì rầm khắp cả… Hàng chim ngủ khi thuyền đỗ, nước triều lao xao còn đợi trăng lên. Mà trăng sắp mọc kia rồi. Trăng lên, nước triều sẽ dâng lớn, ông ạ…” .


Chính qua những lời nói và suy nghĩ đó mà tầm vóc nhân vật được nâng cao. Nguyễn Đình Thi đã bộc lộ mặt mạnh của ngòi bút kịch bằng những đột phá vào thế giới bên trong của nhân vật và qua đối thoại, độc thoại để đưa nhân vật vượt lên. Chất suy nghĩ, tầm vóc của sự suy nghĩ đã tạo cho nhân vật của Nguyễn Đình Thi một cốt cách riêng. Các nhân vật đều có ý thức và chủ động trong hành động. Nhân vật Chiêu Thánh trong Rừng trúc qua nhiều lời thoại sâu sắc mạnh mẽ đã đi đến mọi quyết định quan trọng cho cá nhân, cho triều chính.


Chiêu Thánh: “Hãy nghe: từ hôm nay Lý Chiêu Hoàng này rời bỏ ngôi báu. Người đàn bà được Đức Vua cha ta thương yêu kia ta cho bà trở về họ Trần, từ nay bà không còn phải là bầy tôi nhà Lý ta nữa. Ta cởi bỏ cho các người ra khỏi thân phận một bọn tiếm quyền mà được chính danh giữ việc nước, thế thì các ngươi hãy ra khỏi cõi tối tăm, quỷ quyệt mưu mô, từ nay giữa thanh thiên bạch nhật hãy hết lòng phù tá người kế nghiệp ta giữ gìn lấy giang sơn nhà Lý ta giao lại. Bờ cõi này còn chưa vững chắc thì các ngươi phải ăn không ngon, ngủ không yên. Còn ta từ nay ta sẽ làm một người dân thường, xa nơi triều chính, còn được ngày tháng nào chỉ để lo hương khói thờ phụng Đức Vua cha ta cho tròn đạo làm con gọi là mong ăn năn tội lỗi của ta được phần nào. Ta đã nói, bà đã nghe. Hãy tuân theo ý ta, từ nay hãy để cho ta yên”.


Nhân vật Chiêu Thánh bộc lộ rõ tính cách và bản lĩnh. Nguyễn Đình Thi đã tạo được cho nhân vật một tư cách, một ngôn từ sang trọng của người có quyền thế và tuyên bố chấm dứt quyền thế mà không hề thất thế. Ông biết khai thác xung đột lịch sử ở thời điểm có ý nghĩa và đẩy các nhân vật đến những giới hạn cao nhất để bộc lộ tính cách, vừa quyết đoán trong hành động vừa thể hiện chiều sâu nội tâm. Các nhân vật Nguyễn Trãi, Lý Chiêu Hoàng vừa là nhân vật lịch sử, vừa là nhân vật nghệ thuật. Tác giả tôn trọng tính chân thật lịch sử và cũng phát huy khả năng hư cấu sáng tạo. Rừng trúc và Nguyễn Trãi ở Đông Quan là hai tác phẩm kịch có giá trị của Nguyễn Đình Thi. Với những tác phẩm này đặc tính kịch được giữ vững trong nội dung hiện thực cũng như trong phương thức thể hiện. Nguyễn Đình Thi lại có một cách tiếp cận và khai thác linh hoạt các câu chuyện cổ trong dân gian như Người đàn bà hóa đá, Cái bóng trên tường, Trương Chi, Hòn cuội… Những vở kịch này như những khúc tình ca và chủ yếu là âm hưởng bi ca. Một tình huống bi kịch, một mối tình dang dở, một nghịch lý đau lòng, một sự lầm lỡ ngộ nhận, một ngẫu nhiên như mang tính định mệnh… tất cả dẫn đến những nỗi buồn đau đớn, chết chóc. Những câu chuyện có phần dành cho kịch, có phần dành cho truyện, cho thơ. Cũng vì thế hình thức kịch nhiều khi biến thái như một hoạt cảnh, một cảnh diễn, một hình thức kể chuyện sân khấu. Khuôn khổ câu chuyện trong đời sống mang tính xác định trong một cảnh ngộ, một tình huống. Qua lời kể của con nhỏ về cái bóng trên tường, người chồng lầm lẫn, ghen tuông và dẫn đến cái chết của vợ; tiếng hát mê người của anh chàng Trương Chi nghèo khổ xấu trai và cô công chúa trong cung cấm đã dẫn đến mối tình tuyệt vọng. Với những câu chuyện và tình huống trên Nguyễn Đình Thi không mở rộng mà giữ nguyên tính chân thực của sự việc và khuôn khổ cốt truyện. Tác giả đã vận dụng sáng tạo tri thức văn hóa và kinh nghiệm xã hội để nhận thức các vấn đề của lịch sử qua cách cảm thụ của một người yêu cái đẹp và bảo vệ cái thiện trong những hoàn cảnh bi đát; Kịch của Nguyễn Đình Thi là một thế giới nghệ thuật mang màu sắc văn hóa, nơi mà dấu vết văn hóa được quy tụ trong một nội dung nhân bản.


Đúng là có thể nói tới một thế giới kịch của Nguyễn Đình Thi. Ở đây cuộc đời có quá khứ, hiện tại và tương lai, chủ yếu là những vấn đề chung của lịch sử ở một thời điểm và cũng là muôn đời. Ở đây có những gương mặt hiền lành cụ thể của người con gái, bà mẹ, người chiến binh, như mới từ cuộc đời đi vào trang sách và cũng sâu xa hơn họ lại đến với thế giới có màu sắc huyền thoại. Xung đột kịch của Nguyễn Đình Thi không phải là những tình huống mâu thuẫn đúc lại thành xung đột có tính chất sách vở mà được khai thác từ cuộc đời thật trong thời gian và không gian khác nhau. Và trong kịch của Nguyễn Đình Thi còn có những biểu tượng, những ảo ảnh, những mơ ước và huyền thoại. Đúng như nhận xét của nhà nghiên cứu kịch Tất Thắng: “Thế giới kịch của Nguyễn Đình Thi là một thế giới như hư như thật, nó kỳ ảo như một Giấc mơ nhưng lại sờ sờ ra đấy như một Hòn cuội và trong cái thế giới ấy Nguyễn Đình Thi đã làm hiển hiện lên trước mắt ta, trong sự tiếp nhận của ta những con người, những cảnh đời vừa quen vừa lạ, vừa thấy đấy như một dòng sông, một bến nước, một người vợ đêm đêm chờ chồng mà thoắt cái đã thành cái bóng oan nghiệt…” .


Cái gốc của tất cả những câu chuyện xa xôi và gần gũi ấy đều quy tụ lại ở gốc nhân bản. Chuyện của con người, chuyện của muôn đời không có gì xa lạ mà gần gũi, xót xa, đớn đau. Ngoài những thành tựu trong các lĩnh vực thơ, tiểu thuyết, kịch, âm nhạc, Nguyễn Đình Thi có những đóng góp quan trọng cho lý luận, phê bình.


Ngay từ trước Cách mạng tháng Tám, nói chuyện ở Ngày hội sinh viên năm 1944, ông đã có bài Sức sống của dân Việt Nam trong ca dao và cổ tích ca ngợi sức sống của dân tộc và biểu hiện kín đáo tình cảm yêu nước của thanh niên. Nguyễn Đình Thi viết tiểu luận và lý luận. Lý luận của Nguyễn Đình Thi không thuộc dạng thuần lý mà thường gắn với kinh nghiệm hoạt động của bản thân qua từng thể loại văn học hoặc tổng kết về phong trào. Ý kiến của Nguyễn Đình Thi về thơ, về tiểu thuyết, đặc biệt là tiểu thuyết vừa mang đặc điểm riêng lại vừa có giá trị chung. Nói như Lê Đình Kỵ: “Đứng vững trên lập trường nguyên tắc đưa sự sống, đưa tâm hồn, đưa suy nghĩ sáng tạo vào lý luận phê bình đó là ưu điểm nổi bật của Nguyễn Đình Thi. Ngòi bút phê bình và lý luận của anh thật là nhịp nhàng. Có người nghệ sỹ hơn trong cách nhìn nhận vấn đề, có người thi sỹ hơn trong cách cảm thụ, có người uyên bác bề thế hơn trong lập luận, trước cái đúng, cái sai có người dứt khoát quả quyết hơn” . Cái ưu thế của Nguyễn Đình Thi là đã kết hợp và giao lưu được giữa nhà lý luận và người sáng tác. Điều ông cảm xúc, say mê trong sáng tác được đúc kết thành lý luận và trên những suy nghĩ thuần túy lại có khả năng mở ra liên hệ với thực tế cuộc đời và sáng tác. Vũ Đức Phúc cho rằng “không phải bất cứ luận điểm nào của Nguyễn Đình Thi cũng hoàn toàn có tính khoa học” nhưng kinh nghiệm hoạt động và sáng tác của một cây bút văn xuôi có nhiều suy nghĩ, sáng tạo đã giúp cho tác phẩm lý luận về tiểu thuyết có nhiều ưu điểm: Công việc của người viết tiểu thuyết chứa chất nhiều ý kiến cô đúc và sâu sắc rất có ích cho người viết tiểu thuyết và cả cho bạn đọc” . Tất nhiên về mặt lý luận thể loại chủ yếu ông viết bằng kinh nghiệm riêng của một nhà văn, nhà thơ có tri thức và thành tựu sáng tác. Cũng không dễ tìm thấy đầy đủ ở Nguyễn Đình Thi những quan niệm về tiểu thuyết, thơ ca trên thế giới. Ông tham khảo và có nhắc đến tên tuổi một số nhà lý luận quen thuộc ở nhiều nước nhưng không có điều kiện theo dõi có hệ thống sự phát triển khoa học lý luận về tiểu thuyết, về thơ. Đành rằng chân lý trước sau cũng thống nhất, những ý kiến đúng đắn thường gặp gỡ nhau, tuy nhiên trong quá trình phát triển lý luận văn nghệ mang rất nhiều màu vẻ và sự hiểu biết của một nhà văn thiên về sáng tác cũng bị nhiều giới hạn. Nguyễn Đình Thi trong mảng lý luận phê bình đã thành công trong một số bài tiểu luận về các tác giả như Trần Đăng, Nam Cao, Nguyễn Tuân. Ông hiểu sâu, hiểu kỹ, nói đúng, nói hay về các tác giả hơn. Ông nhận xét về Trần Đăng với phong cách độc đáo khi viết về người lính và chiến trường: “Trần Đăng muốn thản nhiên và im lặng không lúc nào nói to lên. Anh không muốn nói thêm vào sự việc, dù là một ý nghĩ hay tình cảm tươi tốt yêu mến. Đọc Trần Đăng thấy tình cảm nén xuống trước sự thật trần trụi hiện lên rất rõ. Nhưng người đọc cũng thấy nhiều yêu mến dưới bề ngoài cố lý lạnh lùng” . Và ông có những trang viết sâu sắc, xúc động về Nam Cao. Nhận định về các tác phẩm Sống mòn, Chí Phèo của Nam Cao, Nguyễn Đình Thi đã thâu tóm được bản chất và cái hồn của văn chương quy tụ trong tác phẩm. Sống mòn tả cuộc sống thiểu não quẩn quanh, nhỏ nhen của mấy người trí thức tiểu tư sản nghèo, cuộc sống mù xám cứ “mốc lên, gỉ đi, mòn ra, mục ra” không có lối thoát. Rộng hơn là vận mệnh mấy con người ấy ta thấy đặt ra một cách ám ảnh vận mệnh chung của cả một xã hội chua xót, đau đớn, buồn thảm, tủi nhục trong đó đời sống không còn ý nghĩa, quay về phía nào cũng thấy dựng lên những bức tường bế tắc” . Tưởng cũng khó có thể đánh giá đúng hơn, hay hơn về tác phẩm văn chương này. Tiếc rằng hoạt động lý luận phê bình của ông kết thúc quá sớm và sau này ông ít có dịp trở lại.


Nguyễn Đình Thi xây dựng và gắn bó sự nghiệp văn thơ của mình với cách mạng và hai cuộc kháng chiến thần thánh. Cách mạng để giải phóng đất nước và kháng chiến để bảo vệ Tổ quốc. Suốt nửa thế kỷ ông có mặt với tư cách là một chứng nhân của nhiều hoàn cảnh lịch sử. Ông là người thanh niên trí thức sớm đến với cách mạng từ thời tiền khởi nghĩa và chào đón niềm vui trong ngày Cách mạng tháng Tám thành công, là người chiến sỹ trên chiến trường Tây Bắc năm xưa, người lăn lộn gắn bó với các binh chủng cao xạ pháo, không quân trong những năm chống Mỹ cứu nước, người cán bộ lãnh đạo văn nghệ trong nhiều năm tháng… Tất cả đã góp phần tạo nên một cốt cách tinh thần vững mạnh, thông minh và sáng tạo. Phẩm chất ấy đã tạo cho Nguyễn Đình Thi một sức nghĩ, sức cảm mạnh mẽ, sâu sắc về cuộc đời và nghệ thuật. Điểm nổi bật của tác phẩm Nguyễn Đình Thi là giá trị tư tưởng, vừa phù hợp với quy luật vận động chung của đời sống vừa mang ý nghĩa tiên phong mở đường. Bài viết Nhận đường, rồi những bài thơ gây nên cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi ở Việt Bắc, tác phẩm Xung kích có ý nghĩa đột phá trong văn xuôi cách mạng, và những đóng góp vững chắc của tiểu thuyết Vỡ bờ, cuốn sách có tầm khái quát hiện thực rộng, rồi thế giới kịch vừa thực vừa ảo của Nguyễn Đình Thi tất cả đều mang ý nghĩa sáng tạo phong phú. Có thể nói ở Nguyễn Đình Thi có một thế giới tinh thần riêng. Ông bị sức mạnh của cuộc đời cuốn hút và trong văn xuôi sau Cách mạng Nguyễn Đình Thi ghi chép, miêu tả chân thực những sự kiện và chất liệu hiện thực của cuộc đời. Tuy nhiên, ông không thụ động mà có năng lực hư cấu sáng tạo lớn. Theo tác giả cho biết thì hầu hết nhân vật trong Vỡ bờ đều là nhân vật hư cấu. Đặc biệt với thơ và kịch. Nguyễn Đình Thi có thể chủ động tái tạo, sáng tạo để tạo cho mình một thế giới riêng. Trong thơ ông đối thoại với cuộc đời nhưng chính là tự đối thoại với mình, cuộc đối thoại da diết thiết tha, lắng sâu. Và trong kịch, Nguyễn Đình Thi không có điều kiện xuất hiện cùng bình diện với các nhân vật nhưng chính ông là một nhân vật tham gia đối thoại với các nhân vật khác. Ông hiểu các nhân vật, tôn trọng họ, chia sẻ với họ. Nhiều nhân vật kịch của ông có tầm vóc lịch sử, có cốt cách và bản lĩnh. Với phẩm chất và tài năng của mình tuy không lộ diện nhưng thực sự ông đã tạo được quan hệ gần gũi với các loại nhân vật của mình với thái độ khiêm tốn, ân cần.


Tóc bạc trong mưa bay anh cười


Tôi không nói được mình đã trải đời


Không nói được mình đã hiểu người


Không dám nói mình đã biết yêu


Không dám nói mình đã biết sống


Mỗi bước mùa xuân đến kìa dịu dàng


trên cỏ non


Cái tổ ong hồn tôi cuống quýt rộn ràng


(Tóc bạc)


Nguyễn Đình Thi là một nhà văn có vốn văn hóa sâu rộng. Ông đến với văn chương từ tri thức sách vở và thiết tha trở về với cái gốc của đời sống cách mạng. Cách nhìn cuộc sống của Nguyễn Đình Thi có dấu ấn văn hóa, mở ra từ góc độ văn hóa, gắn với những vấn đề văn hóa mà sâu xa là những vấn đề của con người, của những giá trị tinh thần của xã hội vun đắp từ nhiều đời. Nhà văn này trên hướng lớn trở về với cuộc sống luôn tìm đến một thế giới tinh thần được nuôi dưỡng bằng những tri thức lớn của nhân loại. Cuộc sống vật chất có thể rất giản dị nhưng đời sống tinh thần phải đầy đủ, phong phú. Trong một lần chuyện trò với một nhà văn nước ngoài, ông nói: “Ở chỗ chúng tôi chỉ cần một cái áo sơ mi, hoặc một chiếc áo len nếu trời lạnh. Tôi chỉ giữ một vài quyển sách bên mình, thư viện của tôi ở chỗ các con tôi, nếu cần gì thì tôi đến lấy. Những quyển Kinh thánh, sách Phật, Kinh Kôran, Lão-Trang, Beaudelaire, Đôxtôiepxki thì luôn ở bên tôi. Một quyển lịch sử thế giới nữa” .


Vốn văn hóa của Nguyễn Đình Thi thể hiện qua nhiều yếu tố của tác phẩm nhưng trước hết là ý thức khao khát vươn tới cái đẹp. Nguyễn Đình Thi không có thiên hướng miêu tả mặt phức tạp, tiêu cực của cuộc sống. Ông muốn tìm những mặt bình dị mà đẹp của cuộc sống ngay ở những cuộc đời đau khổ. Trong Vỡ bờ có nhiều trang viết về làng quê, về người nông dân nghèo khổ nhưng Nguyễn Đình Thi không nhìn đời quá tăm tối, nghiệt ngã, tuyệt vọng. Ở nhân vật Xoan, Quê, Mầm, Côi, nhất là Xoan có những nét đẹp gợi cảm, và cuộc đời của họ vừa có những đau khổ vừa có những phút giây thanh thản đáng sống. Sau Cách mạng, Nguyễn Đình Thi càng có điều kiện gặp gỡ những con người và cảnh đời đẹp, nơi chiến trường, chốn làng quê. Nhân vật của Nguyễn Đình Thi, nhất là các nhân vật nữ, đều giàu chất lý tưởng, có đạo đức nhân phẩm.


Ông theo đuổi và bắt gặp trong đời, trên trang sách cái đẹp. Cái đẹp biến hóa không cùng luôn đem tới cái lạ, cái mới mẻ.


Tôi đi mãi vẫn lạ


Cái đẹp làm cho mỗi vật không cùng


(Sen biếc)


Cũng vì thế mà giữa chiến trường Điện Biên dữ dội vẫn tươi nở một bông hoa nghệ:


Ồ lạ khắp mặt đồi đen trụi


Hoa nghệ xôn xao nở tím hồng


(Đóa hoa nghệ)


Và giữa chiến trường miền Nam hoang tịch và chết chóc vẫn có bên người lính một con chim nhỏ, một ánh biếc chỉ đường:


Từ ấy đã bao tháng ngày


Con chim cánh biếc phía trước tôi vẫn bay


Trong cuộc đời thường ông trân trọng cái đẹp bình dị, nên thơ nhưng có thể mang lại niềm vui cho con người.


Em đấy ư? Tia nắng đến khẽ trong căn nhà nghèo nàn của anh


Anh nhìn mỗi hạt bụi bay thành hạt vừng


(Tia nắng)


Nguyễn Đình Thi có vốn văn hóa khá rộng. Ông chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, văn hóa Nga, văn hóa Trung Quốc. Tư tưởng triết học của Đề-các, Căng, Nitsơ mà ông đã giới thiệu qua những cuốn sách công phu liệu có ảnh hưởng đến tác phẩm của Nguyễn Đình Thi? Tác phẩm của L.Aragông, P.Êluya, L.Tônxtôi, M.Gorki, Êrenbua có chi phối đến văn xuôi và thơ của Nguyễn Đình Thi. Theo ông cho biết thì Vỡ bờ cũng chịu ảnh hưởng cấu trúc của những cuốn tiểu thuyết dài như Chiến tranh và hòa bình của L.Tônxtôi và Sông Đông êm đềm của Sôlôkhôp. Thơ ông đã tìm được những bài học và kinh nghiệm gì từ Tago, Aragông, Nadim Hicmet. Điều đáng quý là khả năng thanh lọc của tác giả. Ông không tiếp nhận thụ động mà sáng tạo. Hiểu người để rồi hiểu mình. Cứ nhìn vào đề tài của hàng chục vở kịch cũng thấy rõ Nguyễn Đình Thi đã khơi nguồn sáng tạo từ văn hóa dân tộc với tấm lòng trân trọng biết bao. Ông yêu quý và chắt chiu giá trị trong từng câu chuyện cổ, chuyện dân gian, cho đến những giai thoại có ý nghĩa trong quần chúng. Trong cuộc đời mới tác giả càng thấy rõ giá trị văn hóa với sức sống của nó trong đời sống của dân tộc tiếp nối từ ngàn xưa cho đến thời kỳ hiện đại: “Có lẽ xét đến cùng một dân tộc còn tồn tại hay không là ở chỗ còn có nền văn hóa của mình hay không. Những giá trị văn hóa là cái nguồn sâu nuôi sức chiến đấu của nhân dân ta suốt mấy chục năm và rồi để giành lại độc lập thống nhất của đất nước” . Tuy nhiên, cũng phải nhận rằng ông chưa tạo được sự hài hòa thực sự giữa vốn văn hóa và vốn sống trực tiếp của hiện thực cách mạng. Nhiều trang viết còn nặng về kiến thức sách vở.


Trong văn chương, Nguyễn Đình Thi luôn có ý thức đi tìm cái mới, ý thức tìm tòi sáng tạo trong nội dung cũng như hình thức. Vào những năm đầu kháng chiến, khi nội dung thay đổi trực tiếp và hình thức không dễ tìm được những đổi thay kịp thời nên cũng có xu hướng dung hòa “bình cũ rượu mới”. Nguyễn Đình Thi tìm một sự hài hòa giữa nội dung mới và hình thức mới. Ông quan niệm “mỗi thể thơ có một khả năng, một thứ nhịp điệu hay của nó nhưng nếu theo dõi những thời kỳ lớn của thơ đi nhịp với những thời kỳ lớn của lịch sử thì một thời đại mới của nghệ thuật thường bao giờ cũng tạo ra một hình thức mới. Thơ của một thời mới trong những bước đầu ít khi chịu những hình thức đều đặn cố định. Nó chạy tung về những chân trời mở rộng để tìm kiếm, thử sức mới của nó. Rồi thời đại vững lại, thơ nảy nở trong những hình thức trong sáng đã tìm thấy. Những hình thức ấy gồm có những phát minh mới cùng với những hình thức cũ, nhưng bao giờ cũng đã tái tạo và nâng cao đến một độ khác hẳn xưa” . Tìm cái mới cho nội dung, cho hình thức trong sáng tạo nghệ thuật vẫn là phẩm chất quen thuộc của ngòi bút Nguyễn Đình Thi. Tuy nhiên trước hết là ở cách cảm, cách nghĩ mới. Trong bài thơ Đất nước Nguyễn Đình Thi là người sớm đưa vấn đề truyền thống của cha ông vào thơ. Trong thơ ca đã rất quen thuộc hình ảnh mùa thu buồn. Đất nước đóng góp thêm hình ảnh đặc sắc của một thu buồn.


Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội


Những phố dài xao xác hơi may


Người ra đi đầu không ngoảnh lại


Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy


Nhưng điều quan trọng là tác giả Đất nước đã miêu tả rất đẹp và sáng tạo một mùa thu vui rất khác với điệu buồn, cảnh buồn quen thuộc của những mùa thu xưa trong văn thơ cổ:


Mùa thu nay khác rồi


Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi


Gió thổi rừng tre phấp phới


Trời thu thay áo mới


Trong biếc nói cười thiết tha


Bài thơ Chỗ dựa miêu tả một người mẹ dắt con qua đường. Ngoài cách nghĩ thông lệ là đứa trẻ phải dựa vào người đàn bà, lại có một cách nghĩ khác: “Ai biết đâu đứa bé còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia”. Và nữa, chính bà cụ mà người chiến sỹ đỡ qua đường cũng là nơi dựa cho anh vượt qua thử thách. Cách nghĩ ấy mới mẻ và giàu giá trị nhân bản… Nguyễn Đình Thi yêu cái mới, thiết tha tìm cái mới nên trong cuộc đời sáng tác của ông luôn có nhiều thể nghiệm, thể nghiệm trong thơ, trong kịch. Có những thành công và có phần chỉ là thể nghiệm không dễ tìm ngay được tiếng nói đồng tình. Nhưng tác giả vẫn kiên trì đi về phía trước.


Hơn nửa thế kỷ cầm bút, người thanh niên trí thức giàu lý tưởng đã đến với cách mạng, với văn thơ trong tuổi trẻ thiết tha yêu người, yêu đời. Đến với cuộc đời mới với tư cách là người chiến sỹ trên mặt trận văn nghệ, người bộ hành không mệt mỏi vượt lên từng chặng đường, người làm vườn chăm sóc từng luống nhỏ. Nguyễn Đình Thi đã có những đóng góp quan trọng cho nền văn học mới. Thành công của ông là phần thưởng tinh thần quý giá cho tài năng và nỗ lực riêng của tác giả mà còn là chứng tích cho thành công của nền văn học mới quy tụ ở từng tác giả và tác phẩm.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi. Chuyên luận, trò chuyện và ghi chép của Hà Minh Đức. NXB Văn học sắp ấn hành.


www.trieuxuan.info


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »