tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20773269
Những bài báo
02.06.2011
Tư liệu
Những địa danh Việt Nam bị thay đổi và sai lệch

Bài của PGS, TS. Lê Trung Hoa


Ở Việt Nam, có hàng trăm địa danh bị thay đổi hay sai lệch về ngữ âm và chữ viết. Tìm hiểu những nguyên nhân gây ra sự biến đổi này, chúng ta sẽ hiểu được nguồn gốc và ý nghĩa ban đầu của các địa danh.


Những kiểu thay đổi và sai lệch cụ thể như sau:


1- Do hiện tượng đồng hóa: Hai âm tố khác nhau nhưng đứng gần nhau, âm tố này làm cho âm tố kia giống với nó. Có hai địa danh thuộc kiểu này:


Pha Đin là đèo trên Quốc lộ 6, từ huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đi huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, dài 36km, cao 1.050m. Cũng gọi là Cổng Trời. Chữ Pha Đin từ gốc Tày - Nùng Phạ Đin, nghĩa là “trời đất”, vì đèo quá cao, như chỗ gặp nhau giữa trời và đất. Ở đây có hiện tượng đồng hóa thanh điệu: thanh ngang của Đin đồng hóa thanh nặng của Phạ thành Pha.


Tam Thương là bến trên sông Trà Khúc (Quảng Ngãi). Tam Thương vốn là từ Hán Việt, dạng gốc là Tạm Thương, nghĩa là “kho tạm”, nằm gần bến. Ở đây thanh ngang của Thương đồng hóa thanh nặng của Tạm thành Tam Thương.


2- Do hiện tượng dị hóa: Hai âm tố giống nhau nhưng đứng gần nhau, âm tố này làm cho âm tố kia khác với nó. Có ba địa danh thuộc kiểu này:


Bà Bèo là kinh nối sông Tiền và sông Vàm Cỏ, chảy qua các huyện Cai Lậy, Tân Phước (Tiền Giang) và Châu Thành (Long An), dài 25km. Vương Hồng Sển cho biết âm gốc của địa danh này là Bàu Bèo. Người Khmer cũng gọi kinh Bà Bèo là Cumnik Prêk Cak tức “kinh rạch bèo”.


Bà Hói là rạch ở xã Long Thới, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. Trên bản đồ thời Pháp thuộc ghi rạch này là Bàu Hói: “rạch ở giữa có chỗ phình rộng”.


Bà Môn là rạch ở thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, TP.HCM. Nguyễn Văn Trấn, người địa phương, cho biết âm gốc của địa danh này là Bàu Môn, tức “cái bàu có trồng môn nước”.


Dạng gốc của ba địa danh này (Bàu Bèo, Bàu Hói, Bàu Môn) đều là hai âm tiết có vần tròn môi cho nên khó phát âm. Vì vậy, chúng cần dị hóa cho dễ phát âm. Từ đó, chúng tôi nghĩ rằng dạng gốc của các địa danh Bà Hom, Bà Quẹo (TP.HCM) có thể là Bàu Hom (bàu ngâm hom tre), Bàu Quẹo (bàu nằm ở chỗ quẹo của đường Trường Chinh). Ở xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh có cống Quẹo; ở xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ (TP.HCM) có vùng Lộ Quẹo.


3. Do kiêng húy: Dưới chế độ phong kiến, khi các địa danh có một yếu tố đồng âm với tên húy (tên kiêng gọi), phải đọc và viết chệch yếu tố đó hoặc thay bằng yếu tố khác. Có hàng trăm trường hợp loại này, chỉ xin nêu vài địa danh tiêu biểu:


Đông Ba là chợ ở thành phố Huế; huyện Mộ Đức thuộc tỉnh Quảng Ngãi; cầu Bông ở giữa quận 1 và quận Bình Thạnh, TP.HCM. Ba tên này mới đổi sau khi vua Thiệu Trị lên ngôi (1841). Âm gốc của ba địa danh này là Đông Hoa, cầu Hoa, Mộ Hoa. Vì kiêng húy bà Hồ Thị Hoa – mẹ vua – nên phải đổi bằng cách nói chệch (Hoa –> Ba), thay bằng từ đồng nghĩa (Hoa –> Bông), thay bằng từ tương đương (Hoa –> Đức).


4. Do hiện tượng nhập âm: Những địa danh có hai, ba âm tiết nhập lại, bị giảm đi một âm tiết. Đó là những địa danh:


Vũng Rô là địa điểm ở tỉnh Phú Yên, gần đèo Cả. Vốn là vũng Ô Rô, nhập âm thành Vũng Rô. Ô rô là loại cây nhỏ, lá cứng, dài, mép lượn sóng có gai nhọn, thường mọc ở các bãi nước lợ.


Bến Dược là vùng đất ở xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi, TP.HCM. Bến Dược do bến Bà Dược (tại đây có xóm Bà Dược) rút gọn mà thành.


Cái Nước là rạch bên tả ngạn sông Bồ Đề ở tỉnh Cà Mau và là huyện của tỉnh. Cái Nước do Cái Dừa Nước rút gọn lại vì hai bên rạch có rất nhiều dừa nước.


5. Do hiện tượng rút gọn: Một số địa danh có nhiều âm tiết nhưng người ta chỉ gọi một âm tiết. Âm tiết được rút gọn thường đứng sau, ít đứng đầu.


Chỉ gọi âm tiết đầu: cửa Vạn Phần –> cửa Vạn (Nghệ An); cửa Hội Thống –> cửa Hội (Hà Tĩnh); Vĩnh Doanh –> (thành phố) Vĩnh (Nghệ An, sau biến âm thành Vinh)…


Chỉ gọi âm tiết sau: cửa Tứ Hội –> cửa Hội (Hà Tĩnh).


6. Do hiện tượng biến âm: Biến âm chủ yếu do ngữ âm địa phương. Chẳng hạn, vì không phân biệt các âm đầu ch - tr, s - x, v - d - gi, một số âm chính o -ô, ă - â, một số vần tận cùng bằng t - c, n - ng, hai thanh hỏi - ngã, nên nhiều địa danh bị sai lệch ở âm đầu, vần, thanh điệu hoặc hai, ba bộ phận trên.


- Biến âm ở phụ âm đầu:


Hàng Sanh –> Hàng Xanh (TP.HCM); Vồng Trôm –> Giồng Trôm (Bến Tre)…


- Biến âm ở vần:


Các Bà –> (đảo) Cát Bà (TP. Hải Phòng); (Thuận) Hóa –> Huế; rạch (cây) Gằm –> Gầm (Tiền Giang); huyện Xương Mộc –> Xuyên Mộc (Bà Rịa – Vũng Tàu); rạch Ong –> Ông; rạch Chun –> Chung; sông Tắt –> Tắc; Các Lái –> Cát Lái (TP. HCM); Hùng Ngự –> Hồng Ngự ; Câu Lãnh –> Cao Lãnh (Đồng Tháp)…


- Biến âm ở thanh điệu:


Thôn Vi Dã –> Vĩ Dạ (TP. Huế); kinh Tẽ –> Tẻ; lũy Trảo Trảo –> (cầu) Trao Trảo; Thạnh Đa –> Thanh Đa; (sông) Lôi Giáng –> Lôi Giang (TP. HCM)…


- Biến âm ở hai yếu tố:


hu công nghiệp Vũng Quít –> Dung Quất (Quảng Ngãi); khu Mả Loạn –> Mã Lạng (Phan Thiết); sông Giằng Xay –> Dần Xây (TP. HCM)…


7. Do hiện tượng mượn âm: Khi du nhập một địa danh bằng ngôn ngữ khác không phải tiếng Việt có âm na ná tiếng Việt, địa danh đó phải mang “chiếc áo” tiếng Việt để dễ dùng và dễ phổ cập. Xin nêu mấy trường hợp tiêu biểu:


Bò Đái là khe trong núi ở huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Còn có tên Ồ Ồ, vì tiếng nước chảy, ở xa đến 10km vẫn nghe. Bò Đái gốc Tày – Nùng là Bó Đảy, nghĩa là “nguồn nước có nhiều cây nứa tép”.


Hà Lan là đèo ở huyện Krông Búc, tỉnh Đắc Lắc. Hà Lan gốc Ê Đê, nguyên dạng là Hlang, nghĩa là “cỏ tranh”. Hlang đã mượn âm Hà Lan, tên một quốc gia ở châu Âu.


Cù Lao là đảo nhỏ ngoài khơi TP. Nha Trang. Cù Lao gốc Mã Lai Pulaw, là “hòn đảo”. Trong tiếng Việt đã có sẵn từ cù lao (“công lao khó nhọc của cha mẹ khi nuôi con”) có âm na ná pulaw nên pulaw mang vỏ ngữ âm của cù lao. Người Chăm cũng gọi tương tự người Mã Lai: palao là “hòn đảo”.


Bái Tử Long là vũng biển trong vịnh Hạ Long, thuộc tỉnh Quảng Ninh. Bái Tử Long là từ Hán Việt. Có người cho rằng vì vịnh đẹp như vịnh Tulon ở Pháp nên người Pháp gọi là Baie Tulon, sau người Việt chuyển hóa thành Bái Tử Long. Thật ra, ở Pháp không có địa danh Tulon, mà chỉ có Toulon (đọc là “tu - lông”), tỉnh lỵ tỉnh Var, nằm bên bờ Địa Trung Hải. Vậy dạng gốc là Baie Toulon. Việc giải thích này có lý, vì có hiện tượng mượn âm trong tiếng Việt.


8. Do Việt hóa: Những địa danh Việt cổ hoặc bằng các ngôn ngữ dân tộc anh em, để dễ sử dụng, người Việt đã Việt hóa hoàn toàn.


Klu là địa danh cổ cần biến thành dạng hiện đại - Cổ Loa - cho mọi người dùng được.


Blao (Lâm Đồng) là tiếng dân tộc thiểu số phải biến thành Bảo Lộc mới thông dụng.


(Hồ) Lak biến thành Lạc Thiện (Đắc Lắc).


Cam Ly là thác nước ở TP Đà Lạt. Cam Ly gốc Cơ Ho Kamlê, vốn là tên người.


9. Do “Tây hoá”: Khi người phương Tây đến nước ta, họ đã nói và viết theo ngữ âm và chữ viết tiếng mẹ đẻ, làm nhiều địa danh Việt Nam bị sai lệch.


Làng Cò –> Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế); Hoài Phố –> Faifo (Quảng Nam); Mỹ Lại –> Mỹ Lai (Quảng Ngãi); (đảo) Nam Dự –> Nam Du (Kiên Giang); Ba Làng An (An Chuẩn, Hải An và Vân An) –> Batangan (Quảng Ngãi); Đất Hộ –> Đa Kao, Chí Hòa –> Kí Hòa, Kỳ Hòa (TP.HCM)…


10. Do in ấn:


Sông Cửu Long có tên hai cửa in sai: (Cửa) Trấn Di bị in sai lạc thành Trần Đề và Tranh Đề (Sóc Trăng); (cửa) Cồn Ngao thành Cung Hầu (Bến Tre).


Qua các phần trình bày trên, ta thấy ít nhất có đến 10 nguyên nhân trong cũng như ngoài ngôn ngữ làm ảnh hưởng đến cấu trúc của địa danh. Và việc biến đổi này có tính liên tục và đa dạng. Vì thế, chúng ta phải lưu ý khi đi tìm từ nguyên của địa danh. Biết được dạng gốc, ta càng yêu những địa danh của quê hương, đất nước mình.


 


Ẩn dụ trong địa danh


Ẩn dụ là dùng tên của sự vật này để gọi sự vật khác căn cứ vào sự giống nhau của chúng. Trong địa danh Việt Nam có hàng trăm đơn vị được ra đời từ phương thức trên. Trong bài viết này, chúng tôi lần lượt trình bày các địa danh có quan hệ đến con người, động vật và sự vật.


 


NHỮNG ĐỊA DANH CÓ QUAN HỆ TỚI CON NGƯỜI


- Mẹ Bồng Con là dốc ở gần ngã ba Dầu Giây, huyện Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Mẹ Bồng Con vì có hai dốc liên tiếp, dốc lớn tượng trưng cho mẹ, dốc nhỏ tượng trưng cho con.


- Ông Trạng là núi ở huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Cũng gọi núi Trạng Nguyên. Ông Trạng vì dáng núi giống như hình người đội mũ cánh chuồn.


- Phụ Tử là đảo có hình hai cột đá, một cao một thấp, ở gần bờ biển Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Giữa năm 2006, hòn phụ đã bị bào mòn, ngã đổ. Phụ Tử là “cha và con”, vì hai cột đá giống như hai cha con.


- Tiến Sĩ là núi nổi lên trên núi Xuân Đài, ở huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Tiến Sĩ vì dáng núi giống hình “ông tiến sĩ”.


- Vọng Phu là núi đá nằm ở thành phố Lạng Sơn, tỉnh Thanh Hóa, tỉnh Đắc Lắc và tỉnh Bình Định. Gọi là Vọng Phu (trông chồng) vì dáng núi giống người mẹ bồng con. Tương truyền, vì mong mỏi chồng ra trận lâu về, người vợ bồng con lên núi ngóng trông, lâu ngày hóa đá.


Một số gọi theo hình dáng của đấng linh thiêng hoặc hành động của con người.


- Bụt Mọc là hang ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Bụt Mọc vì trong hang có nhiều tảng đá lô nhô như tượng Phật.


- Lập Cập là đèo (thường gọi eo) ở xã Hóa Sơn, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, dài gần 10km, có hơn 1 kilômét có độ dốc cới mặt đường 50-60°. Lập Cập vì qua được đèo, tay chân run lập cập vì sợ sệt.


- Oa Oa là suối ở vùng Ái Tử, tỉnh Quảng Trị. Oa Oa vì tiếng nước chảy nghe như tiếng khóc của trẻ con.


- Hòn Chồng là núi đá nhỏ trên bờ biển ở hướng đông bắc thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa được nhân hóa. Còn Hòn Vợ nằm dưới biển. Hòn Chồng là núi có tảng đá chồng lên trên.


Một số sông của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên cũng được nhân hóa.


- Krông Ana là tên sông (và tên huyện) của tỉnh Đắc Lắc. Krông Nô là tên sông (và tên huyện) của tỉnh Đắc Nông, bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên. Krông: sông; Ana: cái, vợ; Krông Ana, sông vợ. Krông Nô (dạng gốc là Krông Knô, sông chồng).


 


NHỮNG ĐỊA DANH CÓ QUAN HỆ ĐẾN ĐỘNG VẬT


- Con Rắn là đèo ở xã Xuân Mỹ, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. Con Rắn vì đường đèo ngoằn ngoèo như con rắn.


- Con Voi là dãy núi kéo dài gần 100 kilômét từ tỉnh Lào Cai đến tỉnh Yên Bái, có đỉnh cao 1.450 mét. Con Voi có lẽ do hình dáng to lớn của núi.


- Gà Mái là đảo nhỏ trong vịnh Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh. Gà Mái vì đảo giống hình con gà mái.


- Lươn là rỏng (rãnh khuyết sâu) ở quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Cũng gọi là Con lươn. Lươn là dòng nước nhỏ và dài như hình con lươn.


- Rùa là gò ở huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang, quê hương bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức. Tên chữ là Sơn Quy. Rùa cũng là hòn (đảo) ở ngoài khơi tỉnh Kiên Giang. Rùa vì hình dáng gò và đảo giống như con rùa.


- Sam là núi ở xã Vĩnh Tế, huyện Châu Đốc, tỉnh An Giang. Cũng gọi là núi Vĩnh Tế. Sam vì núi có hình con sam.


- Sư Tử là đảo nhỏ trong vịnh Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh. Thời Pháp thuộc gọi là Sphinx (Quái thần hình sư tử, đầu đàn bà). Sư Tử vì dáng núi giống con sư tử.


- Tằm là hòn (đảo) ở ngoài khơi thành phố Nha Trang. Cũng gọi là hòn Tầm. Tằm, vì hình dáng đảo giống con tằm.


Một số địa danh được gọi theo hành động của các con vật.


- Bò Đái là khe trong núi ở huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Còn có tên Ồ Ồ, vì tiếng nước chảy, ở xa đến 10 kiômét vẫn nghe. Bò Đái gốc Tày - Nùng Bó Đảy, nghĩa là “nguồn nước có nhiều cây nứa tép”. Đây là hiện tượng mượn âm.


- Gà Chọi là các đảo nhỏ trong vịnh Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh. Gà Chọi vì hai hòn đảo giống hình hai con gà trống đang đá nhau.


- Hí Mã là núi ở xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Hí Mã là “ngựa hí” vì núi giống như trường đua ngựa (Đại Nam nhất thống chí).


- Long Ẩn là núi ở huyện Phước Chánh, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa, nay thuộc tỉnh Đồng Nai. Trên núi xưa có Văn miếu được xây dựng năm 1715. Long Ẩn là “rồng ẩn mình”, chỉ thế đất tốt ở đây.


- Mèo Cào là núi ở tỉnh Ninh Bình. Mèo Cào vì núi có các vách dựng đứng, nhiều vết lồi lõm kéo dài từ trên xuống như vết mèo cào.


- Trâu Ó là thác trên sông Cái, tỉnh Khánh Hòa. Trâu Ó là “trâu kêu lên”, vì nơi đây tai nạn thường xảy ra, tiếng kêu trời không ngớt.


- Trâu Quỳ là xã của huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội từ sau năm 1965. Trâu Quỳ vì tại xã có một núi đất có dáng con trâu nằm quỳ.


 


NHỮNG ĐỊA DANH CÓ QUAN HỆ VỚI CÁC SỰ VẬT


Đa số địa danh được đặt theo hình dáng của các sự vật.


- Âm Phủ là dốc chạy qua trường liên xã Đắc Pring - Đắc Pre, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam. Âm Phủ vì dốc ở chỗ vắng vẻ và lặng lẽ.


- Ba Trái Đào là bãi tắm trong vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Vì ở đây có ba bãi cát hình cánh cung ôm chân hòn đảo nhỏ, đảo này có ba đỉnh, nhìn từ xa giống như ba quả đào tiên.


- Bảng là non ở xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Bảng vì dáng núi bằng phẳng như một tấm bảng.


- Bát Quái là thành xây năm 1790 tại làng Tân Khai, nay thuộc quận 1, TP. HCM. Cũng gọi là thành Gia Định, thành Quy - vì hình bát giác giống con rùa. Bát Quái vì thành có tám cửa như hình bát quái.


- Bông Lan là đảo ở đông nam Côn Đảo, trong quần đảo Côn Sơn, diện tích 0,200km2. Bông Lan vì hình dáng đảo giống bánh bông lan cắt đôi.


- Chiếc Đũa là núi ở ngoài cửa Thần Phù, tỉnh Ninh Bình. Chiếc Đũa vì núi cao lởm chởm, đứng một mình như hình chiếc đũa.


- Chữ Y là cầu bắc qua kinh Tàu Hủ và kinh Đôi, nối quận 5 với quận 8, TP. HCM. Cầu có 3 nhánh, tổng chiều dài 502,3 mét, được xây dựng trong các năm 1938-1941, được sửa chữa lớn năm 1992. Nâng cao một nhánh khi mở đường xuyên thành phố (2007-2009). Chữ Y vì cầu có hình chữ Y. Nhà thơ Đặng Hấn đã làm bài thơ Cầu chữ Y, có câu sau: Ôi, người đi trên chữ/ Chữ nâng người lên cao.


- Đá Dĩa là gành ở xã An Ninh Đông, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, chiều rộng 50m, dài hơn 2.000 mét. Được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng thắng cảnh quốc gia. Đá Dĩa vì tại đây có độ 30.000 phiến đá hình lục/ngũ giác, mỏng như cái dĩa, chồng lên nhau như chồng dĩa.


- Đòn Gánh là núi ở tỉnh Ninh Thuận. Đòn Gánh vì hình dáng núi dài, hai đầu gồ lên như hai mấu đòn gánh.


- Hang Ngoài là cầu nằm cuối đường Nguyễn Văn Nghi và Hang Trong là cầu nằm cuối đường Phan Văn Trị, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, bắc qua trên đường xe lửa Bắc - Nam. Hang Ngoài vì xe lửa chui qua cầu như chui vào hang và để phân biệt với cầu Hang Trong.


- Hòn Chảo là đảo ở huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, cao 1.564 mét. Hòn Chảo vì đỉnh núi lõm xuống giống như cái chảo.


- Hòn Chông là núi ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, cao 221mét. Tên chữ là Kích Sơn. Hòn Chông vì đỉnh núi nhọn như cây chông.


- Hòn Chuông là núi ở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, cao 892m. Cũng gọi là Hòn Chung. Hòn Chuông còn là tên đảo ở huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Hòn Chuông vì núi và đảo giống như cái chuông úp.


- Hòn Ấn và Hòn Kiếm là núi ở huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Hòn Ấn và Hòn Kiếm vì núi giống cái ấn và cái kiếm, nơi ba anh em Nguyễn Huệ khởi nghiệp. Hòn Ấn cùng với Hòn Kiếm cho thấy nhà Tây Sơn sẽ làm vua.


- Hòn Núc là núi ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Tên dịch là Táo Sơn. Hòn Núc là “núi táo”, do hình dáng giống ông táo.


- Hồ Lô là núi đá vôi ở bờ biển huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, cách thị xã Hà Tiên 25 kilômét. Tại đây có nhiều phong cảnh và hang động đẹp. Hồ Lô là “bầu rượu”, do dáng núi giống bầu rượu.


- Lò Xo là đèo trên đường Hồ Chí Minh, nằm ở chỗ giáp ranh hai tỉnh Quảng Nam và Kon Tum. Lò Xo gốc Pháp ressort, vì đèo ngoằn ngoèo như cái lò xo.


- Máng là sông đào nối liền sông Cầu ở tỉnh Thái Nguyên với sông Thương ở tỉnh Bắc Giang, dài 52 kilômét, qua đập nước Thác Huông, giúp vận chuyển hàng hóa và than, quặng từ Thái Nguyên đến Hải Phòng. Máng do lòng sông giống lòng máng.


- Mê Cung là hang trong vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, có di chỉ khảo cổ học được phát hiện năm 1997, thuộc văn hóa Hòa Bình. Có lẽ hang có nhiều ngõ ngách như mê cung.


 


- Mống là cầu ở đầu đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, bắc qua rạch Bến Nghé, dài 128m, rộng 5,2m, lề 0,5m. Đây là cây cầu cổ nhất ở Sài Gòn, xây năm 1893-1894, nay vẫn còn. Mống vì cầu có dáng cong lên như cái mống.


- Tam Đảo là dãy núi nằm ở ranh giới các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang và Vĩnh Phúc. Ngọn cao nhất là 1.591 mét và là huyện của tỉnh Vĩnh Phúc, thành lập năm 1977. Tam Đảo nghĩa là “ba hòn đảo”. Vì dãy núi có ba ngọn nhô cao như ba hòn đảo nổi trên biển mây là Phù Nghĩa (1.400 mét), Thạch Bàn (1.388 mét) và Thiên Thị (1.375 mét) nên mang tên gọi trên.


- Thành là dãy núi thấp ở xã Tam Nghĩa, huyện Tam Kỳ (nay là huyện Núi Thành), tỉnh Quảng Nam. Thành vì dãy núi chạy dài như một bức thành.


- Thiên Ấn và Thiên Bút là hai hòn núi ở tỉnh Quảng Ngãi. Thiên Ấn là “ấn trời” vì hình dáng núi giống như cái ấn. Còn Thiên Bút là “bút trời” vì đỉnh núi nhọn như ngòi bút.


- Vung là hòn (núi) ở huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, cao 326m. Vung vì dáng núi giống như cái vung.


Một số địa danh dựa theo hành động của sự vật.


- Bay là thác ở núi Sáng, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, cao độ 20 mét. Bay vì thác đổ xuống, gặp tảng đá nhô ra, nước dội ngược bay vào không trung. Bay còn là suối ở huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. Cũng gọi là khe Tung. Bay vì suối từ trong khe chảy ra, vượt qua một tảng đá lớn, rồi bổ nhào xuống vực Bà sâu thẳm, thành dòng thác, bọt nước tung bay như khói.


Một số hình thành theo màu sắc của đối tượng.


- Bạc là ba thác ở các tỉnh Lào Cai, Vĩnh Phúc và Thừa Thiên - Huế. Bạc vì thác đổ từ trên cao hàng trăm mét xuống, trắng xóa như màu của bạc nên được gọi như thế.


- Mun là hòn (đảo) ở ngoài khơi biển TP. Nha Trang. Cũng gọi là hòn Yến (chim én). Mun vì đảo có nhiều vách đá dựng đứng màu đen tuyền.


Một số hình thành theo âm thanh của sự vật.


- Bầm Buông là cấm (rừng cấm) ở xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Bầm Buông là từ tượng thanh, mô phỏng tiếng trống, tiếng chuông, vì ở đây có những tảng đá lớn, khi gõ vào nghe như tiếng vang của trống, chiêng.


- Thậm Thình là xã xưa ở gần đền Hùng, thuộc huyện Sơn Vi, phủ Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây, sau thuộc xã Vân Phụ, huyện Phù Ninh, từ 1977 thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Thậm Thình là từ tượng thanh, tương truyền do dân giã gạo làm bánh cho vua Hùng. Có lẽ đây là cách gọi tên theo tiếng vang của hang, rồi gán vào thời đại Hùng Vương.


Đa số các địa danh thuần Việt ra đời thông qua giác quan của cư dân bản địa. Ẩn dụ là cách tạo được hình ảnh một cách kín đáo. Đây là những địa danh phản ảnh trung thực nhất tâm lý, cách suy tư của dân tộc Việt Nam trong quá khứ và hiện tại.


 


honvietquochoc.com.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện Đông chuyện Tây và chuyện An Chi chưa kể hết - Tư liệu 17.10.2017
Con chim trong tay ta đây còn sống hay đã chết? - Nguyễn Quang Thiều 16.10.2017
Về hệ thống Trường học sinh Miền Nam ở Miền Bắc - Nhiều tác giả 16.10.2017
Xót thương Đinh Hữu Dư – nhà báo trẻ đầy tâm huyết vừa đi xa - Tư liệu 16.10.2017
Tác phẩm: Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại tới hiện thực - Trương Sỹ Hùng 13.10.2017
Tác phẩm mới cần đọc ngay: Họ Triệu - Mấy vấn đề lịch sử - Nguyễn Khắc Mai 12.10.2017
Kỷ nhà Triệu & Triệu Vũ Đế trong dòng chảy lịch sử - Vũ Truyết 12.10.2017
Cái “tôi” của người Việt - Từ Thức 12.10.2017
Không thể được! Thưa Tổng thống Pháp! - Nguyễn Huy Toàn 12.10.2017
Hãy tha cho hai chữ “nhân dân”! - Ngô Minh 11.10.2017
xem thêm »