tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21290061
28.07.2011
Tư liệu
Những điều lý thú về các vua triều Hậu Lê

Hậu Lê không chỉ là triều đại lớn trong lịch sử Việt Nam, mà trên danh nghĩa chính thống, đây là vương triều nằm quyền lâu nhất, có nhiều đời vua nhất. Chính vì vậy, có không ít những chuyện thú vị về các vua nhà Hậu Lê.


 


Lê Thái Tổ nói về chuyện “gánh đất đắp núi”


“Cố gắng đắp tròn quả núi, đừng để thiếu một sọt đất mà núi phải dở dang”, đó là câu nói rất có ý nghĩa của Lê Lợi (Lê Thái Tổ) khi ông chưa xưng đế mà chỉ mới xưng vương với hiệu là Bình Định Vương. Câu nói này nằm trong bài hiểu dụ quân dân vào tháng 5 năm Đinh Mùi (1427) khi Lê Lợi tuyên bố trước toàn quân và gửi văn bản đi khắp các chiến trường cổ vũ nghĩa quân Lam Sơn tiếp tục chiến đấu giành nhiều thắng lợi hơn nữa trong sự nghiệp đánh đuổi giặc Minh xâm lược.


Sách Đại việt sử ký toàn thư chép rõ toàn văn lời nói của Bình Định Vương Lê Lợi như sau: “Giặc mạnh chưa diệt trừ hết, dân sinh chưa được ấm no, các ngươi có yên tâm không? Xưa kia họ Hồ lỗi đạo, giặc Minh thừa cơ sang xâm lược, bắt dân ta phải chịu thuế nặng sưu cao, hình phạt hà khắc. Các người đều mắc vào vòng bạo ngược của chúng, nên mới cùng nhau đứng dậy chống kẻ thù. Bấy giờ công việc đã gần thành tựu, các ngươi nên cố gắng đắp tròn quả núi, đừng để thiếu một sọt đất mà núi phải dở dang. Vả lại, chỉ phải dùng sức khó nhọc một năm mà được hưởng vui sướng thái bình muôn thuở. Các ngươi hãy cố gắng lên!”.


 


Lê Nhân Tông - Hoàng đế trẻ nhất trong lịch sử


Lịch sử Việt Nam, có nhiều vị vua lên ngôi khi còn rất nhỏ tuổi và Hậu Lê là triều đại có nhiều vua lên ngôi sớm nhất, với 5 vua lên ngôi khi chưa đầy 10 tuổi. Trong số đó vua lên ngôi sớm nhất là Lê Nhân Tông, hoàng đế thứ 3 của nhà Hậu Lê.


Lê Nhân Tông tên thật là Lê Bang Cơ, con thứ của Lê Thái Tông, mẹ là Tuyên Từ hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh. Vua sinh ngày 9 tháng 6 năm Tân Dậu (1441), được lập làm thái tử ngày 16 tháng 11 năm đó và đến ngày mồng 8 tháng 12 năm Nhâm Tuất (1442) lên ngôi hoàng đế khi mới 6 tháng tuổi. Theo văn bia Mục Lăng thì Lê Nhân Tông là người “thần sắc anh tuấn, dung dáng đứng đắn…, nước lớn sợ uy, nước nhỏ mến đức”. Ở ngôi gần 17 năm, đặt 2 niên hiệu là Thái Hòa và Diên Ninh, đến ngày mồng 3 tháng 10 năm Kỷ Mão (1459) thì Lê Nhân Tông bị anh ruột là Lê Nghi Dân sai người sát hại để cướp ngôi, vua mất khi 18 tuổi.


 


Lê Thánh Tông giữ toàn bộ chìa khóa cửa cung điện trong hoàng thành


Hoàng thành là nơi ở của vua, được bảo vệ rất chặt chẽ, những hành vi xâm phạm Hoàng thành đều bị xử lý nghiêm khắc. Trong bộ Quốc triều hình luật (tức bộ luật Hồng Đức) do Lê Thánh Tông sai soạn thảo, ban hành có nhiều điều luật quy định hình thức xử lý hành vi đe dọa tôn nghiêm và an ninh của hoàng thành.


Cũng qua quy định tại Quốc triều hình luật, chúng ta thấy một điểm rất thú vị ít được biết tới, đó là chìa khóa tất cả các cửa trong Hoàng thành nói chung và các cung điện đều do vua giữ, nội dung điều 62 cho biết chi tiết như sau: “Ban đêm, những người vâng lệnh lấy chìa khóa của vua đi khóa các cửa Hoàng thành, cung điện và trong nội cấm. Khóa xong phải dâng chìa khóa lên vua. Nếu trái lệnh hay chậm trễ thì bị biếm và trượng. Ai không chờ lệnh vua mà tự tiện mở cửa thì bị xử lưu đày đi châu xa; tội nặng thì xử tử”.


 


Lê Huyền Tông cho mở khoa thi lại đầu tiên trong lịch sử


Khoa thi đặc biệt nhất trong lịch sử Việt Nam được mở năm Giáp Thìn (1664) đời vua Lê Huyền Tông (1663-1671) được gọi là khoa thi Khảo lại sinh đồ (sinh đồ là người đậu 3 trường trong thi Hương). Mục đích mở khoa thi này là do lúc đó dư luận cho rằng có nhiều người dốt vẫn đỗ, triều đình cho thi khảo lại, ai trúng vẫn là sinh đồ, ai trượt phải học lại 3 năm, sau đó mới cho thi tiếp.


Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết về sự kiện này như sau: “Mùa hạ, tháng 4, sai Phó tướng thiếu phó Tông quận công Trịnh Hoành và Bồi tụng Lễ bộ tả thị lang Phong Lộc tử Ngô Tuấn coi việc thi lại sinh đồ các xứ ở bãi cát sông Nhị.


Trước đây, phép thi lỏng lẻo, còn cho mang sách. Từ năm Canh Tý đến nay, tuy đã cấm chỉ nhưng vẫn chưa được chặt chẽ, người thi đỗ phần nhiều dốt nát, nhờ người làm bài, dư luận xôn xao. Đến đây, sai quan phúc khảo sinh đồ ba khoa Đinh Dậu, Canh Tý và Quý Mão. Đề thi dùng một bài thơ Đường và một bài ám tả chính văn kiêm đại chú trong Tứ Thư. Người nào đỗ vẫn được là sinh đồ, người nào hỏng phải ở lại 3 năm để học tập, cho miễn tạp dịch. Nếu thi lại lần nữa vẫn không đỗ mới trở về làm dân, chịu tạp dịch. Bấy giờ người hỏng đến quá nửa”.


 


Lê Hiển Tông đặt chức quan đặc biệt


Là một quốc gia nông nghiệp nên các đời vua chúa ở nước ta đều rất quan tâm đến lĩnh vực này bằng những chính sách khác nhau, coi đó như nền tảng cho sự giàu mạnh của quốc gia và ổn định xã hội. Nghề nông do phần đông người dân thực hiện, triều đình chỉ quản lý hoạt động nông nghiệp bằng các chính sách thông qua các quan chức, cũng giống như việc quản lý trong các lĩnh vực khác, duy chỉ có vua Lê Hiển Tông đặt riêng một chức quan rất đặc biệt, chuyên lo việc đồng ruộng.


Theo sử sách, vào tháng 7 năm Qúy Mão (1723) vua cho “đặt chức nông quan ở tứ trấn. Mỗi trấn đặt một viên đại sứ và một viên phó sứ, chuyên giữ công việc đồng ruộng, thân hành đi khuyên bảo nông dân. Lại đặt khuyến nông lại, để khuyên dân hết sức làm ruộng, tùy theo sự tiện nghi mà giúp  đỡ dân. Hàng năm, cứ tháng trọng đông (tức tháng 11 âm lịch - TG), sai người đi xem xét dò hỏi, xem nơi nào ruộng nương bỏ hoang hoặc khai khẩn, thức ăn của dân đầy đủ hay thiếu thốn để định việc cất nhắc hoặc truất bãi các quan chức địa phương” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục).


 


Lê Chiêu Thống là người ham học


Lê Chiêu Thống là hoàng đế cuối cùng của nhà Hậu Lê và cũng là người để lại nhiều tiếng xấu khi chỉ vì bảo vệ ngai vàng của mình mà đã “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi dày mả tổ”, dẫn 29 vạn quân Mãn Thanh kéo vào xâm lược nước ta. Sách Hoàng Lê nhất thống chí có chép lời của người dân Thăng Long nói về Lê Chiêu Thống như sau: “Nước Nam từ khi có đế vương đến nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi, đê hèn như thế”.


Vua cũng là con người, có điểm tốt điểm xấu, với Lê Chiêu Thống, điểm tốt đáng nhắc đến nhất của ông là tính ham học. Lên ngôi tháng 8 năm Bính Ngọ (1786), biết mình tuổi còn trẻ, hiểu biết chưa nhiều nên vua đã tích cực học hỏi thêm. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết: “Bấy giờ nhà vua rất yêu chuộng văn học, cứ sáu ngày một lần cho giảng sách ở tòa Kinh Diên và một ngày một lần cho giảng sách ở viện Nội Hàn. Cung phụng Bùi Dương Lịch lại càng được vua yêu, ưu đãi hơn cả. Nhà vua thường vời Dương Lịch vào trong nội điện, giảng giải nghĩa sách và bàn luận văn chương không hề trễ nải”.


 


Lê Thái Tổ cho tát hồ Hoàn Kiếm... tìm gươm thần


Khi thanh kiếm rơi xuống nước, vua Lê Thái Tổ sai lấp cửa hồ lại, đắp bờ ngang và tát hết nước để tìm..., nhưng chẳng thấy đâu cả.


Câu chuyện huyền thoại vua Lê trả gươm cho rùa thần sau khi đánh thắng giặc Minh xâm lược không ai là không nghe kể, không ai là không biết đến ít nhiều thế nhưng những tình tiết thần thoại trong câu chuyện đó trong sử sách dần phai nhạt đi, đến đầu thời Nguyễn thì câu chuyện mang tính trần tục hơn. Sách Tang thương ngẫu lục viết như sau: “Hồ Hoàn Kiếm ở bên cạnh phường Báo Thiên, thành Thăng Long, thông với nước ngoài sông, hình thể rất to rộng. Hồ này là nơi đức Thái Tổ Hoàng Đế (triều trước) đánh rơi thanh kiếm. Hồi Thái Tổ khởi nghĩa, ngài bắt được một thanh gươm cổ. Khi làm vua, ngài thường vẫn đeo thanh gươm đó.


Một hôm chơi thuyền ở trong hồ, chợt thấy một con rùa rất lớn nổi lên mặt nước, bắn nó không trúng. Ngài bèn lấy thanh gươm mà chỉ. Bất đồ, thanh kiếm rơi xuống nước mất, con rùa cũng lặn theo. Ngài giận, sai lấp cửa hồ lại, đắp bờ ngang, tát hết nước để tìm nhưng chẳng thấy đâu cả. Đời sau nhân cái vết bờ ấy chia hồ ra làm hai: Tả vọng, Hữu vọng. Cuối đời Cảnh Hưng, bỗng có một vệt sáng từ cái đảo trong hồ vọt lên cao, sáng rực tan ra rồi tắt, người ta cho là thanh bảo kiếm bay đi”.


Lê Dụ Tông quy định việc nhập tịch cho người nước ngoài


Trong lịch sử, bên cạnh việc giao lưu buôn bán thì những biến động chính trị xã hội, chiến tranh binh lửa đã dẫn tới việc thương nhân, dân thường, quan chức, binh lính ngoại quốc chạy sang nước ta cư trú, lánh nạn. Đến đời Lê Dụ Tông, vào năm Đinh Dậu (1717) nhằm quản lý tốt hơn các đối tượng này, để họ hòa nhập vào đời sống đất nước, triều đình đã ban hành quy định mới vào tháng 12 năm đó: “Định rõ chế độ khu xử với các khách buôn nước ngoài. Cho phép ở đâu được nhập tịch và chịu tạp dịch ở đó; từ tiếng nói, ăn mặc đến đầu tóc đều phải nhất nhất tuân theo phong tục nước ta. Ai làm trái bị trục xuất về nước” (Đại Việt sử ký tục biên).


Lê Thái Tông - vua trẻ con không cần người nhiếp chính


Nhiếp chính được hiểu như sau, “nhiếp” là nắm, giữ, “chính” là chính trị, là việc trong triều đình. Người thay thế vua điều hành chính sự gọi là nhiếp chính, đây không phải là một chức quan mà là một vị trí tạm thời nhằm giải quyết công việc quốc gia khi nhà vua thân chinh ra trận, vua không đủ kinh nghiệm, không đủ sức khỏe và thường là khi vua còn nhỏ tuổi…


Trong lịch sử Việt Nam, vị vua duy nhất lên ngôi khi còn nhỏ tuổi nhưng không cần người nhiếp chính đó là Lê Thái Tông, hoàng đế thứ 2 của nhà Hậu Lê. Cuối tháng 8 nhuận năm Qúy Sửu (1433) Lê Thái Tổ (Lê Lợi) băng hà, triều thần theo di chiếu lập Hoàng thái tử Lê Nguyên Long lên làm vua vào ngày mồng 8 tháng 9 năm đó, sử chép theo miếu hiệu gọi là Lê Thái Tông, khi ấy vua mới 11 tuổi. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Bấy giờ vua mới 11 tuổi, không cần mẫu hậu che rèm nghe việc mà công việc trong nước đều tự mình làm cả… Vua là bậc hùng tài đại lược, quyết đoán chủ động. Khi mới lên ngôi, nghiền ngẫm tìm phương trị nước, đặt chế độ, ban sách vở, chế tác lễ nhạc, sáng suốt trong chính sự, thận trọng việc hình ngục, mới có mấy năm mà điển chương văn vật rực rỡ đầy đủ, đất nước đã đổi thay tốt đẹp”.


Nhà sử học Vũ Quỳnh của triều Lê đánh giá: “Khi vua lên ngôi mới có 11 tuổi, không phải nhờ buông rèm coi chính sự mà mọi việc trong nước đều tự mình quyết định, bên trong chế ngự quyền thần, bên ngoài đánh dẹp di địch. Ngài thông minh trí dũng, còn vượt lên trên cả những vua anh minh đời xưa”.


Lê Thánh Tông phong quan chức cho một gia nô


Gia nô là nô lệ phục dịch, hầu hạ trong các phủ vương công, hoàng thân, đại thần, quan lại và nhà giàu có, địa vị của họ rất thấp kém. Ấy thế mà có một người từ địa vị đó lại được phong làm quan võ, giữ một chức vụ cao cấp, người đó là Đào Bảo.


Đào Bảo là người phương Bắc, sau khi quân Minh bị Lê Thái Tổ đánh bại, người này bị bắt và trở thành gia nô cho một đại thần trong triều rồi thành người hầu hạ Lê Thánh Tông khi ông chưa lên ngôi mà mới đang ở tước vị Bình Nguyên Vương. Nhớ đến công hầu hạ của Đào Bảo nên khi làm vua, Lê Thánh Tông đã phong cho người này đến chức Chỉ huy sứ thủy quân vệ.


Năm Canh Dần (1470) vì phạm tội, vua đã xử phạt nhưng có nương nhẹ Đào Bảo. Sử cho biết như sau: “Vua bảo triều thần rằng: Đào Bảo nguyên trước là người Ngô, sau khi thành bị hạ, làm gia nô cho Lê Sát, đến khi nhà Lê Sát bị tịch thu, cho làm nô ở phủ Bình Nguyên. Nay hắn làm trái sắc chỉ, cố ý vi phạm quân lệnh, tội đáng phải chết. Song Đào Bảo đã từng làm tôi tớ cho ta ở phiên để, nên đặc cách tha cho tội chết, đồ làm binh cày ruộng (Đại Việt sử ký toàn thư).


Lê Hiến Tông đặt lệ treo bảng vàng ở Quốc Tử Giám


Bảng vàng là tấm bảng ghi danh những người đỗ kỳ thi Đình theo thứ bậc khác nhau. Sau khi có bảng vàng, một đại quan của bộ Lễ sẽ mang bảng vàng đi trong một đám rước đến treo bảng lên trước cửa Đông Hoa, một cửa của kinh thành Thăng Long. Đến khoa thi năm Nhâm Tuất (1502) vua Lê Hiến Tông cho treo bảng vàng ở nhà Thái học (còn gọi nhà Quốc học, tức Quốc Tử Giám). Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho hay: “Vua ngự điện Kính Thiên, Hồng lô tự truyền loa xướng danh. Mọi năm bảng vàng vẫn treo ở ngoài cửa Đông Hoa, đến nay vua sai Lễ bộ bưng ra, đánh trống nổi nhạc rước ra treo ở cửa nhà Thái học. Bảng vàng treo ở cửa nhà Thái học bắt đầu từ đó”.


Trên văn bia Tiến sĩ khoa thi này cũng cho biết việc thay đổi đó có mục đích khuyến khích sĩ tử: “Tư thiên giám chọn ngày tốt, Hoàng thượng ngự điện Kính Thiên, sai truyền loa xướng tên người thi đỗ, trăm quan mặc triều phục chúc mừng. Mấy năm trước bảng vàng treo ngoài cửa Đông Hoa, năm nay sai Bộ Lễ rước bảng có trống nhạc dẫn trước, đem treo ngoài cửa nhà Thái học, cốt khiến cho sĩ tử nhìn thấy mà thêm phần khích lệ”.


Lê Tương Dực cho một thí sinh thi lại, chấm đỗ Tiến sĩ


Câu chuyện lạ lùng chưa từng thấy trong các khoa thi trước đó đã diễn ra tại khoa thi năm Giáp Tuất (1514) đời vua Lê Tương Dực. Khoa thi này triều đình chấm 43 người đỗ Tiến sĩ, trong số đó có một người ở kỳ thi Hội đã bị đánh trượt nhưng được vua ưu ái cho thi lại, vào thi Đình được chấm đỗ Hoàng giáp, chỉ đứng sau Trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng, Bảng nhãn Nguyễn Chiêu Huấn và Thám hoa Hoàng Minh Tá mà thôi. Người may mắn đó là Nguyễn Vũ, quê ở xã Thiên Mỗ, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai (nay thuộc xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội).


Nguyễn Vũ vốn là một nho sinh, chữ viết đẹp, từng tham gia quân khởi nghĩa lật đổ bạo chúa Lê Uy Mục, có công đưa Lê Tương Dực lên ngôi vì thế được vua yêu mến. Chuyện vua cho ông thi lại rồi cử giữ các chức quan lớn được sách sử cho biết như sau: “Nguyễn Vũ người làng Thiên Mỗ, huyện Từ Liêm, do đỗ tứ trường kỳ thi Hương, viết chữ thảo đẹp, lại theo quân ứng nghĩa, làm quan đến Binh bộ tả thị lang, được vua rất yêu quý. Khoa thi Hội năm Giáp Tuất, Vũ tuổi đã 58, văn viết lủng củng, đã không được trúng tuyển. Vua cho thi lại, lấy đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân. Không bao lâu, làm tới Hình bộ thượng thư kiêm Bảo Thiên điện Đông các đại học sĩ, Hàn lâm viện thừa chỉ nhập thị kinh diên” (Đại Việt sử ký toàn thư).


Lê Hy Tông và cách xử lý đặc biệt với đại thần phạm tội


Thông thường một đại thần phạm tội, tùy theo mức độ nặng nhẹ mà triều đình áp dụng cách thức xử lý khác nhau như hạ bậc, cách chức cho đến xử tử. Thời Lê Hy Tông cầm quyền, trong vụ xử lý tội trạng của viên Đô đốc Đặng Tiến Quyền, cách thức tiến hành nhẹ nhàng nhưng khiến kẻ phạm tội nhục nhã vô cùng.


Sách Đại Việt sử ký tục biên viết: “Đề bảng nêu tội ác của Đô đốc thiêm sự, Tần quận công Đặng Tiến Quyền ở đường sá và các ngã tư. Tiến Quyền là con Thái tể (Đặng) Thể Tài, cậy thế, ngang ngược kiêu rông, cướp đoạt tiền của, hàng hóa của lái buôn và lữ khách. Việc lên đến trên, sai đề lĩnh yết bảng nêu tội của Quyền ở đường sá, ngã tư. Tiến Quyền thẹn sợ, được vài tháng thì chết”.


 


Lê Thái Dũng


baodatviet.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
13/12/1642: Tasman phát hiện ra New Zealand - Tư liệu sưu tầm 13.12.2017
Mất 3 tiêm kích Su-27 cùng phi công tài hoa, người Nga sốc nặng! - Tư liệu sưu tầm 12.12.2017
Giải mật vụ 3 tiêm kích Su-27 rơi ở Cam Ranh - Tư liệu sưu tầm 12.12.2017
Cam Ranh trong mắt chuyên gia quân sự nước ngoài - Tư liệu sưu tầm 12.12.2017
4.000 tỷ đồng xây dựng nhà ga Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh - Tư liệu 12.12.2017
Cam Ranh - 'ván cờ địa chính trị' của các siêu cường - Tư liệu sưu tầm 12.12.2017
Hai bài về Gobbels (1897–1945), Bộ trưởng Bộ Thông tin Quần chúng và Tuyên truyền của Hitler - Tư liệu sưu tầm 10.12.2017
Vài nét về tiểu thuyết nổi tiếng: Bác sỹ Jivago - Tư liệu sưu tầm 09.12.2017
Tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago từng “là vũ khí tâm lý chiến”! - Tư liệu sưu tầm 09.12.2017
Cộng sản, Bạch vệ và kho báu Sa Hoàng - Tư liệu sưu tầm 09.12.2017
xem thêm »