Có ai đó độc ác cứ lấy búa gõ vào đầu tôi. Tôi năn nỉ rồi, tôi van lạy rồi. Tôi khai rồi, khai hết rồi sao còn cứ gõ búa vào đầu tôi. Thằng đệ tử ấy có cái tên Minh “đầu bò”. Nó là thằng ngổ ngáo nhất khu vực biên giới Mộc Tân. Bữa mới mở cửa hàng côn trùng, nó đến khai trương. Tôi có biết nó đâu mà mời. Nó tự đến. Mà cũng nhớ là tại sao nó đến nữa. Chỉ biết nó là thằng đầu tiên đến vào ngày khai trương.
- Chào chủ quán. Khai trương hả?
-Ừa, khai trương. Rảnh không, rảnh ở lại chơi. Có chiến hữu nào cứ kêu đến. Cho vui. Cho xôm tụ. Lấy hên.
- Thiệt hả? Tôi kêu à…
- Thiệt, sao không? Kêu đi. Nhưng nói trước nè. Hôm nay có quan khách của huyện, các cha nhậu thì nhậu, không quậy nghe. Muốn quậy, bữa khác tui cho quậy tới bến luôn. Được không?
Thì thôi, tôi không kể chuyện thằng Minh “đầu bò” nữa. Thì mấy ông biểu tôi khai thì tôi khai. Dạ. Phải rồi. Nó là thằng chuyên dẫn hàng qua biên giới cho tui. Bao nhiêu ư? Không nhớ. Làm sao nhớ. Tháng có khi có một chuyến, hai chuyến, ba chuyến không chừng. Nhưng có khi nằm bẹp vài tháng không có chuyến nào. Tôi đã biểu đừng gõ vào đầu tôi nữa mà. Gõ riết làm sao tôi nhớ. Ông hỏi đường dây hả. Làm gì có đường dây nào. Tin từ biên giới qua: cần hàng. Hàng gì? Ngu còn hỏi. Gái. Con nít. Bao nhiêu? Như cũ. Không được. Hàng càng ngày càng hiếm. Đâu có dễ dụ. Trả công sức cho đệ tử phải tử tế. Chuyện làm ăn vô tù như không. Nâng ba giá nữa. Thôi được một rưỡi thì một rưỡi. Chưa bao giờ tôi gặp chủ thầu bên kia. Và họ cũng chưa bao giờ nhắn gặp tôi. Nên khi rũ bỏ không làm mới chẳng thằng nào dính thằng nào. Thằng Minh “đầu bò” làm ăn sau này đâu có dính gì đến tôi. Ui da, đau quá. Đau quá. Thôi mà, tôi xin. Đừng gõ búa vào đầu tôi nữa mà. Ai cứ đầu tôi đầu tôi mà gõ thế? Có ác thì cũng ác vừa vừa thôi, ác cho người ta ác với. Thưa ông, ông biểu sao, ông không đánh tôi, không ai đánh tôi? Cho tôi một chút ánh sáng được không? Trời tối thế này tôi không chịu nổi. Lúc nào tôi cũng nhìn thấy ma, thấy quỷ, khủng khiếp lắm. Ma sống, quỷ sống hẳn hoi đó. Một con ma con. Một con ma lớn kia kìa. Đừng lại gần tôi. Đừng lại gần tôi mà. Diễm đó phải không? Tay cô cầm cái gì đó. Chiếc búa. Chiếc búa đó mấy người làm của tôi thường dùng để đập mấy lóng xương ống trước khi đưa nó vào nồi hầm. Diễm nói sao? Tôi đã dùng búa đó đánh cô ư? Còn cái gì nữa kia, cây kìm. Không, tôi đâu có muốn làm như vậy. Tại lúc đó có quỷ dẫn, nên tôi mới… Thôi, xin cô, Diễm ơi. Đừng nói gì nữa. Bây giờ tôi tính với cô thế này nghe. Tôi sẽ hoàn cho cô tất cả số tiền bán cô sang Miên. Coi như tôi chịu thiệt thòi đi. Bốn năm cô bị đày đọa ở bển, tôi trả cho cô tiền lương của bốn năm đó. Được chưa? Không được? Vậy tôi trả gấp đôi, gấp ba. Vẫn không được hả. Còn gì nữa? Trời đất ơi, cô tính vậy làm sao tôi trả nổi. Thì cô róc thịt, chẻ xương tôi ra đi. Cô mất những thứ mà tôi không làm sao có mà trả thì tôi biết làm sao bây giờ? Tôi, tôi van cô, tha cho tôi, tha cho tôi, đừng gõ vào đầu tôi nữa. Cô biểu sao. Cô không gõ thì ai gõ? Tôi chẳng thấy gì cả. Không thấy gì cả. Cái gì thế này? Cái gì mà trắng xát thế này? Ôi, mắt ai thế, mắt ai thế này? Con ơi, đừng nhìn chú như thế, chú sợ lắm. Hôm ấy, con ngoan, con dừng giãy, con đừng khóc, đừng la, chú đâu có mạnh tay đến như thế. Con ngoan, tha cho chú đi. Rồi chú sẽ lập bàn thờ, đêm ngày nhang khói, cúng kiếng. Chú hứa, chú không để con đói khát ở chốn âm ty. Sao con lắc đầu? Con đòi mẹ. Con đòi ba. Làm sao chú trả cho con được. Chú có biết ba mẹ con là ai đâu mà trả cho con. Con đòi gì nữa? Trời đất ơi, chú làm sao trả cho con được. Con đã nằm dưới ba tấc đất rồi làm sao đưa con đi chơi, làm sao cho con múa hát, vui đùa. Chú sai rồi. Tha cho chú đi. Đừng nhìn chú như thế nữa. Chú van con đó. Sao mắt con đỏ thế kia. Lửa. Lửa từ mắt con. Nóng quá. Nóng quá. Sao lại nhốt tôi vào một căn phòng chật chội thế này? Mở cửa cho tôi, cứu tôi, lửa đốt chết tôi rồi, búa đập chết tôi rồi. Thả tôi ra. Cứu tôi!
***
Hôm sau, ở Bệnh viện, khoa tâm thần, lúc mười một giờ đêm, Phước Luôn tỉnh dậy. Xuân Đào năn nỉ những người canhh gác, được ngồi bên cạnh Phước Luôn. Phước Luôn đã kịp kể cho Xuân Đào nghe về cái đêm hãi hùng ở trại tạm giam. Trong thời gian chỉ gần một tiếng đồng hồ rồi sau đó, Phước Luôn lại chìm trong im lặng. Hai mắt thì mở to, nhưng vô định. Xuân Đào ngôi bên, lại nước mắt chảy đầm đìa. Chị thốt lên: “Trời ơi, con ăn ở thế nào mà trời bắt tội con như vầy?”.
Có ai đó ghé lỗ tai Xuân Đào: “ Có trời không? Có trời không há?’
19
Cuối cùng, vào một buổi chiều trời chưa tắt nắng, Diễm cũng về đến nơi Diễm đã ra đi
Diễm bị bất ngờ trước sự đón tiếp đầy nước mắt của những đứa em cùng mẹ khác cha. Đứa nào đứa nấy lớn phổng phao. Con bé kế Diễm đã ra dáng một cô gái. Khi Diễm bước chân vào đến sân nhà, chính nó là đứa la lên lanh lảnh:
- Chị Hai. Má ơi chị Hai về.
Hai đứa sau đang chơi đâu đó cũng bang bang, chạy về. Thế là bốn chị em ôm lấy nhau mà khóc. Rồi những câu hỏi cứ bung ra. Chị Hai lâu nay ở đâu? Sao chị Hai đi lâu quá không nhắn tin gì về? Chị Hai lấy chồng chưa, bao giờ chị Hai đưa anh rể về thăm nhà mình. Diễm líu tíu trả lời và dòng nước mắt ngày gặp mặt cũng khô dần.
Lát sau, mẹ Diễm cũng lật đật chạy về. Vừa thấy Diễm bà đã ồ ồ cất tiếng khóc:
- Con ơi, sao con bỏ má đi lâu quá vậy con? Có giận má, giận dượng thì đi vài bữa rồi về, có đâu bỏ đi biệt tăm, biệt tích vậy. Con có biết má lo lắm không?
Diễm bỗng thấy thương má quá chừng. Những giọt nước mắt này không thể là giả được, nó đang rơi lã chã xuống vai áo Diễm nè.
- Má có lỗi với con. Con đừng trách má nữa nghe. Về đây ở với má nghe con…
Bỗng Diễm đẩy mẹ ra:
- Má. Thế còn… dượng đâu?
- Yên tâm đi con. Dượng đi làm ca chiều. Tới mười giờ khuya mới về. Con ơi, xí nghiệp bây giờ khác trước rồi. Có máy nghiền, máy sấy đất rồi. Không ai phải đập đất nữa. Dượng con làm dưới moong, canh chừng máy móc gì đó má hổng biết. Mà, con không giận…
- Thôi mà má.
Diễm gạt đi và đứng dậy, cùng mấy đứa em líu ríu vào nhà. Căn nhà vẫn như xưa, nhỏ bé và mốc meo. Nhưng hình như có những cái mới ngày xưa khi Diễm còn ở nhà chưa có. Chẳng kịp quan sát gì, những đứa em cứ đeo lấy tay Diễm. Diễm mở chiếc bòng lấy ra những món quà xinh xắn cho mấy đứa em. Ngay Diễm về, bệnh viện không chịu nhận số tiền còn lại của Diễm trong quỹ từ thiện. Họ biểu Diễm: “Có bao nhiêu đâu, cô giữ lấy tiền đi đường. Về mua mấy thứ cần thiết cho cuộc sống. Lỡ không ở chung với gia đình được thì còn có đồng tiền mà mua sắm cái này, cái kia”. Đúng là chẳng còn là bao nhiêu thật. Có lẽ chỉ đủ cho Diễm xoay xở trong vòng vài ba tháng là cùng. Không sao, Diễm còn sức, còn có thể đi làm nuôi sống bản thân.
Hôm Diễm về, cả bệnh viện tiễn Diễm ra xe. Cô Tư điều dưỡng viên còn rơi nước mắt khi ôm Diễm vào lòng, trước khi Diễm bước lên xe. Những ngày khỏe lại của Diễm, họ là những người bạn thân. Diễm không để cô Tư làm việc gì một mình. Bản chất con nhà lao động không cho Diễm ở yên.
Hôm nhận được tin Phước Luôn phát điên, Diễm không hiểu nổi tâm trạng của mình. Cô bị hẫng hụt. Kể từ khi Phước Luôn ra tự thú, Diễm luôn hình dung ra một phiên tòa, mà ở đó, trước thanh thiên bạch nhật, trước mọi người, Diễm được vạch mặt chỉ tên kẻ đã làm cho đời Diễm thê thảm. Bỗng nhiên hắn điên. Người phát điên phải là Diễm mới đúng chớ. Bao nhiêu nhục nhã ê chề, bao nhiêu đớn đau thể xác, sao Diễm không thể điên. Diễm mang điều ấy nói với Ba Phận, khi anh đến báo tin Phước Luôn cho cô biết. Ba Phận nói với cô: hắn sợ đền tội. Sợ quá thành điên. Hắn không chỉ mang nỗi khổ cho mình Diễm. Còn nhiều thân phận khác nữa không biết có hơn gì Diễm không. Nhưng điều hắn sợ nhất đó là, hắn có liên quan đến cái chết của một đứa trẻ trên biên giới. Bà chủ nhà trọ, nơi đứa trẻ chết đã bị tạm giữ ngay sau khi Phước Luôn tự thú. Bà ta đã chỉ mặt Phước Luôn, khai hết về cái đêm hôm đó. Phước Luôn đã suy sụp hoàn toàn khi đối chất với bà chủ nhà trọ. Cũng từ hôm đó, hắn không nói gì nữa trong những cuộc thẩm vấn.
Chiều bữa kia, Năm Hợn chạy đến nhà Ba Phận. Vừa gác chân chống chiếc xe miệng Năm Hợn đã la bài hải:
- Ba Phận, nhậu. Có gì làm mồi không, không có để đi mua. Nhà sẵn đế hả.
Ba Phận từ sau nhà nói vọng ra:
- Sẵn sàng chiều. Có mấy con khô ngoài Vũng Tàu gởi cho, còn nguyên chưa đụng tới. Mà sao kỳ vậy. Khi không nhậu khơi khơi vậy. Buồn hả?
- Mắc gì mà buồn. Bực bội. Khó chịu. Đ.M!
Ba Phận rất hiểu Năm Hợn. Đã có lúc họ ngồi chung với nhau trong một lớp tập huấn kéo dài cả năm trời. Tuy nghiệp vụ mỗi người mỗi khác, nhưng khi sáp lại, họ như một cặp bài trùng. Ba Phận hơn Năm Hợn ở chỗ công việc sắp đặt đâu vào đấy. Nhiều người bảo anh có “máu” hành chánh. Năm Hợn thì tỉ mỉ, cẩn trọng nhưng tính nóng như lửa. Có người bảo: tính nết như vậy làm điều tra phải rồi. Trợn mắt một cái, đối tượng khiếp, có gì phun ra hết. Hễ Năm Hợn mà kêu Ba Phận nhậu, thế nào cũng có chuyện gì đó cần “tư vấn”. Còn Ba phận mà kêu Năm Hợn nhậu tức là có chuyện gì đó phải quyết, nhưng còn vướng mắc chưa quyết được. Rượu vô cho nó gan. Ba Phận nói vậy với Năm Hợn.
- Chuyện gì? Nói nghe coi?
- Chuyện thằng Phước Luôn. Nó điên rồi.
- Nó điên? Điên thiệt hay giả?
- Bữa đầu tưởng nó giả điên để chạy tội, ai dè, nó điên thiệt mới chết chớ. Đ.M.
- Thôi đi cha, chửi thề hoài. Nói kỹ lại tôi coi…
Ba Phận xăng xái lo bàn nhậu. Nhà chỉ có ba người. Vợ Ba Phận đang biệt phái xuống phòng công an huyện biên giới để lo làm hộ khẩu cho bà con dân tộc. Có đứa con gái lớn, vô đại học, ở ký túc xá dưới Thành phố. Mọi chuyện trong nhà Ba Phận phải lo. Hồi trước nhà còn nuôi bầy heo. Bây giờ hết dám nuôi vì không ai chăm sóc. Nên lúc này, làm đồ nhậu, cũng chỉ có Ba Phận. Năm Hợn, cởi bỏ bộ sắc phục vô bếp cùng làm. Nói thì nói vậy, vài con khô, làm sao nhậu. Ngay cả chuyện nhậu hai người này cũng hợp nhau. Họ coi cuộc nhậu như một cuộc bồi dưỡng. Người ta mà cầm ly là dô, dô ầm ĩ, chuốc cho nhau đến say tít mới thôi. Còn hai người, khi nhậu, người một ly kiểu “Bắc kỳ”. Ai uống được bao nhiêu thì uống, không ép.
Mâm rượu bày ra. Đúng là có con khô mực, hai người khui đồ hộp, sẵn có mấy trái cà chua, làm dĩa cá mòi hộp sốt cà. Ba Phận vo gạo, đặt nồi cơm. Năm Hợn có cuộc sống thật tệ. Vợ lợi dụng uy tín của chồng đi buôn lậu biên giới. Năm Hợn nói sao cũng không nghe. Anh quyết định ly hôn. Tổ chức can thiệp, không muốn anh có chuyện gia đình làm ảnh hưởng đên công việc. Năm Hợn chưa quyết, thì cô vợ bỏ anh, theo một đầu nậu buôn lậu, không về nữa. Đến lúc đó, không ai cản được anh. Ly hôn. Không có đưa con nào. Năm Hợn ở một mình. Có người mối lái, có người khuyên bảo, năm Hợn cười hềnh hệch: “ Khỏi, không có đàn bà không chết được. Một mình đủ rồi”. Ai cũng biết, anh cười, anh nói vậy, nhưng buồn thúi ruột.
Lát nhậu xong, mỗi đứa vài chén cơm. Năm Hợn về nhà khỏi nấu nướng cho mệt.
- Nào. Nói đi.
Ba Phận đưa ly rượu cụng với Năm Hợn và hối. Năm Hợn nhấp một hớp rượu, nuốt cái ực:
- Vụ án đang tiến triển tốt. Mụ chủ nhà trọ ở cửa khậu Mộc Tân đã khai rồi. Nó bất thường ngay từ hôm tôi cho mụ chủ đối chất với nó mà tôi không để ý. Thường người ta khi gặp chuyện bất ngờ thì giật mình, tái xanh mặt mày, và có thể thì run lên, phải không? Đàng này không. Nó cũng giật mình, nhưng ngay sau đó là nó cười. Cái cười của nó làm tôi giận, nổi nóng, quát tháo om xòm. Thế mà nó vẫn cười. Tôi thèm tống vô mặt nó một thoi. Dằn lắm mới lệnh đưa nó về phòng giam. Thì ngay đêm hôm đó, nó làm náo động cả trại. Ông có biết tôi sợ cái gì không? Sợ nó tự vận. Ở bên này, nghe bên trại tạm giam nổi còi báo động, rồi anh em cảnh vệ chạy rầm rập, là tôi nghĩ ngay đến nó. Linh tính của tôi ông còn lạ gì. Linh tính nghề nghiệp mà. Tôi khoác vội cái áo, lật đật tròng cái quần. Chạy sang đến cổng trại tạm giam, thấy xe cấp cứu ào đi. Tôi ghé ngay phòng trực của trại. Phó giám thị có mặt ở đó. Anh ta không chờ tôi hỏi anh ta nói ngay: “Thằng Phước Luôn, nó xỉu, đưa nó đi bệnh viện rồi. Anh yên tâm, tôi cho người đi theo giám sát rồi”. “ Nhưng làm sao nó lại xỉu?”. Tôi hỏi. Làm sao biết. Anh phó giám thị trả lời vậy. Tôi bực mình văng tục, anh ấy chỉnh liền làm tôi ngượng chín cả người. Sáng hôm sau, người ta lại đưa nó về trại tạm giam. Tôi kêu dẫn nó lên thẩm tra tiếp. Con người nó không còn giống ngày hôm qua một chút nào. Nó co ro, cúm rúm. Nhất là hai con mắt. Nó thất thần, ngơ ngơ, ngáo ngáo. Miệng nó vẫn tủm tỉm cười. Cái cười chẳng nói được là nó đang vui, rất vui, hay khinh bỉ. Rồi nó cứ lẩm bà lẩm bẩm cái gì đó, nghe không được tiếng nào. Tôi cũng hỏi, nhưng nó không trả lời, vẫn cứ lẩm bẩm và nhếch môi cười. Thiệt tình, tôi muốn phát điên vì tức giận. Còn nó cứ thản nhiên. Tôi lại phải trả nó về phòng giam. Tôi yêu cầu giám định y khoa, xem nó bị làm sao. Người ta kết luận nó bị thần kinh phân liệt. Thế là khép lại một vụ án. Như thế ông biểu, có tức bầm gan được không? Một bộ hồ sơ bị khép lại bởi một thằng tâm thần, một thằng điên!
Năm Hợn dốc nột nửa ly rượu vào họng và lại nuốt cái ực. Giống như anh vừa nuốt cục tức vào bụng.
Ba Phận đã kể hết câu chuyện trên đây cho Diễm nghe. Nơi họ ngồi là một chiếc ghế đá trong khuôn viên Bệnh viện đa khoa tỉnh. Đó là một khu vườn thuốc nam khá rộng. Vườn cây được chăm sóc chu đáo nên lúc nào cũng xanh tốt. Những con đường nhỏ trong vườn được trải một lớp đá mi. Hai bên đường, thỉnh thoảng có những chiếc ghế đá. Đó là những vật kỷ niệm của những nhà thầu, những người có thân nhân được trị hết bênh ở bệnh viện này, có cả những nhà khá giả mang đến để tặng. Trên thành ghế ghi đủ tên những người trao tặng. Vườn thuốc nam trở thành một công viên xinh xắn ngay giữa bệnh viện. Ở đó, tượng Hải Thượng Lãn ông được đúc bê tông cao bằng người thật và đặt trên một bệ đá khá cao. Chiếc ghế đá mà Ba Phận và Diễm ngồi đối mặt với bức tượng đó.
- Bây giờ thì em quyết định rồi chớ?
- Dạ, ngày mốt em về. Cám ơn các anh đã giúp em trong thời gian vừa qua.
- Nói gì mà khách sáo thế, Diễm. Em cứ về quê đi. Tụi tôi đã làm hết mọi thủ tục cho Diễm rồi. Kể cả chuyện thông báo cho công an huyện Bình Hòa, để khi Diễm về họ sẽ lo mọi thủ tục cho em.
- Các anh chu đáo quá. Thiệt tình… em chẳng biết gì nữa.
- Khỏi nói. Khi nào có dịp quay lại Tân Nam, nhớ đến anh em chúng tôi, đến thăm, được rồi.
- Dạ.
Tiếng dạ của Diễm gần như không thốt ra được. Nước mắt cô trào ra. Cô cứ để nước mắt chảy dài trên má, như để bao nhiêu tủi nhục trôi theo dòng nước mắt ấy. Ba Phận, vỗ vỗ nhẹ lên vai cô như để an ủi.
***
Còn hôm nay, cô đã về đến nhà. Những đứa trẻ sau khi nhận quà chạy khắp xóm thợ la lối om xòm: “Chị Hai tao về, chị Hai tao về bay ơi”. Còn má Diễm thì chạy vội ra chợ kiếm ít đồ ăn, nấu cơm chiều. Chị lật đật vội vàng, bước thấp, bước cao, thiệt tội nghiệp. Suốt từ lúc nhìn thấy Diễm, chị cứ lẩm bẩm: “ Con về thiệt đó phải không Diễm. Má có lỗi với con. Đừng trách má nữa nghe con”.
Nắng tắt dần.
Vẫn như ngày xưa, nắng chiều trong thung lũng sớm tắt hơn nơi khác. Khi Diễm về còn thấy ánh nắng xuyên vào mắt. Còn lúc này, cái nắng chỉ còn để lại một màn ánh sáng vàng vọt.
Những đứa em mải đi báo tin chị Hai, chưa đứa nào về đến nhà. Kiều này, chắc chúng dám chạy xuống lòng moong, nơi ông dượng ghẻ đang làm lắm. Má Diễm thì lui cui dưới bếp. Còn Diễm, cô vẫn còn bị xúc động trước cảnh xum họp với mẹ và những đứa em. Cô luống cuống, không biết làm cái gì trong căn nhà vốn rất đỗi quen thuộc này. Cô cũng không biết lúc này, mình là khách hay là chủ nhà nữa.
Bỗng có ai đi từ ngoài cổng vào. Sấp bóng, Diễm không nhận ra ai.
Tiếng ai đó thốt lên:
- Diễm. Phải Diễm đó không? Tôi nè…
20
Hôm nay, nhất định tôi phải kể chuyện của tôi cho ông nghe. Nhưng thú thực, tôi nghi ngờ khả năng viết lách của ông lắm.
Hình như đêm qua tôi thức trắng thì phải. Ôi dào. Quan tâm gì đến chuyện thức hay ngủ. Ngủ cũng vậy, mà thức có sao đâu. Vấn đề là bây giờ phải làm gì, chớ không lẽ để một ngày trôi qua vô ích. Tôi không phải là người thích ngồi không. Không làm cái gì có lẽ tôi phát điên lên mất. Cái ông nhà văn, nhà báo ngã tư hình như có nói với tôi một câu y chang vậy thì phải. Một ngày không viết được vài trang chắc phát điên. Tôi có thấy ông viết cái quái gì đâu, sao ông không điên. Ôi rõ tôi là thằng khùng, lão điên thiệt rồi còn gì nữa. Trên những trang giấy của lão tôi chẳng thấy có một chữ nào hết, vì thế lão mới điên nặng như vậy. Lão bảo lão viết được là hết điên phải không? Vậy thì chuẩn bị đi, hôm nay, tôi sẽ kể chuyện tôi cho lão nghe. Lão nghe rồi lão viết. Viết được là lão hết điên. Phải rồi, hôm nay tôi sẽ đi làm cái việc cứu người.
Lão kia rồi. Vẫn ở một góc ngã tư. Bên cạnh những cái bô rác chất đầy rác rến. Những cái nắp cống đã bể. Thỉnh thoảng vẫn có một hai con chuột thò đầu lên chờ lão thả cho một miếng bánh mì. Từ ngày tôi biết lão đến giờ chỉ thấy lão ăn bánh mì. Tội nghiệp. Sao không đi theo tôi, đến chỗ con mẹ bán hủ tiếu mập, sao cũng có một tô hủ tiếu sang trọng nhất mà tôi vẫn được hưởng. Có thịt nè, có hành nè, có xương nè, có khi còn có cả trứng nữa. Cùng với mấy con chuột, vẫn có đàn kiến. Lũ kiến này bám lão dai thế. Vào các buổi sáng còn có đám ruồi, ruồi lằn trên những cái bô rác làm bạn với lão nữa. Lũ này là mất dạy nhất. Bô rác đầy đồ ăn cho ruồi, thế mà chúng không chịu khó mà ăn, cứ bay đến đậu vào mắt mũi lão. Lão hiền thật, cứ mặc lũ ruồi đeo bám, không thèm đuổi. Hình như lão biết, lát nữa thôi những bô rác được kéo đi, lũ ruồi cũng bay đi hết, nên lão chẳng thấy phiền lòng. Trên đời này kiếm được một người như lão quả là hiếm có. Hiền lành, chẳng châm chọc ai, chẳng làm mếch lòng ai, chẳng mấy khi thấy giận, thấy hờn.
Thưa ông điên kính mến. Dạ, hôm nay tôi kính gọi ông là ông điên thay cho thằng điên mà tôi vẫn gọi từ trước đến nay. Ông đừng hỏi lý do. Sống ở trên đời này nếu cái gì cũng có lý do thì chán chết. Tại tôi thích thế. Thưa ông.
Đêm qua tôi thức trắng. Vì thức tôi mới ngẫm ra được một điều vô cùng trọng đại, đó là: nếu không kể hết được mọi chuyện còn ấm ức trong lòng ra thì không thể nào sống nổi. Mà tôi vẫn đang thèm sống. Cuộc sống bén rễ trong tôi không muốn rời tôi nữa, nên tôi phải sống. Cũng vì thức trắng mà hôm qua tôi đã làm một cuộc đánh đổi với con bé bữa trước hù dọa tôi, muốn ăn thua đủ với tôi. Ông có biết cả một đêm, tôi dối điện với cô ta. Cô ta không nói nhiều. Tất cả chỉ có một tiếng: không. Cô giết chết tôi đi, tôi lấy cái chết thường cho cô. Không. Hay tôi về nhà, mang hết tiền bạc tài sản cho cô. Không. Tôi chỉ còn linh hồn, cô nhận lấy đi. Không. Vậy thì cô lấy cái gì mới chịu tha cho tôi. Không. Cô đòi sự trong sạch, tôi lấy gì mà trả cho cô, hay là tôi xin làm tôi mọi cho cô. Không. Nhất định tôi sẽ sống bốn mươi năm nữa, có khi bốn trăm năm chưa biết chừng, cô nhận hết những ngày còn sống của tôi, rồi cô muốn làm gì thì làm. Không. Thưa ông, cuộc trao đổi của tôi với cô ta không thành, ông có cách chi cứu được tôi không? Cô ta luôn xuất hiện trước mặt tôi, giống như môt con quỷ. Tôi sợ lắm. Thế nào cũng có lúc cô ta vồ lấy tôi, ăn tươi, nuốt sống tôi. Tôi không thoát được cô ta. Ông nó cái gì? Đi tu? Tôi làm gì có tư cách vô chùa. Vì sao ư? Muốn vô chùa phải thoát tục. Tôi làm sao mà thoát tục đây, khi nỗi sợ hãi cứ ám ảnh tôi. Xám hối đến bao giờ cho hết được nỗi sợ hãi, đến bao giờ tâm mới tịnh được. Cuộc đánh dổi với cô gái không thành, may quá, khi tôi đớn hèn nhất và quỳ xuống thì cô ta biến mất. Không phải thế, cô ta không nhận cả những cái lạy của tôi nữa. Ông đã làm điều ác bao giờ chưa? Ông bảo là có hả? Khi nào? Nói như ông tôi chẳng hiểu gì cả. Viết thôi mà cũng làm được điều ác ư? Mà thôi, đó là chuyện của ông. Còn tôi, tôi phải kể cho ông nghe chuyện của tôi kia mà. Nhưng xin ông đừng ác với tôi nghe. Tôi sẽ tự vẫn cho ông coi. Đúng thế, cô gái đã biến mất khi tôi quỳ xuống van lạy cô. Quỳ và lạy đến đau lưng mỏi gối tưởng ngẩng đầu lên sẽ nhận được một cái gật đầu của cô ta. Vậy mà không có biết tôi nhìn thấy gì không? Một thằng bé. Một thằng bé, đẹp như thiên thần. Nó có một khuôn mặt tròn như mặt trăng. Nó có cặp mắt trong như hai giọt nước. Nó có cái miệng như một bông hoa hàm tiếu, xinh xắn. Hai má nó phinh phính. Nó ngồi trên một chiếc ghế lót nhung đỏ, chiếc ghế có hai tay ngai rộng. Hai tay nó gác lên tay ngai, còn tôi thì quỳ ngay trước mặt nó:
- Ông nhận ra tôi không?
Tiếng nó lanhh lảnh, không giống tiếng trẻ con chút nào.
- Không, ta không nhận ra con. Ta gặp con lúc nào há?
- Ông thật mau quên. Tôi mà ông không nhận ra thì thật lạ…
- Có phải, có phải…
- Thôi, ông đừng giả đò. Ông nhận ra tôi. Nhất định ông nhận ra tôi…
Tất cả bỗng quay cuồng trước mặt tôi. Thằng bé sùi bọt mép. Thằng bé ứa máu trong miệng. Thằng bé trợn tròn con mắt. Thân xác thằng bé mềm oặt và lạnh toát trong tay tôi. Nó bỗng biến thành một con rắn. Con rắn có bộ da trơn tuột và lạnh thấu xương quấn lấy người tôi. Nó không xiết chặt lấy tôi như người ta thường kể về loài rắn bắt mồi. Thà là nó quấn chặt lấy tôi, xiết cho tôi nát thịt, vụn xương, rồi nuốt vào bụng nó cho xong. Đàng này, nó cứ cà bộ da lạnh như băng giá lên thân xác tôi. Tôi có cảm giác rất rõ bàn tay của thần chết đang mò mẫm trên cơ thể tôi. Bàn tay ấy vuốt trên sống lưng tôi, xoa lên ngực tôi, vuốt hai má tôi, thò vào trong tim tôi, bóp lá phổi tôi, nhào nặn cả con người tôi, vo tôi thành một cục thịt tròn trịa, thảy lên, rớt xuống và lăn lông lốc đến trước mặt thằng bé. Thằng bé co chân đạp lên tôi và cười khanh khách. Tiếng cười chọc vào tai tôi, thốc vào gan ruột tôi. Tôi la lên: Thôi, ta xin nhà ngươi. Nhà người tha cho ta. Nhà ngươi muốn gì, ta sẽ làm thế. Một cái miễu thờ ư? Có, nhất định là có. Ta sẽ tạc tượng nhà ngươi, một bức tượng lớn bằng nhà ngươi. Nhất định là tượng vàng. Nhưng nhà người hãy tha cho ta. Không tha? Vậy thì ta biết làm sao bây giờ? Ta đã van trời, van đất, bây giờ van lạy nhà người nữa, mà nhà ngươi cũng không cho ta thoát khỏi sự sợ hãi này sao?
(còn tiếp)
Nguồn: Kiếp người xuống xuống lên lên. Tiểu thuyết của Nguyễn Đức Thiện. NXB Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|