tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21087674
Những bài báo
02.08.2011
Phan Quang
Về bộ truyện cổ Arập nổi tiếng: Nghìn lẻ một đêm

 


Bada thời Nghìn lẻ một đêm. Ảnh chụp lại tại bảo tàng Bada.


I. MẤY BẢN NGHÌN LẺ MỘT ĐÊM CỔ NHẤT Ở NƯỚC TA                                                                                               


Đầu những năm 70 thế kỷ trước, theo hợp đồng ký với Nhà xuất bản Văn học,  tôi bắt tay dịch bộ tập truyện cổ A rập Nghìn lẻ một đêm, lúc đầu tuyển dịch những truyện hay nhất, sau đó dịch trọn bộ. Tôi dựa chủ yếu vào bản tiếng Pháp do Nhà xuất bản Garnier Frères (Anh em Garnier), số 6 Phố Saint Pères, Paris, ấn hành năm 1921.  


Trong quá trình chuyển ngữ, có một số từ làm tôi băn khoăn, không biết có phải do lỗi của thợ nhà in, khiến câu văn tối nghĩa? Tôi đến Thư viện Quốc gia phố Tràng Thi, Hà Nội mong tìm thấy bản ra đời sớm hơn bộ 1921 để đối chiếu. Đúng là thư viện có lưu trữ một bộ đầy đủ, in thành mười tập khổ lớn rất đẹp, giấy tốt, bìa giả da màu đỏ, gáy mạ chữ vàng với lời chú thích “tái bản từ bản in gốc”. Có lời giới thiệu của nhà văn Jules Janin, cùng 21 tranh minh họa khắc đồng của họa sĩ Laleaze. Sách do Nhà xuất bản Librairie des Bibliophiles (Tủ sách của những người yêu sách), số 338 Phố Saint Honoré, Paris, ấn hành năm 1881.


Tôi nghĩ có lẽ đây là bản tiếng Pháp cổ nhất và nguyên vẹn nhất hiện có ở miền Bắc nước ta. Cũng có thể hiểu được lý do: Năm 1884, Pháp áp đặt nền thống trị lên cả nước ta, rồi mãi đến năm 1917 Thư viện Quốc gia mới được khánh thành tại Hà Nội lúc đầu mang tên Thư viện Trung tâm, trong khi bộ Nghìn lẻ một đêm qua bản dịch của Antoine Galland đã nổi tiếng tại Pháp từ đầu thế kỷ 18. Có cơ sở để hy vọng ở miền Nam chắc còn giữ được những bản cổ khác, bởi nền văn học Pháp du nhập vào nước ta trước hết ở Nam Bộ.


Mấy chục năm qua, mỗi lần có dịp sang châu Âu, tôi đều ghé vào các hiệu sách cũ, hy vọng biết đâu bắt gặp một vài bản Nghìn lẻ một đêm cổ. Nhờ sự giúp đỡ của bạn bè, tôi đã tìm được ba bộ Nghìn lẻ một đêm nguyên bản Pháp văn, một bộ in năm 1837 (ba tập), một bộ in năm 1837-1838 (bốn tập), cùng bộ sách mỹ thuật khổ lớn, ấn hành năm 1895.


Cùng với bản in năm 1881 của Thư viện quốc gia, phải chăng đó là bốn bộ NLMĐ cổ nhất hiện có, ít nhất ở miền Bắc ở nước ta?


                                                     


Nghìn lẻ một đêm, bản 1837


            Bộ NLMĐ bản 1837 do Nhà xuất bản Furne et Cie, Libraire Editeur (Furne và Công ty), số 59 Quai des Augustins ấn hành. Sách in thành ba tập, mỗi tập dày đúng 560 trang khổ 13x19cm, giấy dày và tốt. Cho đến nay sau gần hai thế kỷ giấy vẫn không ngả màu, mặc dù vải bọc gáy sách bìa cứng đã bong ra hết. Trong sách có nhiều phụ bản minh họa khắc đồng. Đối chiếu với bộ sách của Nxb Flammarion, Paris ấn hành năm 2004 nhân kỷ niệm 300 năm ngày bộ NLMĐ xuất hiện bằng tiếng Pháp, thấy văn bản hai bộ này hoàn toàn khớp nhau, trừ một chi tiết là tại bộ 1837 các câu đối thoại giữa các nhân vật chỉ được ngắt bằng dấu chấm (.), trong khi bộ 2004 (và hầu hết các bộ khác) thay bằng những dấu gạch ngang (–) thông dụng như ngày nay, tiện cho việc đọc hơn. Về trình bày, bản 1837 các truyện in liền tù tì với nhau, không chuyển sang đầu trang khác khi bắt đầu một truyện khác, như thông lệ.


 


Nghìn lẻ một đêm, bản 1938-1939


Bộ NLMĐ này gồm 4 tập, khổ sách 15x23cm, do Nhà xuất bản Purrat Frères (Anh em Purrat), số 5, Rue dé Petits-Augustins ấn hành trong hai năm 1838-1839. Tổng cộng dày 1592 trang. Sách còn khá tốt và đẹp. Bên trong có nhiều tranh phụ bản khắc đồng, được in rời trên giấy dày và tốt hơn giấy những trang chữ, trên mỗi phụ bản có dán tờ giấy trong suốt, có tác dụng hút ẩm, bảo vệ mà không che lấp tranh. Sách được đóng công phu, gáy giả da trang trí họa tiết cổ điển. Tên sách, tên tác giả cũng như tên nhà xuất bản chữ mạ vàng. Bìa cứng bọc giấy màu giả mặt đá.


Bản này có Lời giới thiệu của nhà văn Jules Janin, đúng với bài mà Bản in năm 1881 lưu trữ tại Thư viện Quốc gia, Hà Nội.


Bộ sách này trước đây chắc thuộc sở hữu một gia đình sống ở thành phố Anvers nước Bỉ. Lật các trang sách, chúng tôi tình cờ bắt gặp một tờ thư mời in sẵn, ghi Thành phố Anvers ngày 16-02-1913, mời dự một cuộc mít tinh cổ động cho quyền phổ thông đầu phiếu của phụ nữ, tổ chức vào ngày chủ nhật 23-02-1913.


 


Nghìn lẻ một đêm, bản 1895


            Sách khổ lớn (19x28 cm) chia làm hai tập. Tập I dày 412 trang, tập II  388 trang, tổng cộng 800 trang chẵn. Mỗi trang in thành hai cột dọc. Trong sách có nhiều tranh minh họa khắc đồng của nhiều tác giả. Tập I 171 bức, tập II 250 bức. Nhiều tranh chiếm cả trang sách, một số tranh trải rộng suốt hai trang. Dưới mỗi tranh có chú thích, cho biết tranh này minh họa cho câu chuyện nào. Sách do L’Imprimerie générale (Nhà in tổng hợp) số 9, Rue des Fleurs, Paris, ấn hành năm 1895.


            Tập I chia theo đêm, tổng cộng 236 đêm. Riêng Truyện Nuareddin Ali và  Bereddin Hassan kéo dài suốt 29 đêm, từ đêm 93 đến đêm 122. Tới đây, từ Truyện Nureddin và Người đẹp Ba Tư trở đi, dịch giả thôi không phân thành các đêm nữa. Antoine Galland thông báo với bạn đọc: “Độc giả những truyện kể đầu tiên hẳn đều mệt mỏi vì các câu xen ngang của cô em Dinarzade. Nhược điểm trên đã được bổ khuyết phần nào tại một vài truyện (khi người dịch lược bỏ bớt những lời đối thoại giữa hai chị em - PQ), và người dịch tin rằng độc giả chắc chắn sẽ thỏa mãn hơn với những truyện sau đây, bởi chúng không còn bị ngắt ra thành từng đêm nữa”.


 


Bộ Nghìn lẻ một đêm 1895, khác với các bộ kia, có in thêm phần kết “có hậu” theo truyền thống dân gian. Thực ra Antoine Galland chưa hề dịch phần kết này, bởi ông còn có ý định sưu tầm và dịch tiếp nhiều câu chuyện khác nữa, chẳng may lâm bệnh nặng qua đời.


Phần kết (của bản in 1895) rất vắn, có thể do nhà xuất bản thêm vào. Nội dung cho biết: Tới đêm 1001, nhà vua nước Ấn Độ* cảm phục tài năng và đức độ của nàng Scheherazade, đã quyết định ân xá, để cho “nàng sẽ được thiên hạ tôn vinh như người giải thoát cho tất cả các cô gái trẻ nhẽ ra đều phải lần lượt chịu tử hình vì nỗi hận thù bất công của ta”. Nhà vua còn phong nàng làm hoàng hậu.


Hai tập I và II của bộ 1895 này đóng thành một cuốn, bìa cứng bọc lụa đỏ, với nhiều trang trí hoa lá mạ vàng. Gáy sách ghi rõ tên nhà đóng sách: A. Daptier Rel. Paris.


            * Đúng ra là “Vua nước Ba Tư cổ”, thì mới khớp với lời mở đầu của bộ Nghìn lẻ một đêm.


             


            2. HIỆN TƯỢNG “ĂN THEO”                                                                           


Những điểm giống và những cái khác


            Các truyện do Antoine Galland dịch in tại năm bộ sách cổ (kể cả bản in năm 1921) đều giống nhau cả về nội dung và hình thức (văn phong). Riêng hai bản 1921 và 2004 có in ở đầu tập I lần xuất bản thứ nhất bức thư của Antoine Galland gửi Hầu tước phu nhân O. giới thiệu khái quát bộ sách và cách làm việc của mình. Các bản kia không có.


            Các bản in năm 1881 (có ghi chú : Theo đúng nguyên bản của A.G.) cũng như bản 2004 của nhà Flammarion đều bỏ ra ngoài ba truyện rất ngắn vốn không phải do A. G. dịch. Ba truyện này cũng xuất xứ từ truyện dân gian A rập, do một người khác dịch và nhà xuất bản đã tự ý thêm vào bộ truyện đứng tên A.G. dịch. Sinh thời A. G. cực lực phản đối việc làm tùy tiện này và kiên quyết đòi nhà xuất bản khi in lại, phải bỏ ba truyện này ra khỏi bộ sách của ông. Tuy nhiên, hầu hết các bộ Nghìn lẻ một đêm tái bản sau khi ông qua đời đều có ba truyện này, có lẽ tại chúng đều khá hay và chung một dòng phong cách với các truyện khác trong kho tàng truyện dân gian của người A rập.


            Sự khác biệt lớn nhất là ở hai bộ, in năm 1837 và in năm 1838-1839. Bộ in năm 1837 (Nxb Furne et Cie), tại tập III, đến trang 445, tức là trang cuối của truyện cuối trong bản dịch của A.G., nhan đề Truyện hai người chị ganh tị với cô em út (hay Con chim biết nói), bỗng dưng xuất hiện mấy dòng chú thích của nhà xuất bản: “Trên đây là truyện cuối của bộ NLMĐ do Galland công bố. Để hoàn chỉnh tập sách này, chúng tôi mượn của tác giả Cazotte câu chuyện hay nhất trong bộ truyện kể của ông, nhan đề Truyện của Habib và nàng Đorat Elgosse, in tiếp ngay sau đây”.


            Trên thực tế, không phải nhà xuất bản chỉ “mượn” một truyện mà những hai, bởi sau truyện trên, còn in tiếp luôn truyện nhan đề Truyện người đàn bà có mái tóc đẹp. Tổng cộng hai truyện dày tới 115 trang sách. Nhờ “mượn” thêm truyện của tác giả khác, tập III này được “hoàn chỉnh” ít nhất về hình thức, tức là dày đúng 560 trang, y hệt tập I và tập II. Quả là một sự sòng phẳng vô cùng hiếm thấy ở thời nay đối với người bỏ tiền ra mua sách về “quy cách sản phẩm”, tính theo số lượng trang in!


            Bản in năm 1838-1839 (Nxb Pourrat Frères) lại có kiểu “ăn theo” lộ liễu hơn. Toàn bộ các truyện do Antoine Galland dịch thực tế nằm gọn trong ba tập I,II và III. Còn lại cả một tập IV dày những 472 trang khổ 13x25cm, in những truyện hoàn toàn khác lạ, với phụ đề Các truyện mới của Caylus và linh mục Blanchet.


 


Tại sao “ăn theo”?


            Ngay sau khi tập I bộ Nghìn lẻ một đêm do Antoine Galland sưu tầm và dịch ra tiếng Pháp, bộ truyện nổi tiếng như cồn. Trong lịch sử văn học Pháp, chưa từng có một tác phẩm nào được hoan nghênh đến vậy. Một nhà làm sử ghi lại: Hầu như mọi người dân Paris thời đó, từ bà quý tộc cho đến anh bình dân, hễ đọc được chữ là người ta lao vào tìm xem bộ truyện. Trong vòng 78 năm, bộ NLMĐ được tái bản tới 70 lần, và từ bản của A.G. nó chuyển chuyển sang nhiều ngôn ngữ khác ở châu Âu: Anh, Đức, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha…, rồi từ đó lan truyền ra hầu khắp thế giới. Văn hào Nga Maxime Gorki gọi NLMĐ là một “tấm thảm từ ngữ lung linh muôn màu muôn sắc trải ra trái đất phô những phép nhiệm màu”. Trong Hồi ký của mình, văn hào Gabriel Marquez cho biết Nghìn lẻ một đêm là bộ sách tập đọc vỡ lòng mà ông đã chúi mũi đọc hết sức say mê, đến khi lớn lên mới biết đến tên sách là gì… Các truyện trong bộ truyện Nghìn lẻ một đêm đã gợi đề tài cho nhiều tài năng tái tạo nên bao nhiêu là vở ca kịch, nhạc kịch, nhạc giao hưởng… lừng danh và tồn tại mãi đến nay, và sang thời hiện đại nó được chuyển thể vào điện ảnh, truyện tranh...


Trong văn học Pháp thế kỷ 18-19, dấy lên một trào lưu sáng và dịch thuật bắt chước phong cách Nghìn lẻ một đêm. Nhiều người cùng muốn dịch, song tìm ra tư liệu độc đáo thời ấy đâu phải chuyện dễ. Mà có phải ai cũng là nhà Đông phương học uyên bác, thành thạo các ngôn ngữ A rập, Ba Tư như Antoine Galland, dịch giả Nghìn lẻ một đêm, hay Francois Petit de la Croix, tác giả bộ Nghìn lẻ một ngày sẽ gây điều tiếng? Có những người viết truyện hư cấu, song lại đề là dịch từ tiếng nước ngoài để được ăn khách hơn.


Trong bối cảnh ấy, có thể hiểu tại sao Nhà xuất bản Furne et Cie cho thêm vào bộ sách của A.G. hai truyện của Cazotte, và Nhà xuất bản Pourrat Frères dành cả một tập gần 500 trang sách để in truyện của người khác, mà nhan đề sách cho cả bộ vẫn để là Nghìn lẻ một đêm do Antoine Galland dịch.


 


Các tác giả ấy là ai?


Cazotte là một cái tên khá lạ lẫm đối với độc giả Việt Nam chúng ta. Từ điển văn học Pháp cho biết Cazotte sinh năm 1718, mất năm 1792. Truyện Con quỷ si tình của ông (1772) được đánh giá như một tác phẩm mở đường cho loại hình tiểu thuyết dị thường của Pháp, gần giống trường hợp Edgar Poe của nước Anh. Câu chuyện cổ tích” do Cazotte sáng tác được ít nhất ba nhà soạn nhạc cổ điển và nhà biên đạo múa lừng danh thế kỷ 19 chuyển thành nhạc kịch và nhạc vũ kịch, đến đầu thế kỷ này còn được trình diễn tại nhiều nhà hát lớn châu Âu.


Caylus là bút danh của một nhà quý tộc giàu có chuyên sưu tầm cổ vật tên thật là Philippe de Thurbières. Bá tước Caylus là tước vị của ông (1692-1763). Ông đã hiến cả bộ sưu tập này cho Nhà nước. Còn thân thế của linh mục Blanchet thì chúng tôi chưa tìm ra.


Mục đích của các nhà văn ăn theo  như vậy rất có thể vì danh nhưng chưa hẳn vì lợi, vì họ đều giàu có (Cazotte vốn là viên chức, bỗng chốc giàu sụ lên nhờ thụ hưởng một gia tài lớn do bà cô để lại, nhờ vậy bỏ nghề cạo giấy chuyển sang viết văn). Có thể do nhiều động cơ khác, mà rõ nhất là linh mục Blanchet đồng tác giả cùng Caylus của tập IV bộ NLMĐ in 1838-1839. Những truyện của ông không hẳn thiếu hấp dẫn, song chúng tôi đoán là do ông phóng tác hoặc tóm tắt các truyện đã có, theo nhân sinh quan của mình. Cái khác biệt quan trọng là ở chỗ: trong khi nguyên tác các truyện trong bộ Nghìn lẻ một đêm tôn vinh và quảng bá đạo Hồi, thì các truyện của linh mục Blanchet lại nhằm truyền bá và tôn vinh tinh thần giáo lý của đạo Cơ Đốc, thông qua một “Thượng đế”, muốn hiểu là ai cũng được.


 


3. MỘT NGHI ÁN VĂN CHƯƠNG KÉO DÀI HƠN THẾ KỶ                                                                                          


Có đêm ắt phải có ngày


            Như đã nói, bộ Nghìn lẻ một đêm ngay từ khi ra đời (1704-1712) đã quá nổi tiếng, quá ăn khách đến nổi tạo nên ở nước Pháp cả một trào lưu sáng tác, dich thuật phỏng theo phong cách các truyện kể A rập. Khiến cho một nhà Đông phương học lỗi lạc không kém Antoine Galland, có tên là Francois Petit de la Croix (1653-1713), đã sáng tác cả một bộ gồm nhiều truyện kể, nhan đề Nghìn lẻ một ngày, mà lại ghi lên bìa sách là “dịch từ tiếng Ba Tư”. Tập I của bộ sách ra mắt bạn đọc lần đầu năm 1710.


            F.P. de la Croix kém A. Galland bảy tuổi nhưng mất trước A. G., người ta bảo do ông quá đam mê Đông phương học và làm việc quá sức. Nghe tin bạn mất, A. G. ghi vào nhật ký của mình: “Sáng nay (ngày 19-3-1713), đọc báo La Gazette, tôi mới hay tin ông F.P. de la Croisx, thư ký đồng thời là phiên dịch của nhà vua về ba thứ tiếng phương Đông: A Rập, Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ, giáo sư Đại học Hoàng gia, đồng nghiệp của tôi, đã qua đời ngày 4 tháng này, thọ sáu mươi tuổi. Cho đến nay chưa có một người châu Âu nào nắm vững cả ba ngôn ngữ ấy hoàn hảo như ông…”


Có thể coi Nghìn lẻ một ngày gần như là người em sinh đôi với bộ truyện kia. Cấu trúc hai bộ truyện giống nhau. Nó là tấm gương phản chiếu ngược bộ Nghìn lẻ một đêm. Hai bộ truyện đều có truyện mở đầu, làm khung cảnh cho toàn bộ các truyện khác, từ đấy mở ra một khoảng trời lung linh muôn vàn vì sao cổ tích, ở đó người trần thế cùng thần linh sống chung, thực hư trộn lẫn, bên cạnh rất nhiều chi tiết huyễn hoặc là cuộc sống thực tại được miêu tả bằng nét bút tả chân.


Ở bộ truyện trước: Nghìn lẻ một đêm, dịch từ tiếng A rập, một cô gái trinh kể chuyện nhằm vui tai một tên bạo chúa. Tên này, để trả thù bà hoàng hậu thất tiết, đã có một quyết định vô cùng bất nhân độc ác: Mỗi đêm bắt một cô gái trẻ vào để thõa mãn dục vọng, rồi sáng ra cho chém đầu ngay, để người đàn bà ấy không còn cơ hội ngoại tình nữa. Các chuyện cô kể trong hoàn cảnh ấy bắt buộc phải cuốn hút, truyện sau phải hay hơn truyện trước, và bao giờ câu chuyện cũng phải ngừng lại dở chừng vào đoạn gay cấn nhất vào đúng lúc trời sáng, vua phải đi lo chuyện thiết triều, do đó phải bằng lòng hoãn việc thi hành bản án tử hình thêm một ngày. Cứ thế nghìn lẻ một đêm trôi qua…


Ở bộ truyện sau, Nghìn lẻ một ngày, được gọi là dịch từ tiếng Ba Tư, một bà vú nuôi tự nguyện làm việc sáng sáng kể chuyện cho cô công chúa mắc chứng bệnh điên khùng: cô ghét đàn ông tới mức bày cách giết hại không thương tiếc mọi chàng trai đến ngỏ lời cầu hôn. Bà nhũ mẫu tự đề ra nhiệm vụ, bằng các chuyện kể của mình, thuyết phục cô gái trinh rằng: trên đời, người trần mắt thịt cũng như thần linh ai, chẳng ai không có tình yêu nam nữ, và “trong đời chỉ nên yêu một lần, song đã yêu thì yêu đến trọn đời…” (lời một nhân vật chính trong bộ truyện).


Hai câu chuyện đều kết thúc có hậu.


Hai bộ truyện đều giống nhau ở thành công vang dội.


Nghìn lẻ một đêm, chúng ta đã biết. Nghìn lẻ một ngày không thua kém mấy. Trong một trăm năm kể từ ngày xuất bản lần đầu, bộ truyện được in lại ít nhất 18 lần, sang thế kỷ sau, ít nhất 15 lần nữa… Cũng giống như Nghìn lẻ một đêm, từ tiếng Pháp, nó được dịch ra các thứ tiếng Đức, Anh, Hà Lan, Đan Mạch, Ý, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, và rồi cả tiếng…Ba Tư.


Đại văn hào Voltaire viết: “Nghìn lẻ một đêm hay Nghìn lẻ một ngày đều giống như nhau thôi, đều là lung lình nghìn lẻ một…”. Có nhà phê bình còn so sánh: Nếu Antoine Galland là một nhà dịch thuật trung thành và sáng tạo, thì F.P. de la Croix có văn phong trong sáng, chuẩn mực hơn, vv.


 


Một nghi án kéo dài suốt trăm năm


Tuy nhiên, sau gần 200 năm ăn khách, bộ truyện lâm vào một nghi án văn chương. Có lẽ vì nó quá nổi tiếng, nhiều nhà Đông phương học đã xăm soi, lùng xục các thư viện cổ ở nhiều nước, mong tìm và nguyên bản để đối chiếu. Họ phát hiện… không hề có nguyên bản Nghìn lẻ một ngày nào bằng tiếng Ba Tư. Hóa ra nhà văn-bác học đã dựa vào kiến thức uyên thâm và vốn sống đầy đặn của mình trong thời gian dài sống và làm việc tại các nước Đông phương, và căn cứ vào những điển cố trong sách sử cũ, để sáng tác nên một dàn truyện kể ly kỳ, mà khung cảnh trải rộng từ Trung Cận đông sang đến tận đất nước Trung Hoa!


Nghìn lẻ một ngày bị độc giả rẻ rúng.


Tác giả của nó bị phê phán về sự trung thực trong văn chương.


Nhưng rồi giá trị thực của bộ sách vẫn trường tồn. Nghìn lẻ một ngày đỉnh đạc trở lại với văn đàn trong tư thế xứng đáng với chân giá trị của nó. Đề tựa bản in lại năm 1826, sau khi vụ :nghi án” được giải tỏa, nhà nghiên cứu J. A. S. Collin de Plancy lý giải nguyên nhân: “De La Croix sợ, nếu nói thật mình là tác giả đã sáng tác nên bộ sách đò sộ ấy, có thể làm ảnh hưởng đến thành công của tác phẩm trong mắt bạn đọc, vì người Pháp ta xưa nay vẫn ưa chuộng các bản dịch từ tiếng nước ngoài hơn là những kiệt tác viết bằng tiếng mẹ đẻ của mình” (trích dẫn theo Paul Sebag trong lời Tựa bộ Nghìn lẻ một ngày mới tái bản gần đây tại Pháp).


Hóa ra công chúng nước Pháp là nước từng có thời gian dài đến đâu cũng huênh hoang về cái gọi “sự vĩ đại huy hoàng của nước Đại Pháp”, và cái gọi là “công ơn của nước Đại Pháp khai sáng(!) các dân tộc thuộc địa”… đã từng có thời mắc hội chứng tự ti mặc cảm đến cao độ. Trên thực tế đã có một thời gian dài, không những nghệ thuật, văn chương, hàng mỹ nghệ… đến từ các nước Phương Đông làm mê mẩn giới quý tộc và thượng lưu Pháp, mà cho đến các kiểu trang phục lạ mắt và sặc sở (thời trang), thiết kế nội thất (bàn, ghế, tủ gọi là theo “phong cách phương Đông”…), đồ dùng hằng ngày (hàng gốm sứ, lụa là, thảm len…) đều bắt chước rập theo các nguyên mẫu đến từ các nước A rập, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, nếu không phải là Trung Hoa hay Nhật Bản! Phải là hàng dán nhãn mác ngoại thì người ta mới mua! Đến nỗi tên tuổi một nhà bác học uyên thâm, một nhà văn tài năng, một nhà giáo cần cù phải chịu oan khiên, dè bỉu suốt cả trăm năm.


 


Đã khá lâu rồi, bộ Nghìn lẻ một ngày lại được xếp vào loại những tác phẩm hay nhất của văn chương Pháp. Nhà phê bình văn học Paul Sebag gần đây viết: “Nghìn lẻ một ngày là một công trình hoàn hảo nhất của nghệ thuật kể chuyện theo phong cách thế kỷ 18… Độc giả (Pháp) nào chưa đọc bộ sách ấy, chưa thể nói mình đã thông hiểu mọi tuyệt tác của nền văn học nước nhà…”. Tại Việt Nam ta, Nghìn lẻ một ngày đã được dịch trọn bộ (Nhà xuất bản Kim Đồng, 2004), sau 5 năm, đến đầu năm 2009 đã được tái bản bảy lần.


4. MỘT BÀI TỰA ĐỂ ĐỜI                                                                                       


            Đó là bài Tựa của Jules Janin.


Chúng tôi thấy nó được in ở đầu ít nhất hai bộ sách cổ: bản in năm 1838-1839 và 1881. Có thể in lại ở nhiều bộ khác nữa mà chúng tôi chưa biết.


            Một bài giới thiệu sách tài hoa, súc tích, theo cung cách thế kỷ 19 của văn chương Pháp: đầy ắp trí tuệ, bay bướm, gợi cảm, phần nào điệu đà, rất bổ ích cho những ai muốn tìm hiểu tác phẩm từ lâu đã trở thành kinh điển. 


Jules Janin (1804-1874) là nhà báo, nhà viết tiểu thuyết, bình luận viên sân khấu rất nổi tiếng của tạp chí Tranh luận suốt mấy chục năm, từ 1836 cho đến lúc qua đời. Ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Văn học Pháp.


Bài tựa mở đầu như sau:


“Bạn có biết một truyện kể nào ngộ nghĩnh hơn, một câu chuyện nào thú vị hơn, một thi phẩm nào giàu tưởng tượng hơn truyện kể, câu chuyện, thi phẩm mang tên là Nghìn lẻ một đêm? Đó là cuốn sách của trẻ em, đó là cuốn sách của chàng trai trẻ, đó cũng là cuốn sách của người cao tuổi. Trẻ em tìm thấy lại ở đó những câu chuyện lung linh mà bà vú nuôi đã kể cho nghe tự thời còn nằm nôi, được mở rộng thêm nhiều qua những cung cách thật ngây thơ; chàng trai trẻ theo dõi chăm chú đến mức mệt hụt hơi tất cả những đam mê tươi mát và trong sáng của phương Đông; người cao tuổi dù đã tỉnh ra khỏi mọi ảo tưởng trên đời, vẫn vui thích với những ảo tưởng bất tận vô cùng, những ảo tưởng duy nhất đã không lừa dối ông, bởi chất thơ hiển hiện trong chúng phù hợp làm sao với thực tế!”.


Ông phát triển nhận định của mình:


“Tác phẩm ấy, nguồn gốc của nó đầy bí ẩn, tác giả của nó là khuyết danh. Bạn hẳn từng đọc trong bộ sách, câu chuyện về cái bình được người đánh cá kéo lưới vớt lên từ đáy biển. Nắp bình được mở, và thế là đột nhiên qua làn khói dày đặc bạn thấy bước ra một con người khổng lồ. Bạn hẳn cũng từng đọc câu chuyện về cái hộp bằng thủy tinh với chiếc khóa vàng. Cái hộp mở nắp, bỗng dưng từ trong hộp hiện ra một cô gái dung nhan tuyệt vời, mái tóc nàng có thể nâu cũng có thể vàng nhưng điều chắc chắn là nàng tươi cười, xinh đẹp, dễ thương, thân nàng khoác tấm lụa mỏng hầu như trong suốt, cổ nàng đeo đầy ngọc, đầu nàng ngời chói kim cương, bàn chân nàng để trần, bàn tay nàng thon thả, dáng vóc nàng nhẹ nhàng thanh thoát tựa con ong; đấy, bộ truyện kể Nghìn lẻ một đêm là như thế đấy! Nó là cái bình dấu dưới đáy biển sâu, từ đó thoát ra con người khổng lồ; nó là cái hộp bằng thủy tinh quý báu từ đó bước ra người mỹ nữ Đông phương. Nó là duyên dáng và sức mạnh, là đạo lý và viễn tưởng, là ngụ ngôn và lịch sử, là giấc mộng đẹp và những đêm không ngủ, là thiên thần và quỷ sứ, cái thiện và cái ác, là tất cả mọi đam mê mọi ảo giác, mọi đạo đức mọi dối trá trên đời; đấy là thiên tuyệt tác không thể tìm thấy được ở bất kỳ ngôn ngữ nào, kể cả trong thơ Arioste”.


Để chứng minh những lời ngợi ca của mình không phải do bốc đồng, Jules Janin lý giải bằng khẳng định: tất cả những ưu việt ấy sở dĩ có được vì chúng là sáng tạo của dân gian. Ông viết:


“Dân tộc Arập là dân tộc của những nhà thơ kể chuyện. Thơ đến với họ từ lúc họ chào đời, và trong suốt cuộc đời xen lẫn nghỉ ngơi và vất vả, họ không còn biết hưởng thú vui nào khác, sau tình yêu, bằng một câu chuyện kể thật rối rắm thật ly kỳ, trong đó chồng chất đủ thứ đam mê và phiêu lãng. Người A rập phải kể chuyện, giống như người chèo thuyền của thành phố Venise phải cất tiếng hát. Người Arập có đủ loại truyện kể phù hợp mọi vị thế của cuộc đời: mừng vui và đau khổ, khi cửa nhà tan nát hay khi tiền của chảy vào như nước, lúc ốm đau hay lúc khỏe mạnh. Họ kể chuyện để làm vợi bớt nỗi đau; họ tăng nỗi mừng vui bằng cách kể chuyện. Chuyện kể, đó là giấc mơ của người Arập khi họ đang tỉnh; đó là cách thức họ trả thù hoặc ngợi ca ai đó, đó là lợi ngợi khen hay chê trách người đời. Họ đưa vào truyện kể của mình vị hoàng tử hiền minh và bậc đại thần hư hỏng, rồi cho mỗi nhân vật đóng một vai trò thể hiện rõ nhân cách của nó. Người A rập vừa mới dừng chân ngồi dưới lều vải hay đang nghỉ ngơi thư giãn trong thành phố; khi anh ta ngồi nghỉ dưới bóng cây cổ thụ cành lá sum suê bên dòng suối trong veo hay đang lặn lội trên sa mạc nóng như đốt như thiêu vì ánh mặt trời; lúc nằm trong lâu đài vàng son rực rỡ hay ngả lưng dưới mái lều tranh, anh ta cần thứ gì? Một chuyện kể! Một chuyện kể cho ra chuyện kể, nghĩa là thật lạ lùng, thật kỳ diệu vào. Chỉ cần có thế thôi là đủ để người A rập lắng tai, buông mình vào cái nôi đong đưa của ngôn ngữ dân tộc vốn đầy nhạc điệu của họ, nó là tiếng Ý của phương Đông”.


Tiếp đó, người giới thiệu sách chuyển sang lĩnh vực học thuật. Ông điểm qua các trường phái khác nhau trong việc tìm hiểu nguồn gốc, đánh giá tác phẩm, về thân thế và sự nghiệp của người dịch (đã qua đời cả trăm năm trước) là Antoine Galland, rồi nói lên quan điểm của riêng mình. Cuối cùng kết thúc bằng một giai thoại nói lên sự lừng lẫy của người dịch cũng như tác động của bộ truyện trong lòng người dân Paris thế kỷ 18.


Ai từng đọc Nghìn lẻ một đêm chắc đều nhớ những câu đưa đẩy của hai chị em người dẫn chuyện. Đêm đêm, chờ đến lúc trời gần sáng, cô em Dinarzade lại van vỉ nàng Sheherhazade: “Chị quý yêu của em ơi, nếu chị không ngủ, xin chị hãy kể cho em nghe một câu chuyện hay hay mà chị biết rất nhiều”.


Một đêm đông Paris rét buốt.


Nhà học giả sau một đêm mải mê làm việc đến khuya như lệ thường, gấp cuốn sách đọc dở trên bàn, tắt đèn, lên giường đi ngủ. Hình như ông đã ngủ được một giấc. Trong lúc mơ màng, chợt có nhiều tiếng gọi lớn khẩn thiết vọng từ ngoài đường phố vào: “Ồng Galland, ông Galland!”.


Bừng tỉnh, ông già nghe đúng là có nhiều tiếng gọi láo nháo. Những tưởng có ai đó gặp việc không may hay bị tai nạn, cần được cấp cứu, ông tung chăn dậy, lập cập châm vội cây đèn, chạy đến bên cửa số, mở cửa nhìn ra ngoài. Thấy trong nhà có ánh đèn sáng, bên ngoài một giọng trai trẻ vang lên, lần này rất rành mạch: “Ông Galland, ông Galland ơi, nếu ông khó ngủ, xin ông kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện hay hay như những chuyện mà ông đã kể rất tài tình”.


Tiếp theo là tiếng cười đùa, hò reo huyên náo cả khu phố.


Hóa ra đó là một đoàn những chàng trai đi dự một vũ hội trở về, có lẽ ai cũng nhiều ít ngà ngà, đang quậy phá sự yên tĩnh của phố phường. Họ đều say mê Nghìn lẻ một đêm. Ai ai cũng chờ được đọc tiếp. Mà dịch giả với phong thái của nhà bác học nghiêm túc, dường như làm việc quá cẩn thận, đến mức dềnh dàng, khiến cho mọi người sốt ruột, muốn mau chóng được “hạ hồi phân giải”. Lúc đi ngang qua trước nhà ông A. Galland, thấy trong nhà tối om (đã quá nửa đêm từ lâu, những những chàng trai đang ngất ngưởng đâu có ý niệm về thời gian), một vài chàng nảy ra ý tinh quái đánh thức ông già dậy, yêu cầu ông… làm việc.


Ngày hôm sau đã lan truyền khắp thành phố Paris.


5. TINH TÚY TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO                                                                                        


Bộ Nghìn lẻ một đêm hàm chứa tinh túy triết học Phật giáo. Một câu nói vui?


Không. Đấy là kết luận rút ra sau nhiều năm nghiên cứu bộ sách cổ của hai nhà A rập học: Aboubakr Chraibi, người Algérie, và Jean-Paul Sermain, người Pháp.


Những tiếp biến văn hóa đa dạng, nhiều chiều


Về bộ truyện này (do Antoine Galland lần đầu tiên dịch ra tiếng Pháp và qua đó giới thiệu tác phẩm văn học gốc tiếng A rập này với châu Âu và thế giới), các nhà nghiên cứu xưa nay quan tâm ba vấn đề: 1. Nguồn gốc bộ truyện dân gian ấy là từ đâu?, 2. Thực chất tinh túy của nó là gì?, và 3. Những gì làm cho bộ truyện thu hút đến vậy mọi tầng lớp độc giả, xưa cũng như nay, Đông cũng như Tây?


Về vấn đề nguồn gốc, ngay từ khi ra mắt bạn đọc, tuy được dịch từ tiếng A rập, nhưng qua nhiều cốt chuyện, địa danh cũng như tên nhân vật, nhiều người dễ dàng nhận ra nó có nguồn gốc từ Ba Tư. Ngay câu chuyện làm khung cho toàn bộ, tức Truyện nàng Sheherazade và bạo chúa Sarhiar, người ta đã tìm thấy nguyên mẫu trong một cổ tích Ba Tư. Cốt truyện giống truyện mở đầu bộ Nghìn lẻ một đêm song ngắn gọn hơn nhiều.


Cô gái trẻ ấy đã kể cho nhà vua nghe những câu chuyện gì? Chắc chắn không phải những truyện hiện có trong bộ Nghìn lẻ một đêm. Tuy nhiên, nhờ phương sách giản đơn mà tài tình của cô gái, và lấy câu chuyện ấy mở đầu và làm khung cảnh, người đời sau có thể cho vào bộ Nghìn lẻ một đêm đủ thứ truyện có xuất xứ khác nhau, được giả định diễn ra trên những địa bàn cách xa hàng vạn dặm, với những nhân vật đủ nguồn gốc, giai tằng, quốc tịch…


Ngược thời gian lên nữa, các nhà nghiên cứu tìm ra câu chuyện nàng Sheherazade lại bắt nguồn từ một truyện cổ tích Ấn Độ, có tên là Truyện con vẹt và cô gái trẻ. Có một nhà kia nuôi con vẹt thần kỳ, cứ mỗi ngày nó lại kể cho cô gái con chủ nhà một câu chuyện khác nhau. Người ta cũng tìm được một vài bức tranh cổ của Ấn Độ và Ba Tư minh họa cảnh ấy: con vẹt đỗ trên cửa sổ, đầu hướng vào phía trong phòng, trong khi cô gái trẻ chăm chú lắng nghe…


Câu chuyện nàng Sheherazade từ Ba Tư du nhập vào văn hóa A rập vào khoảng  thế kỷ thứ 9, theo Tây lịch.


Khởi thủy, bộ truyện Ba Tư có tên là Một nghìn cổ tích. Vào xã hội A rập, nó được chuyển thành Nghìn lẻ một đêm (phiên âm tiếng A rập là Alf layla walayla). Tên sách đã có từ thời cổ đại.


Tại sao có những hiện tượng giao thoa, tiếp biến văn hóa phong phú đến vậy? Ấy là vào thời cổ đại, đế chế Đại Ba Tư vô cùng hùng mạnh. Đế chế ấy đã áp đặt nền thống trị của nó - và qua đó, quảng bá văn hóa Ba Tư - lên toàn bộ vùng Trung Cận Đông ngày nay cho đến Nam rặng núi Capca và lục địa Ấn Độ. Trong khi người Ba Tư chiếm đóng và thống trị Ấn Độ, họ đã tiếp thu rất nhiều tinh túy văn hóa Ấn cổ đại, làm giàu thêm văn hóa Ba Tư. Sang kỷ nguyên Hồi giáo (khoảng một thế kỷ tính từ sau khi nhà tiên tri Mohamêt sáng lập đạo Hồi, vào thê kỷ thứ 7), đến lượt những người A rập Hồi giáo thống trị lại tiếp nhận được nhiều từ văn hóa nước bị áp đặt là Ba Tư.


 


Tinh túy triết học Phật giáo – thuyết luân hồi


Đi sâu vào nội dung các câu chuyện, các nhà nghiên cứu phát hiện, thực chất tính nhân văn của phần lớn các truyện kể trong bộ Nghìn lẻ một đêm bàng bạc minh triết Phật giáo. Bất kỳ ai đọc bộ truyện cổ A rập này đều nhận thấy nó tôn vinh đạo Hồi cùng những quy tắc của đạo ấy trong đời thường, thể hiện bằng giáo luật. Những chỗ nào tác giả (hay các tác giả) cố tình cổ vũ quá lộ liễu cho đạo Hồi, chỗ nào họ không tiếc lời ngợi ca đạo của nhà tiên tri Mohamêt, bài xích các tôn giáo khác (như đạo thờ Thần Lửa của người Ba Tư cổ chẳng hạn), và kêu gọi mọi người hãy mau mau tỉnh ngộ và trở thành tín đồ Hồi giáo, thì những đoạn ấy giảm hẳn chất lượng nghệ thuật cũng như sức cuốn hút thâm trầm.


Hai nhà A rập học Aboubakr Chraibi và Jean-Paul Sermain cho rằng tinh túy triết lý thấm đượn toàn bộ Nghìn lẻ một đêm do đó tiến bộ hơn hẳn triết học và giáo lý của ba tôn giáo lớn nhất ở phương Tây, xếp theo thứ tự thời gian ra đời: đạo Do Thái, đạo Thiên chúa và đạo Hồi. Ba đạo này đều theo thuyết nhất thần luận (tôn thờ một Thượng đế duy nhất) và đều nhấn mạnh nguyên lý thưởng phạt, đền ơn báo oán. Cuộc đời con người ngắn ngủi. Khi nhắm mắt xuôi tay, con người ai cũng bị cáo buộc và “phán xét cuối cùng”. Phải xuống địa ngục nếu là tội ác nhiều hơn việc thiện. Được tôn vinh và đền công xứng đáng, nếu là người chuyên làm việc thiện. Kẻ ác phải xuống địa ngục, người hiền được lên thiên đường, đó là quy luật bất di bất dịch của cả ba tôn giáo nói trên.


Khác với ba tôn giáo kia, triết lý đạo Phật ưu việt hơn, bởi nó mang tính chuyển hóa và tiến triển. Con người không phải chết là hết. Chết, và được thưởng hay chịu phạt, thế là xong. Không. Con người tồn tại dài lâu. Con người trường tồn thông qua nhiều số phận kế tiếp - gọi là thuyết luân hồi. Theo cách nhìn xã hội học đời nay, vậy là nhân loại tiến hóa không ngừng. Cho dù cuộc đời riêng tư ngắn ngủi; cá thể này hay cá thể kia còn hay không còn tồn tại trên đời, con người vẫn trường tồn. Phật là  từ bi hỉ xả. Ai tu nhân tích đữa đều có thể về với Bụt. Phật không trừng phạt ai. Phật không hủy diệt. Nhân loại trường tồn. Cuộc sống trường tồn.


Truy lên nguồn cội, các nhà nghiên cứu cho rằng triết lý ấy chính là tinh túy bộ Nghìn lẻ một đêm.


 


6. HỌC PHẢI VUI, CHƠI MÀ HỌC         


                                                                                    


            Theo truyền thống dân gian A rập, những người kể chuyện cổ tích bao giờ cũng bắt đầu bằng một câu ca tụng Thượng đế: “Chỉ có Thượng đế duy nhất và toàn năng. Đó là Đấng Allah1”. Tiếp đó là: “Vinh quang thay những người mang chuyện ngày xưa giáo dục người đời nay”.


            Sở dĩ như vậy là mọi truyện kể cho dù nhằm mục đích chính là “mua vui” cho người nghe, bao giờ cũng hàm chứa ý nghĩa răn dạy người đời.


            Truyền thống này đã có từ xưa trong văn học A rập, kể cả khi mới là văn chương truyền miệng cho đến thời văn học thành văn.


 


Ba trào lưu


            Theo các nhà A rập học, từ xa xưa, trong nền văn hiến của người A rập đã tồn tại mấy trào lưu.


            Trào lưu thứ nhất, tiếng A rập gọi là Jidd, chủ trương đã học thì phải cho ra học, học là nghiêm túc, học là “chữ nghĩa thánh hiền”, tuyệt đối không cho phép các bài giảng đề cập chuyện đùa vui, giải trí. Học theo cách ấy thì thật tôn nghiêm, song học sinh mau chán, người học dễ nản. Có gì buồn chán hơn suốt ngày nghiêm trang ngồi nghe thầy giáo giảng đạo lý kinh bổn. Những điều chuyện mang ra dạy đã khô khan, mà bài nào cũng kết thúc bằng cách rút ra những bài học đạo lý.


            Đối lập với Jidd, có một trào lưu khác, gọi là Hazl. Trào lưu văn học này thiên về kể chuyện, lấy việc giải trí người nghe làm mục đích và tiêu chí cao nhất. Có nghĩa là các chuyện kể không cần mang ý nghĩa, người kể tha hồ sáng tạo, bịa đặt, bất chấp câu chuyện có cơ sở thực tế hay không; chuyện càng ly kỳ, càng bất thường, cuốn hút, càng gây ngạc nhiên càng tốt… Các nhà văn kế thừa “ngón nghề” của những người chuyên đi kể chuyện rong. Dĩ nhiên, trào lưu này bị những người theo trường phái Jidd phản đối kịch liệt. Mặc dù vậy, nó vẫn lưu truyền và phát triển ngày càng rộng rãi trong dân gian.


Đến thời trung cổ xuất hiện trào lưu thứ ba, dung hòa và kết hợp hai trào lưu trên. Tiếng A rập là Adab. Nó là sự thực hiện một cách nhuần nhuyễn việc giáo dục bằng những hình thức hấp dẫn người học. Đó là cách hài hòa giữa “học tập” và “giải trí”, kết hợp “hoan lạc” và “hữu ích”. Học mà chơi, chơi là học. Quan niệm ấy trùng hợp với phong cách tất cả các bà mẹ trên thế giới xưa nay vẫn dùng để răn dạy khi kể chuyện cổ tích cho con trẻ nghe.


Bất kỳ “tích cũ” nào xưa nay đều hàm ý giáo dục các thế hệ hậu sinh, cho dù quan điểm giáo dục của người kể chuyện có thể sai lầm. Mọi giai thoại, cổ tích Đông phương  xưa nay câu chuyện nào cũng có mang ý nghĩa nhất định. Ở phương Tây, những truyện nổi tiếng nhất dành cho trẻ em lưu truyền đến ngày nay, như truyện của anh em Grim ở Đức, của Charles Perraut ở Pháp, hay thơ ngụ ngôn La Fontaine…, đều mang tính cách này. Rất ít có câu chuyện cổ hấp dẫn, thậm chí hoang đường, mà không hàm chứa ý nghĩa nào đó. Một số nhà nghiên cứu phương Tây từ thực tế lịch sử ấy đã đi rất xa, họ quả quyết chính phong cách truyện cổ phương Đông như Nghìn lẻ một đêm đã khơi nguồn cho nhiều trào lưu văn học giả tưởng thời cận đại và hiện đại, như tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết viễn tưởng không gian vũ trụ, vv…


 


Những tấm gương soi


            Khởi nguồn từ văn chương truyền miệng, đến khoảng thế kỷ thứ 10, trong xã hội A rập thịnh hành trào lưu văn học thành văn đậm tính chất Adab. Đó là những cuốn sách-truyện trước hết dành cho trẻ con con các vương hầu, quý tộc. Tiếp ngay sau đó là con cái các nhà buôn. Qua những điều hàm chứa trong các truyện kể, người ta có thể không khó khăn nhận biết nội dung những điều được đưa ra giáo dục. Đối với quý tộc, ấy là vai trò của quyền uy và cáh thức sử dụng quyền uy, là việc hành xử sao cho xứng với vị thế của giai tằng mình, là mối quan hệ giữa quyền lực và thần linh, nhằm khẳng định quyền uy  trần thế vốn đã được thần linh mặc nhiên thừa nhận... Đối với con cái nhà buôn, ấy là của cải vật chất và giá trị của nó, là mồ hôi, nước mắt, có khi cả mạng sống con người phải bỏ ra để tạo thành gia sản. Các câu chuyện thiên về giáo dục lối sống ở đời: con người  được xã hội kính trọng là người làm ăn chuyên cần mà biết vui chơi, gải trí; thành thạo trong hành lạc song không sa đà vào lãng phí xa hoa; người cực kỳ giàu sang vẫn cần phải biết tiết kiệm, phải quan tâm dành dụm, cất giữ một phần gia sản phòng khi thất cơ lỡ vận, thanh niên không được chỉ biết hưởng lạc cho dù bỗng chốc được thừa kế một di sản kếch xù ông cha để lại, vv…


            Tại sao ngay sau quý tộc là đến nhà buôn?


            Bởi lẽ trong bậc thang các giá trị xã hội A rập, thương nhân là tầng lớp tư sản chủ yếu. Thương nhân nhiều khi giàu có hơn quý tộc, vương hầu. Họ có tiền, họ biết chữ, con cái họ được học hành. Hơn nữa, cũng chỉ có tầng lớp thương nhân mới đủ sức và dám bỏ tiền ra mua sách (rất đắt thời xưa) hoặc thuê sách đọc để giải trí cho mình và dùng đó dạy bảo con cái.


            Chính vì những lý do ấy, bộ truyện Nghìn lẻ một đêm khởi thủy là “tấm gương soi cho các hoàng tử” dần dà chuyển thành “tấm gương soi của các thương nhân”. Ngày nay, bất kỳ ai đọc kỹ các bộ như Nghìn lẻ một đêm, Nghìn lẻ một ngày hay những truyện khác trong kho tàng truyện cổ tích các dân tộc Trung Cận Đông đều dễ dàng nhận ra ý nghĩa ẩn chứa đằng sau.


 


PQ.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 







1 Tiếng Arập, người Hồi giáo gọi Thượng đế.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy trò đời nay với thầy trò xưa - Phan Khôi 19.11.2017
Nhân Ngày Nhà Giáo VN 20/11/2017: Những điều ít biết về Thầy tôi – Nhà thơ Thúc Hà - Nguyễn Văn Thanh 18.11.2017
Thuyết trình khoa học với chủ đề: Tính hiện đại của tiểu thuyết M. Proust - Tư liệu 13.11.2017
Tàu sân bay Mỹ sẽ đến thăm cảng Việt Nam - Tư liệu 12.11.2017
Hoàng Như Mai văn tập - Đoàn Lê Giang 12.11.2017
hai bài của GS Trần Hữu Tá viết về GS, NGND Hoàng Như Mai - Trần Hữu Tá 12.11.2017
DONALD TRUMP phát biểu tại APEC, Đà Nẵng, ngày 10-11-2017 - DONALD John Trump 11.11.2017
Kiểm dịch "Luận chiến văn chương" (quyển 4) của Chu Giang, Nguyễn Văn Lưu - Kiều Mai Sơn 07.11.2017
Cụ Triệu Thái - cùng thời Nguyễn Trãi - Danh nhân đất Việt - Vũ Truyết 06.11.2017
Cát Bà & huyện Cát Hải, Hải Phòng - Nhiều tác giả 05.11.2017
xem thêm »