tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18990349
10.06.2011
Tư liệu
Bóng bàn , một số thuật ngữ

Bóng bàn là một thể thao có 2 bên chơi; 1 hoặc 2 người bên này đánh một trái banh trên bàn bóng qua lại với 1 hoặc 2 người phía bên kia, mỗi người dùng một cây vợt, gần giống như chơi quần vợt.


Bóng bàn là một thể thao có 2 bên chơi; 1 hoặc 2 người bên này đánh một trái banh trên bàn bóng qua lại với 1 hoặc 2 người phía bên kia, mỗi người dùng một cây vợt, gần giống như chơi quần vợt.


Luật chơi bóng bàn khác với quần vợt nhưng những khái niệm cơ bản thì giống nhau. Bóng bàn là môn thi đấu tại Thế vận hội. Cách xoáy bóng, tốc độ và chiến thuật khi chơi là những yếu tố quan trọng khi thi đấu bóng bàn. Tốc độ của trái banh có thể khác nhau, từ đi chậm nhưng xoáy nhiều đến rất nhanh có khi hơn 110 km/h.


Kích thước bàn bóng cỡ 2,7 m × 1,5 m × 0,762 m (9 ft × 5 ft × 3 in), mặt bàn hình chữ nhật cứng, bề mặt có thể có màu xanh lá cây, xanh nước biển, hoặc đen. Một cái lưới ở giữa chia mặt bàn ra thành hai phần bằng nhau (rất giống sân quần vợt) và được căng để đạt tới 15,2 cm (6 in) trên mặt bàn.


Bóng bàn đòi hỏi phải có một căn phòng đủ rộng để người chơi có thể di chuyển thoải mái. Trong những cuộc thi đấu quốc tế, Liên đoàn Bóng bàn Thế giới yêu cầu một diện tích không ít hơn 14 m (46 ft) chiều dài, 7 m (23 ft) chiều rộng và 5 m (16 ft) chiều cao. Bốn góc thì có thể được che phủ bởi bề mặt không dài quá 1,5 m (5 ft).


Cây vợt dài khoảng 10 in, với bề mặt dùng để đánh bóng xấp xỉ 15,8 cm × 15,8 cm (6 in × 6 in), mặc dù luật thi đấu không giới hạn kích thước hay hình dạng. Những cây vợt hiện đại thường có một lớp cao su mỏng phủ lên bề mặt cây vợt. Lớp cao su này có thể có những điểm lấm chấm và những điểm này có thể ở mặt trước hay mặt sau, làm cho lớp mỏng đó trở thành một miếng hút mỏng giữa miếng gỗ ở giữa và cao su ở bề mặt.


Đánh xoáy bóng đóng một vai trò quan trọng trong bóng bàn hiện đại, miếng cao su và sự kết hợp giữa miếng hút và cao su được thiết kế để tăng lượng xoáy và tốc độ người chơi có thể truyền cho trái bóng lên cao nhất. Quả bóng được dùng trong môn bóng bàn có đường kính 40 mm, làm từ xen-lu-lô (cellulose), hoàn toàn rỗng ruột và nhẹ bỗng. Số lượng ngôi sao trên trái banh thường có ý nói lên chất lượng của nó, về độ nảy cũng như độ tròn.


Xoáy bóng kết hợp với tốc độ đã làm cho bóng bàn trở thành một một thể thao thú vị kể cả để chơi và để xem. Sự khác nhau giữa trình độ Olympic và những người chơi tiêu khiển gia đình là rất lớn.


Người chiến thắng là người đầu tiên đạt 11 điểm, và mỗi tay vợt luân phiên giao bóng sau mỗi 2 điểm. Khi điểm số là 10-10 thì sau mỗi điểm lại đổi giao bóng. Người thắng cuộc sẽ là người đầu tiên vượt hơn đối thủ của mình 2 điểm. Ván đấu 11 điểm là một sự thay đổi của Liên đoàn Bóng bàn Thế giới (ITTF) vào năm 2001. Ván đấu 21 điểm vẫn tồn tại rộng rãi trong những cuộc thi đấu giải trí. Tất cả các ván đấu ở cấp quốc gia và quốc tế đều là ván đấu 11 điểm.


Bóng bàn có nguồn gốc từ nước Anh, vốn là một trò giải trí sau giờ ăn tối của giới thượng lưu dưới thời Nữ hoàng Victoria của thập niên 1880.


Năm 1921 Tổ chức Bóng bàn được thành lập ở Anh, và Liên đoàn Bóng bàn Thế giới (ITTF) được thành lập tiếp theo năm 1926. London là chủ nhà đầu tiên của giải vô địch thế giới năm 1927. Bóng bàn được chính thức trở thành môn thi đấu ở Thế vận hội 1988.


Nguồn: www.voc.org.vn


 


Một số thuật ngữ sử dụng trong bóng bàn


Góc độ mặt vợt.


Góc độ mặt vợt là chỉ góc hình thành bởi mặt vợt và mặt bàn bóng. Trong thi đấu VĐV muốn biến đổi góc độ mặt vợt để đỡ hoặc đánh trả đối phương nhằm tạo ra đường bóng có tính năng khác nhau nên góc độ mặt vợt thường xuyên biến đổi.


+ Góc giữa vợt với mặt bàn <30 độ: Mặt vợt nghiêng trước.


+ Góc giữa vợt với mặt bàn 30-:- 45 độ: Mặt vợt hơi nghiêng trước.


+ Góc giữa vợt với mặt bàn =90 độ: Mặt vợt thẳng đứng.


+ Góc giữa vợt với mặt bàn =120 độ: Mặt vợt hơi ngửa sau.


+ Góc giữa vợt với mặt bàn =150 độ: Mặt vợt ngửa sau.


Điểm tiếp xúc khi đánh bóng.


Là chỉ sự tiếp xúc của vợt vào bóng khi đánh bóng. Cứ hình dung mặt cắt ngang qua trái bóng bàn giống như mặt của cái đồng hồ thì từ số 12 đến số 1 gọi là phần trên bóng, từ số 1 đến số 2 gọi là phần trên giữa bóng, số 3 là giữa bóng, số 4 đến số 5 giữa dưới bóng và số 6 là phần dưới bóng.


Các thao tác kỹ thuật trong đánh bóng bóng bàn.


Mặc dù động tác kỹ thuật và phương pháp đánh bóng bàn rất đa dạng và phong phú, nhưng về cấu trúc động tác lại có những quy luật chung bao gồm các động tác sau:


-  Lựa chọn vị trí trước khi đánh bóng.


-  Đưa vợt và vung vợt đón bóng.


-  Quyết định thời điểm đánh vào bóng.


-  Vị trí tiếp xúc vào bóng, góc độ mặt vợt, phương hướng động tác vung vợt khi đánh bóng.


-  Động tác vung vợt theo đà sau khi đánh bóng và trở về tư thế ban đầu.


Độ xoáy của bóng.


Trong quá trình bay nếu bóng đánh đi xoay với tốc độ tương đối lớn và có tính chất xoay rõ rệt thì được gọi là bóng xoáy.


Độ xoáy của bóng khi đánh là một trong những nhân tố chủ yếu góp phần giành thắng lợi của môn bóng bàn. Các loại kỹ thuật chủ yếu của môn bóng bàn hiện đại đều không tách rời khỏi bóng xoáy. Vì vậy muốn đánh bóng bàn tốt thì cần phải nghiên cứu thật kỹ nguyên lý xoáy của bóng trong môn bóng bàn.


 Tốc độ của bóng


Tốc độ đánh bóng nhanh là một trong những nhân tố chủ yếu để giành thắng lợi trong môn bóng bàn, tạo cơ hội trong đập vụt tấn công đưa đối phương vào thế bị động để giành điểm trực tiếp.


Trong vật lý, tốc độ chuyển động của vật thể được xác định bằng quãng đường đi trong 1 đơn vị thời gian. Như vậy trong 1 đơn vị thời gian mà quãng đường đi được của vật thể càng dài thì tốc độ của nó càng nhanh và ngược lại.


Tốc độ trong môn bóng bàn chỉ mức độ nhanh chậm về thời gian bay của bóng và thời gian xen kẽ giữa các lần đánh bóng. Thời gian bay của bóng trên không và thời gian giữa các lần đánh bóng được gọi là tốc độ nhanh ví dụ: đẩy bóng nhanh, vẩy bóng nhan, tấn công nhanh…


Vì vậy muốn nâng cao tốc độ trong bóng bàn cần thiết phải rút ngắn thời gian giữa các lần đánh bóng, thời gian bay của bóng sau khi bóng đánh khỏi tay sang bàn đối phương.


Sức mạnh đánh bóng


Sức mạnh đánh bóng là một trong những nhân tố chủ yếu góp phần giành thắng lợi trong môn bóng bàn. VĐV có sức mạnh đánh bóng tốt thì khi gặp cư hội thuận lợi thì chỉ cần một lần dứt điểm đã giải quyết được vấn đề, ngược lại VĐV có sức mạnh đánh bóng yếu khi gặp cơ hội thì phải tấn công liền mấy quả cũng chưa chắc giành được chủ động đành bỏ lỡ cơ hội. Nói chung sử dụng tốt sức mạnh trong đánh bóng có thể tạo sức uy hiếp lớn với đối phương, dễ chiếm ưu thế trong đánh bóng. Trung Quốc là nước từ trước đến giờ luôn luôn coi trọng sức mạnh trong đánh bóng và coi đó như một tiêu chí để nghiên cứu tìm hiểu, phân loại và đánh giá trình độ cao thấp của các VĐV trong kỹ thuật đánh bóng.


Tốc độ và sức mạnh trong đánh bóng chủ yếu được quyết định bởi tốc độ ra vợt ở thời điểm đánh vào bóng lớn hay nhỏ (xung lực). Vì vậy muốn có tốc độ tốt trong đánh bóng cần phải nâng cao các tố chất thể lực như: tố chất tốc độ, tố chất sức mạnh đặc biệt là xung lực khi tiếp xúc vào bóng và năng lực phối hợp nhịp nhàng của toàn thân.


Đường bay của bóng


Trong quá trình bay trong không khí, do bóng chịu tác động của lực hút trọng trường mà tạo thành 1 đường bay vòng cung, ta gọi đó là đường bay vòng cung của bóng.


Do vị trí tiếp xúc khi đánh vào bóng phần lớn thấp hơn mặt lưới nên đường bay vòng cung của bóng tốt phải đảm bảo điều kiện để bóng bay qua lưới và rơi xuống bàn của đối phương với độ cao và điểm rơi thích hợp, đồng thời phải tăng được độ khó khi đánh trả.


Độ cao đường vòng cung của bóng cần phải cao hơn mặt lưới nhưng không được quá cao mà tạo điều kiện thuận lợi cho đối phương tấn công.


Độ cao vòng cung của đường bóng được quyết định bởi hướng đánh và tốc độ bóng sau khi rời khỏi mặt vợt. Tốc độ bay của bóng càng nhanh thì độ cong của đường bay càng nhỏ, đường bắn thẳng càng ngắn và ngược lại. Trong bóng bàn đường bắn thẳng của bóng không nên quá dài hoặc quá ngắn, nếu quá dài bóng dễ bay ra ngoài bàn, quá ngắn bóng dễ không qua lưới. Điều cần lưu ý là bóng xoáy lên có thể làm cho độ cong của đường bay vòng cung lớn thêm, đường bắn thẳng ngắn lại còn bóng xoáy xuống thì ngược lại.


Đường đánh bóng


Đường đánh bóng của bóng bàn chỉ đường bay của bóng trên không so với mặt bàn bóng. Theo thói quen lấy phương hướng và vị trí đứng giữa bàn bóng của người đánh bóng làm chuẩn, có thể chia làm 5 đường đánh bóng cơ bản: Đường chéo trái, đường thẳng trái, đường trung lộ, đường chéo phải và đường thẳng phải.


Trong thi đấu nếu VĐV giỏi về việc thay đổi đường bóng có thể điều động được đối phương phải chạy liên tục sang trái, sang phải để đỡ bóng, đồng thời buộc đối phương phải đánh bóng thay đổi thuận tay và trái tay tạo cơ hội chủ động trong dứt điểm.


Điểm rơi của bóng


Điểm rơi của bóng là chỉ điểm tiếp xúc của bóng trên mặt bàn bóng. Trong thi đấu nếu vận dụng tốt đường bóng, chủ động điều chỉnh hợp lý điểm rơi của bóng có thể tăng thêm độ khó buộc đối phương phải sang trái, sang phải, lên, xuống trước sau phá vỡ ý đồ chiến thuật của đối phương.


 MẶT VỢT BÓNG BÀN:


Phần lớn tốc độ của một cây vợt bóng bàn được xác định bởi cốt vợt. Mặt vợt bóng bàn mặc dù cũng góp phần xác định tốc độ của cây vợt nhưng tác dụng chính của nó là tạo ra độ xoáy. Mặt vợt bóng bàn có thể phân làm 5 loại:


Inverted: Mặt vợt “inverted” có khả năng tạo ra độ xoáy rất lớn do cấu trúc bề mặt dính của nó. Phù hợp với tất cả các lối chơi từ phòng thủ đến tấn công. Đây là loại mặt vợt phổ biến nhất hiện nay.


Short pips: Mặt vợt “short pip” thực chất là loại mặt vợt “inverted” nhưng lật ngược lại tạo nên một bề mặt với rất nhiều nốt.. Khoảng trống giữa các nốt này có tác làm giảm độ xoáy của trái bóng. Điều này giúp bạn tạo ra những cú đánh trả mạnh mẽ dù trái bóng bay tới có xoáy như thế nào. Mặt vợt “short pips” phù hợp nhất với những cú đánh trả những quả giao bóng. Tuy nhiên loại mặt vợt này không có khả năng tạo ra nhiều độ xoáy như là loại mặt “inverted”.


Long pips: Loại mặt vợt này có cấu trúc giống mặt vợt short pip nhưng các nốt trên bền mặt cao hơn. Khi trái bóng do đối phương đánh tác động vào bề mặt loại mặt vợt này, các nốt trên bề mặt sẽ dễ dàng bị uốn cong, làm đảo chiều xoáy của trái bóng, việc này sẽ khiến cho đối phương khó đoán được chiều xoáy của trái bóng khi bạn đánh trả.


No Sponge: Mặt vợt “No Sponge” có cấu trúc giống mặt vợt “Short pip” nhưng không có lớp sponge (là cao su xốp nằm giữa phần gỗ và phần mặt cao su). Do đó ngoài tính năng giảm xoáy như ở mặt vọt short pip, mặt vợt sponge còn tạo ra được những cú đánh nhanh gọn.


Anti: Mặt vợt “Anti- spin” có cấu tạo giống mặt vợt “inverted” nhưng có lớp cao su bề mặt rất trơn. Loại mặt vợt này đặc biệt phù hợp cho việc chặn hoặc đánh trả những quả giao bóng.


Sponge: Lớp sponge, hay còn gọi là lớp cao su xốp là lớp nằm giữa phần cao su của mặt vợt và phần cốt gỗ, đóng vai trò như là cái đệm. Lớp sponge mỏng sẽ ít đàn hồi hơn, do đó trái bóng sẽ dễ dàng lún sát vào bề mặt lớp cốt gỗ, tạo ra cảm giác bề mặt cứng, cú đánh sẽ có tốc cao nhưng độ xoáy thấp. Lớp sponge dày hơn sẽ tạo cảm giác êm hơn và độ xoáy cao hơn do trái bóng sẽ lún sâu vào trong lớp cao su xốp và bật ngược trở lại với độ xoáy và vận tốc rất lớn.


 - Forehand drive: Đánh bóng thuận tay.


- Backhand drive: Đánh bóng trái tay.


- Topspin: Đánh bóng xoáy lên.


- Backspin: Đánh bóng xoáy xuống.


- Block: Chặn bóng.


- Schufp: Trả bóng ngắn.


- Flip: Đánh bóng trên bàn.


- Chop: Cắt bóng.


- Right side spin: Xoáy ngang sang phải.


- Left side spin: Xoáy ngang sang trái.


- Corkscrewspin: Xoáy nút chai.


- No- spin: Đánh bóng không xoáy.


- Serve or service: Phát bóng.


- Anti- topspin: đây là loại mặt vợt dân mình vẫn gọi là anti hoặc mặt phản xoáy, thường dùng để phòng thủ.loại mặt vợt này có tính năng rất chuội, trả lại những quả bóng lập lờ hay còn gọi là bóng lỏng rất khó đánh.


- Backspin: một loại xoáy rất khó đỡ, nếu đặt vợt ở tư thế thông thường thì bóng sẽ '' dính '' ngay vào lưới => xoáy xuống.


- Block: một cú đánh thường sử dụng để phòng thủ và phản công, sử dụng đối với các quả giật và bạt.


- Chop: cắt phòng thủ xa bàn, đây là một cú đánh kèm theo rất nhiều xoáy xuống.


- Drive: đây là cú líp công thuận tay hoặc trái tay, thường sử dụng để gài, tạo nên thế trận hoặc bắt đầu 1 cuộc '' rally ''.


- Drop shot: hay dân ta vẫn gọi là bỏ nhỏ, là cú đánh với lực rất nhẹ, chỉ đủ để qua lưới, mang tính chất đột biến và bất ngờ. Rất có tính chiến thuật.


 


- Expedite rule: luật này sử dụng trong 1 set sau 10 phút, nếu 2 bên vẫn hòa, trong từng điểm sau đó, người đỡ giao bóng sẽ ăn được điểm nếu trả thành công 13 cú đánh bóng bên đối thủ.Vì có luật này nên người giao bóng sẽ tìm mọi cách để thay đổi chiến thuật đỡ bóng của đối thủ bên kia.


- Glue: là những loại keo đã được ITTF (International Table Tennis Federation: liên đoàn bóng bàn quốc tế) chấp nhận, sử dụng để dán mặt vợt vào cốt vợt hoặc topsheet vào mút (sponge).


- Inverted rubbers: mặt vợt trơn, đây là loại mặt vợt thông dụng nhất thế giới hiện nay với nhiều chức năng khác nhau.trong tất cả các loại mặt vợt, mặt trơn có thể tạo ra nhiều xoáy và nhiều lực nhất, tuy nhiên lại ko đỡ bóng xoáy hay = mặt gai được.


- Let: khi trọng tài hô câu này tức là trận đấu phải tạm dừng để bắt đầu lại 1 trong 2 lý do: vđv giao bóng chạm lưới hoặc có sự can thiệp từ bên ngoài.


- Lob: hay Việt Namcòn gọi là lốp => còn gọi là kỹ thuật thả bóng bổng, là cú đánh sử dụng để phòng thủ.người chơi sẽ xài quả này để đối phó với các quả bóng có tốc độ cao, qua đó trả lại 1 quả bóng cao trên không với 1 lượng xoáy kha khá gây khó khăn cho đối thủ nếu không có kĩ thuật tốt và không biết tính toàn thời gian chuẩn xác.


- Long pips: mặt gai phản xoáy với gai dài trên bề mặt vợt.Loại mặt vợt này chuyên sử dụng để đánh phòng thủ bởi tuy nó không có tác dụng tự tạo ra xoáy nhưng lại dựa vào xoáy của đối thủ và trả lại 1 quả xoáy ngược lại.


- Loop: đây là cú tấn công thông dụng nhất đối với người chơi ở mức khá trở lên, còn gọi là quả giật.đây là cú đánh kèm theo rất nhiều xoáy lên.


- Medium -  long: quả serve dài vừa phải, chạm lần thứ 2 ở mặt bàn của đối phương ở phần gần cuối bàn hoặc cuối bàn, có tác dụng hạn chế đối phương tấn công ngay từ đầu.


- Push: Việt Nam gọi là quả gò ngắn, dùng để trả những quả xoáy xuống.


- Short serve: quả serve ngắn, sẽ nảy ít nhất 2 lần trong bàn của đối phương, rất hạn chế khả năng tấn công của đối phương.


- Side spin: xoáy ngang, nếu trả bóng không đúng cách thì bóng sẽ bật ra ngoài bàn theo bên trái hoặc phải.


- Top spin: xoáy lên, nếu trả bóng không đúng cách thì bóng sẽ bật thẳng ra ngoài.


Nguồn: socola.vn


 


Bóng bàn


Là một thể thao có 2 bên chơi; 1 hoặc 2 người bên này đánh một trái banh trên bàn bóng qua lại với 1 hoặc 2 người phía bên kia, mỗi người dùng một cây vợt, gần giống như chơi quần vợt. Luật chơi bóng bàn khác với quần vợt nhưng những khái niệm cơ bản thì giống nhau. Bóng bàn là môn thi đấu tại Thế vận hội. Cách xoáy bóng, tốc độ và chiến thuật khi chơi là những yếu tố quan trọng khi thi đấu bóng bàn. Tốc độ của trái banh có thể khác nhau, từ đi chậm nhưng xoáy nhiều đến rất nhanh có khi hơn 110 km/h.


 


Bàn bóng hiện đạiKích thước bàn bóng cỡ 2,7 m × 1,5 m × 0,762 m (9 ft × 5 ft × 30 in), mặt bàn hình chữ nhật cứng, bề mặt có thể có màu xanh lá cây, xanh nước biển, hoặc đen. Một cái lưới ở giữa chia mặt bàn ra thành hai phần bằng nhau (rất giống sân quần vợt) và được căng để đạt tới 15,2 cm (6 in) trên mặt bàn.


 


Bóng bàn đòi hỏi phải có một căn phòng đủ rộng để người chơi có thể di chuyển thoải mái. Trong những cuộc thi đấu quốc tế, Liên đoàn Bóng bàn Thế giới yêu cầu một diện tích không ít hơn 14 m (46 ft) chiều dài, 7 m (23 ft) chiều rộng và 5 m (16 ft) chiều cao. Bốn góc thì có thể được che phủ bởi bề mặt không dài quá 1,5 m (5 ft).


 


Cây vợt thì thường dài khoảng 10 in, với bề mặt dùng để đánh bóng xấp xỉ 15,8 cm × 15,8 cm (6 in × 6 in), mặc dù luật thi đấu không giới hạn kích thước hay hình dạng. Những cây vợt hiện đại thường có một lớp cao su mỏng phủ lên bề mặt cây vợt. Lớp cao su này có thể có những điểm lấm chấm và những điểm này có thể ở mặt trước hay mặt sau, làm cho lớp mỏng đó trở thành một miếng hút mỏng giữa miếng gỗ ở giữa và cao su ở bề mặt.


 


Quả bóng bàn: Đánh xoáy bóng đóng một vai trò quan trọng trong bóng bàn hiện đại, miếng cao su và sự kết hợp giữa miếng hút và cao su được thiết kế để tăng khả năng xoáy và vận tốc mà người chơi có thể truyền cho trái bóng lên cao nhất. Quả bóng được dùng trong môn bóng bàn có đường kính 40 mm, làm từ xen-lu-lô (cellulose), hoàn toàn rỗng ruột và nhẹ bỗng. Số lượng ngôi sao trên trái banh thường có ý nói lên chất lượng của nó, về độ nảy cũng như độ tròn.


 


Xoáy bóng kết hợp với tốc độ đã làm cho bóng bàn trở thành một một thể thao thú vị kể cả để chơi và để xem. Sự khác nhau giữa trình độ Olympic và những người chơi tiêu khiển gia đình là rất lớn.


 


Người chiến thắng là người đầu tiên đạt 11 điểm, và mỗi tay vợt luân phiên giao bóng sau mỗi 2 điểm. Khi điểm số là 10-10 thì sau mỗi điểm lại đổi giao bóng. Người thắng cuộc sẽ là người đầu tiên vượt hơn đối thủ của mình 2 điểm. Ván đấu 11 điểm là một sự thay đổi của Liên đoàn Bóng bàn Thế giới (ITTF) vào năm 2001. Ván đấu 21 điểm vẫn tồn tại rộng rãi trong những cuộc thi đấu giải trí. Tất cả các ván đấu ở cấp quốc gia và quốc tế đều là ván đấu 11 điểm.


 


Bóng bàn có nguồn gốc từ nước Anh, vốn là một trò giải trí sau giờ ăn tối của giới thượng lưu dưới thời Nữ hoàng Victoria của thập niên 1880.


 


Môn bóng bàn gắn liên với tên tuổi Kỹ sư Giêm Ghibơ (James Gibb). Từ năm 1889, ông đã cùng với những người trong gia đình dùng bàn ăn và những chiếc vợt bằng gỗ, quả bóng bằng lie để giải trí. Trò chơi này đã thu hút sự chú ý của công chúng nước Anh và Hãng Xenluloit (Celluloid) đã cùng tác giả hợp tác để sản xuất ra những quả bóng... Từ đó trò chơi đã có hiệu quả hơn. Việc sản xuất bóng bàn được thương mại hóa nhanh chóng và nó trở thành một môn thể thao được nhiều người ưa thích vì rẻ tiền mà tác dụng rèn luyện thì rất hiệu quả.


 


Sự phổ biến của trò chơi này đã đưa đến việc các nhà sản xuất trò chơi điện tử (electronic game) bán những dụng cụ thi đấu nhằm mục đích thương mại. Âm thanh tạo ra trong lúc chơi các trò này được đặt cho các tên như "whiff whaff" và "ping pong". Cái tên Ping pong được sử dụng rộng rãi trước khi công ty J. Jaques & Son Ltd của Anh đăng kí bản quyền vào năm 1901. Cái tên ping pong từ đó được dùng cho những trận đấu sử dụng dụng cụ thi đấu Jaques rất đắt tiền. Một tình trạng tương tự xảy ra ở Hoa Kỳ nơi mà Jaques đã bán quyền sử dụng tên ping pong.


 


Bóng bàn bắt đầu phát triển và phổ biến từ năm 1901 khi những cuộc đấu bóng bàn được tổ chức, những cuốn sách viết về bóng bàn bắt đầu xuất hiện, và một giải vô địch thế giới không chính thức được tổ chức vào năm 1902. Năm 1921 Tổ chức Bóng bàn được thành lập ở Anh, và Liên đoàn Bóng bàn Thế giới (ITTF) được thành lập tiếp theo năm 1926. London là chủ nhà đầu tiên của giải vô địch thế giới năm 1927. Bóng bàn được chính thức trở thành môn thi đấu ở Thế vận hội 1988.


 


Đến cuối năm 2000, ITTF đã thay đổi một vài luật thi đấu. Đầu tiên, quả bóng cũ, đường kính 38 mm, được chính thức thay thế bằng quả bóng 40 mm. Điều này làm mở rộng sức cản không khí của quả bóng và giảm tốc độ trận đấu. Vào thời điểm đó, các tay vợt bắt đầu mở rộng độ dày của lớp cao sau dưới cây vợt, làm cho trận đấu sẽ trở nên nhanh hơn, và rất khó có thể coi được trên TV. Thứ hai, ITTF thay đổi từ hệ thống ván đấu 21 điểm xuống 11. ITTF cũng đổi luật giao bóng để tránh việc vận động viện giấu bóng trong khi giao để kéo dài độ dài đường bóng, và cũng để giảm bớt sự phụ thuộc vào việc giao bóng.


 


Thi đấuBắt đầu một trận đấuỞ những trận thi đấu cao, việc giao bóng được quyết định bằng tung đồng tiền cắc. Ở những trận đấu đẳng cấp thấp hơn, thì thường một vận động viên (hoặc trọng tài) giấu quả bóng vào một bàn tay nào đó (thường giấu dưới bàn) và để vận động viên kia đoán thử quả bóng ở trong tay nào, nếu đoán đúng sẽ được chọn quyền giao bóng trước, hoặc chọn bên bàn để thi đấu.


 


Nếu một người thắng và chọn bên, thì người kia sẽ được quyền giao bóng.


 


Giao bóngKhi thi đấu, 1 điểm được tính cho người đang giao bóng. Đứng sau cạnh bàn, với trái banh trong một tay và cây vợt trong tay kia, người giao bóng tung trái bóng lên, không được xoáy, tung thẳng đứng ít nhất 16 cm. Hoặc 5giay6 mới cham bóng


 


Người giao bóng phải đánh vào trái bóng để nó nảy một lần ở nửa bàn của mình, và nảy ít nhất một lần ở nửa bàn của đối thủ. Nếu trái banh đụng lưới nhưng không không đập bên nửa bàn đối phương, 1 điểm sẽ thuộc về đối phương. Tuy nhiên, nếu trái banh đụng lưới, nhưng vẫn đi qua và nảy bên nửa bàn kia, trái banh sẽ phải giao lại.


 


Từ khi bắt đầu quả giao bóng đến khi bóng được đánh đi, quả bóng phải ở phía trên mặt bàn và đằng sau đường biên cuối bàn của người giao bóng và bóng không được che khuất tầm nhìn của người đỡ giao bóng bằng bất kỳ một bộ phận nào trên cơ thể hoặc áo quần của người giao bóng hoặc của người cùng đánh đôi với đấu thủ này. Ngay sau khi quả bóng đã được đánh đi, cánh tay tự do của người giao bóng phải rời khỏi khoảng không gian giữa cơ thể của người giao bóng và lưới.


 


Nếu giao bóng tốt, đối thủ sẽ phải trả lại bằng cách đánh trả lại quả bóng trước khi nó nảy thêm lần thứ hai. Đánh trả cú giao bóng là một trong những phần khó nhất của cuộc chơi, vì cú giao bóng đầu tiên rất khó đoán trước được.


 


Đổi giao bóng


Một dạng vợt bóng bànNếu phạm lỗi trong lúc giao bóng sẽ làm cho đối thủ kia được thưởng điểm. Đổi giao bóng sẽ diễn ra sau mỗi 2 điểm cho tới khi một tay vợt chiến thắng với 2 điểm cách biệt, hoặc tới khi đạt 10-10 ("deuce"), giao bóng sẽ đổi sau mỗi điểm. Trận đấu kéo dài đến 11 điểm và người chơi phải thắng với ít nhất 2 điểm cách biệt. Nếu đã đến "deuce", đổi giao bóng sau mỗi điểm cho đến khi trận đấu kết thúc khi có người chơi dẫn trước người kia 2 điểm.


 


Khi gia đấu đôi, đổi giao bóng xảy ra sau mỗi 2 điểm giữa hai bên, nhưng cũng thay đổi giữa những tay vợt cùng bên. Ví dụ, tay vợt A giao bóng 2 lần sau đó đổi giao bóng cho đội đối phương, và tay vợt B (cùng đội với A) bước lên vị trí nhận banh đội kia giao. Sau 2 điểm ghi được do đội đối phương giao, B trở thành người giao bóng. Giao bóng tiếp tục xoay vòng giữa từng thành viên như thế cho đến hết trận. Việc giao bóng cũng thay đổi những người đỡ bóng giữa mỗi hiệp. Nếu tay vợt A của đội 1 giao bóng hiệp đầu cho tay vợt A trong đội 2 (A1-A2), hiệp tiếp theo tay vợt A của đội 1 giao cho tay vợt B của đội 2 (A1-B2).


 


Trong ván đấu cũ 21 điểm, giao bóng được đổi sau 5 điểm. Nếu cả hai bên đều đạt tới 20 điểm, giao bóng lại đổi sau mỗi điểm cho đến khi một bên có 2 điểm vượt hơn bên kia.


 


Thi đấu bóng bàn rất phổ biến ở châu Á và châu Âu và đang phát triển mạnh của Hoa Kỳ. Trong khi Trung Quốc đang tiếp tục vượt trội trong những danh hiệu quốc tế gần đây, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thuỵ Điển, Đức và Pháp cũng đang sản sinh ra nhiều lứa vận động viên đẳng cấp quốc tế.


 


Những tay vợt nổi tiếng


Một bảng những tay vợt nổi tiếng đã có ở trang web của ITTF (Lưu ý: thắng Grand Slam là thắng huy chương vàng Thế vận hội, trở thành vô địch thế giới và đoạt Cúp Thế giới - Hiện nay trên thế giới chỉ mới có ba người đạt danh hiệu Grand Slam).


 


A. K. Vint (Anh)


Angelica Rozeanu (Romania), vô địch thế giới 6 lần liên tiếp từ 1950-1955


Anna Sipos (Hungary)


Bettine Vriesekoop (Hà Lan), vô địch châu Âu 1982 và 1992


Bohumil Vana (Tiệp Khắc)


Cao Yanhua (Trung Hoa)


Trang Trí Uyên (Đài Loan)


Đặng Á Bình (Trung Quốc), 2 lần vô địch Thế vận hội đơn và đôi (1992 và 1996), 3 lần vô địch thế giới, 3 lần vô địch thế giới đôi


Desmond Douglas (Anh), tay vợt công nổi tiếng với những cú đập


Ella Zeller (Romania)


Ferenc Sido (Hungary)


Frantisek Tokar (Tiệp Khắc)


Eguchi Fujie (Nhật Bản)


Ge Xinai (Trung Quốc)


Gizi Farkas (Hungary)


Guo Yuehua (Trung Quốc)


H. Roy Evans (Wales)


Ogimura Ichiro (Nhật Bản)


Ivan Andreadis (Tiệp Khắc)


Ivor Montagu (Anh)


Jan-Ove Waldner (Thuỵ Điển), thắng grand slam đầu tiên năm 1992, vô địch thế giới 1997 và 1989, á quân thế giới 1987 và 1991, huy chương vàng đơn nam Thế vận hội 1992 tại Barcelona, huy chương bạc Thế vận hội 2000 tại Sydney, đứng vị trí thứ 4 Thế vận hội 2004 tại Athena (đánh bại Mã Lâm và Timo Boll), đoạt Cúp Thế giới 1990


 


Jan-Ove WaldnerJean-Philippe Gatien (Pháp), huy chương bạc đơn nam Thế vận hội 1992, vô địch thế giới 1993


Jean-Michel Saive (Bỉ), á quân thế giới 1993, 12 tay vợt mạnh nhất châu Âu 1994, vô địch châu Âu 1994, á quân thế giới 1994


Jörgen Persson (Thuỵ Điển), vô địch thế giới 1991


Joo Se Hyuk (Hàn Quốc), á quân thế giới 2003


Kalinikos Kreanga (Hy Lạp)


Khổng Lệnh Huy (Trung Quốc), (Kong Linghui), người thứ ba thắng Grand Slam năm 2000, vô địch thế giới 1995, á quân thế giới 2001, huy chương vàng đôi nam Thế vận hội 1996, huy chương bạc đôi nam Thế vận hội 2000, huy chưong vàng đơn nam Thế vận hội 2000, Cúp Thế giới 1995, á quân Cúp Thế giới 2002; Khổng Lệnh Huy có lối di chuyển chân tuyệt vời và độ dài trận đấu ngắn đi đã làm anh trở thành một trong những tay vợt giỏi nhất.


Jiang Jialiang (Trung Quốc)


Jimmy McClure (Hoa Kỳ)


Johnny Leach (Anh)


Matzusaki Kimiyo (Nhật Bản)


Ladislav Stipek (Tiệp Khắc)


Laszlo Bellak (Hungary)


Lưu Quốc Lượng (Trung Quốc), (Liu Guoliang) người thứ hai thắng Grand Slam năm 1999, vô địch thế giới 1999, huy chương vàng đôi và đơn Thế vận hội 1996


Maria Mednyanszky (Hungary)


Marie Kettnerova (Tiệp Khắc)


Matthew Syed (Anh), một chuyên gia về phòng thủ, 3 lần vô địch Commonwealth Games


Mã Lâm (Trung Quốc), (Ma Lin), á quân thế giới 1999 và 2005, huy chương vàng đôi nam Thế vận hội 2004, Cúp Thế giơí trong các năm 2000, 2003, 2004 và 2006. Người duy nhất giành nhiều hơn 2 cup đơn thế giới (4 cup).


Michael Maze (Đan Mạch), hạng 3 thế giới 2005, huy chương đồng đôi nam Thế vận hội 2004, thắng Euro Top 12 năm 2004


Miklos Szabados (Hungary)


Hasegawa Nobuhiko (Nhật Bản)


Peter Karlsson (Thuỵ Điển)


Richard Bergmann (Áo)


Stephen Kelen (Hungary)


Timo Boll (Đức), vô địch thế giới 2002 và 2005, thắng Euro Top 12 2002 và 2003, vô địch châu Âu 2002


Vladimir Samsonov (Belarus), 3 lần vô địch châu Âu, 2 lần vô địch thế giới, 3 lần thắng Euro Top 12


Toshiaki Tanaka (Nhật Bản)


Vera Votrubcova (Tiệp Khắc)


Victor Barna (Hungary và Anh), 5 lần vô địch đơn và 7 lần vô địch đôi vào thập niên 1930


Vương Lệ Cần (Trung Quốc), (Wang Liqin), vô địch thế giới 2001 và 2005, huy chương vàng đôi nam Thế vận hội 2000, huy chương đồng Thế vận hội 2004, á quân Cúp Thế giới 2001


Vương Nam (Trung Quốc), vô địch đơn nữ Thế vận hội 2000, 3 lần vô địch thế giới


Wang Tao (Trung Hoa)


Werner Schlager (Áo), vô địch thế giới 2003, hạng 3 thế giới 1999, á quân Cúp Thế giới 1999, vô địch châu Âu 2000


Zhang Xielin (Trung Hoa)


Trương Di Ninh (Trung Quốc)


Zoltan Mechlovitz (Hungary)


Zoran Primorac (Croatia), vô địch thế giới 1993 và 1997, á quân châu Âu 1998 và 2000


Tổ chứcLiên đoàn bóng bàn thế giới (ITTF): http://ittf.com


Liên đoàn bóng bàn Hoa Kỳ


Tổ chức bóng bàn các trường đại học quốc gia Hoa Kỳ (NCTTA)


Liên đoàn bóng bàn châu Á (ATTU)


Bóng bàn Việt NamTập tin:Lvt.jpg


Lê Văn TiếtTrước năm 1975, bóng bàn Việt NamCộng hoà đã từng giành giải vô địch châu Á năm 1957 (tại Manila, Philippines) và 1958 (tại Tokyo) với Mai Văn Hòa, Lê Văn Tiết, Trần Cảnh Được, Trần Văn Liệu.., và luôn đứng đầu khu vực Đông Nam Á trong những năm 1960-1969.


 


Năm 1953 đội tuyển nữ miền nam (lứa của Nguyễn Kim Hằng) đứng thứ 2 châu Á.


 


Năm 1959, tại Giải vô địch thế giới ở Dortmund (Đức), đội tuyển nam Việt NamCộng hoà xếp hạng 3 thế giới.


 


Sau năm 1975, do chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố mà bóng bàn Việt Namkhông còn được quan tâm đào tạo như trước, nên đã trở nên yếu hơn rất nhiều và đang dần tụt hậu.


 


Năm 1993, Việt Namtrở lại đấu trường khu vực, SEA Games 17 với mục tiêu học hỏi và đã giành được chiếc huy chương vàng đồng đội nữ (Trần Thu Hà và Nhan Vị Quân).


 


Năm 1995, 1997, 1999, 2001 và 2003, bóng bàn Việt Namgiữ chức vô địch đơn nam Đông Nam Á tại các kì SEA Games, với lứa vận động viên Vũ Mạnh Cường, Trần Tuấn Quỳnh.


 


Từ năm 2002 đến nay, với sự tiến bộ ngày càng mạnh mẽ của các tay vợt Indonesia, Philippines, Thái Lan, đồng thời với trào lưu nhập quốc tịch cho các vận động viên Trung Quốc - một cường quốc bóng bàn thế giới - của Singapore, Malaysia đã khiến cho bóng bàn Việt Namgần như mất dần vị thế ngay cả ở đấu trường khu vực nhỏ nhất. Tại SEA Games 23 (Bacalod, Philippines), Singapore đã thống trị và Việt Namra về trắng tay.


 


Năm 2004, khi Liên đoàn Bóng bàn Thế giới quyết định cấp cho vùng Đông Nam Á một suất tham dự Thế vận hội 2004 tại Athena, Đoàn Kiến Quốc đã xuất sắc vượt qua vòng loại khu vực để đặt chân lên đấu trường lớn nhất thế giới. Tuy nhiên đây là sân chơi quá tầm, Quốc đã thua ngay trận đầu tiên trước Yang Min (của Ý) 1-4.


 


Hàng năm, khoảng tháng 7-8, luôn có giải bóng bàn Cây vợt vàng (Golden Racket) thu hút nhiều vận động viên tham dự. Tuy chưa đến tầm cỡ một giải Pro Tour của ITTF, nhưng nhiều tay vợt nổi tiếng cũng đã từng đến với Cây vợt vàng như Mã Lâm, Joo Se Hyuk... Đáng tiếc là các tay vợt Việt Namhầu như chưa bao giờ giành được chiếc huy chương vàng đơn cả. Đây là giải đấu với mục đích học tập. Năm 1992, Cúp bóng bàn Thế giới cũng được tổ chức ở Thành phố Hồ Chí Minh.


Nguồn: Wikipedia

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ủy ban kiểm tra Trung ương đề nghị kỷ luật ông Đinh La Thăng - Nhiều tác giả 27.04.2017
Kết luận về một số sai phạm của lãnh đạo Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam PVC - Tư liệu sưu tầm 27.04.2017
Cuộc tấn công Quyến rũ của Trung Quốc đã kết thúc? - Tư liệu 27.04.2017
Tình cảnh những cựu binh Mỹ trở về từ Việt Nam - Kyle Longley 27.04.2017
Báo cáo về vụ nổi dậy ở Thái Bình 1997 - Tương Lai 27.04.2017
Trao đổi với Giáo sư Phan Huy lê về Sử Việt - Hà Văn Thùy 27.04.2017
Chuyện ít biết về cơn bão từng làm chết 3.000 người ở Sài Gòn - Nhiều tác giả 26.04.2017
Cuộc chiến đã qua đi: Hồi ức và bài học lịch sử - Drew Gilpin Faust 22.04.2017
22/04/1994: Richard Nixon qua đời - Tư liệu sưu tầm 22.04.2017
Thần thoại Hy Lạp (8) - Nguyễn Văn Khỏa 22.04.2017
xem thêm »