tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19733588
Những bài báo
22.05.2011
Tư liệu
Hermann Hesse, tác giả tiểu thuyết The Steppenwolf: Sói đồng hoang

Hermann Hesse xuất thân từ một gia đình truyền đạo Kitô giáo. Cha mẹ của ông đều nhận nhiệm vụ của Hội truyền giáo Basel hoạt động tại Ấn Độ, nơi mà mẹ của ông, bà Marie Gundert, sinh ra đời năm 1842. Cha của ông, Johannes Hesse, đến từ Estonia. Ông bà điều khiển một nhà xuất bản sách truyền giáo từ năm 1873 dưới sự lãnh đạo của ông ngoại ông là Hermann Gundert.


Sau khi học xong trường tiếng Latin ở Göppingen (Đức), năm 1891 ông vào Trường thần học Tin lành ở Maulbronn (Đức). Ở đây cá tính chống đối của ông đã thể hiện: vào tháng 3 năm 1892, Hesse trốn khỏi trường và chỉ được tìm được một ngày sau đó trên một cánh đồng trống.


Từ đấy, kèm theo nhiều xung đột dữ dội với cha mẹ là một cuộc phiêu lưu qua nhiều học viện và trường học. Hermann Hesse trở nên trầm cảm, biểu lộ trong một lá thư vào ngày 20 tháng 3 năm 1892 những ý định tự tử ("Tôi muốn ra đi như ánh hồng của hoàng hôn"). Tháng 5 năm 1892 trong học viện Bad Boll dưới dự chăm nom của nhà thần học và mục sư Christoph Friedrich Blumhardt ông đã toan tự tử. Ngay sau đó Hermann được chuyển về học viện ở Stetten im Remstal rồi về học viện thiếu niên ở Basel.


Bắt đầu từ cuối năm 1892 ông đi học ở trường trung học tại Cannstatt thuộc thành phố Stuttgart (Đức). Mặc dầu đỗ kỳ thi của năm đầu ông đã bỏ học.


Bỏ học nghề bán sách chỉ sau ba ngày theo học, đầu mùa hè năm 1894 Hesse bắt đầu theo học khóa thợ cơ khí trong một nhà máy sản xuất đồng hồ ở Calw kéo dài 14 tháng. Công việc hàn giũa đơn điệu chẳng bao lâu lại cổ vũ cho mong muốn quay lại với các công việc trí óc của ông. Tháng 10 năm 1895 ông chấp nhận bắt đầu học lại nghiêm túc nghề bán sách ở Tübingen. Sau này ông đã chuyển các từng trải thời trẻ này của mình vào trong quyển tiểu thuyết Unterm Rad (Dưới bánh xe).


Con đường trở thành nhà văn


Bắt đầu từ ngày 17 tháng 10 năm 1895 Hermann Hesse làm việc tại tiệm bán sách Heckenhauer ở Tübingen, chủ yếu bán các sách về thần học, triết học và luật. Là người học nghề, nhiệm vụ của Hesse bao gồm đối chiếu, đóng gói, phân loại và lưu trữ sách. Sau mỗi ngày làm việc 12 tiếng Hesse tiếp tục tự học lấy và sách cũng đã đền bù lại các thiếu thốn trong giao thiệp xã hội vào những ngày Chúa nhật dài được nghỉ ngơi. Sau những sách về thần học, Hesse đọc đặc biệt là các tác phẩm của Goethe, sau đấy là của Lessing, Schiller và các bài về thần thoại Hy Lạp. Năm 1896 bài thơ đầu tiên của ông, Madonna, được in trong một tạp chí xuất bản ở Wien, các bài thơ khác lần lượt được đăng trong các số phát hành sau đó của Organ für Dichtkunst und Kritik (Cơ quan về nghệ thuật thơ và phê bình).


 


Năm 1898 Hesse trở thành người phụ việc bán sách và có một thu nhập kha khá, giúp ông không phụ thuộc tài chính vào cha mẹ. Thời gian này ông đọc chủ yếu các tác phẩm của thời kỳ lãng mạn Đức, trước tiên là của Clemens Brentano, Joseph Freiherr von Eichendorff và Novalis. Trong các bức thư gửi cha mẹ ông đã bày tỏ quan điểm của mình là "đạo đức của người nghệ sĩ đã được thay thế bởi thẩm mỹ". Ngay từ khi vẫn còn là một người bán sách, vào mùa thu 1898 Hesse đã xuất bản tập thơ nhỏ đầu tiên của mình, Romantische Lieder (Các bài hát lãng mạn), và trong mùa hè 1899 tập văn xuôi Eine Stunde hinter Mitternacht (Một giờ đằng sau nửa đêm). Cả hai tác phẩm đều thất bại về mặt kinh doanh. Trong vòng hai năm chỉ bán được 54 bản trong tổng số 600 quyển Romantische Lieder được phát hành, Eine Stunde hinter Mitternacht cũng được phát hành 600 quyển và được bán rất chậm. Mặc dầu vậy nhà xuất bản Eugen Diederichs ở Leipzig vẫn tin tưởng vào chất lượng văn học của các tác phẩm này và ngay từ đầu đã xem việc xuất bản như là một hình thức khuyến khích cho tác giả trẻ này hơn là một việc kinh doanh cần mang lại lợi nhuận.


Bắt đầu từ mùa thu 1899 Hesse làm việc cho một tiệm bán sách cũ có uy tín ở Basel. Vì cha mẹ ông có giao thiệp mật thiết với nhiều gia đình học giả ở Basel, tại đây cả một thế giới tri thức nghệ thuật với nhiều cổ vũ phong phú đã mở cửa ra đón chào ông. Thành phố Basel đồng thời cũng mang lại cho một con người sống cô độc như Hesse nhiều khả năng để lui về ẩn náu, sống một cuộc sống rất cá nhân qua những cuộc du ngoạn và đi dạo để tự tìm tòi nghệ thuật và luôn giúp ông thử nghiệm lại khả năng miêu tả những cảm xúc của mình bằng bút mực. Năm 1900 Hesse được miễn phục vụ quân sự vì thị lực yếu. Bệnh tật này tồn tại suốt cuộc đời cũng như bệnh đau đầu của ông.


Năm 1901 Hesse thực hiện được niềm mơ ước lớn lao của mình là đi du lịch nước Ý. Cùng năm đó ông chuyển về làm tại tiệm bán sách cũ Wattenwyl ở Basel. Thời gian này ông ngày càng có nhiều cơ hội để đăng các bài thơ và văn ngắn trên các tạp chí và tiền nhuận bút đã góp thêm phần vào thu nhập của ông. Chẳng bao lâu nhà xuất bản Samuel Fischer đã chú ý đến ông và quyển tiểu thuyết Peter Camenzind, được in thử năm 1903, chính thức được Fischer phát hành năm 1904, trở thành bước đột phá: từ đây Hesse có thể sống như một nhà văn tự do.


Giữa Bodensee và Ấn Độ


Vinh quang về văn chương tạo điều kiện cho Hesse cùng với người vợ đầu tiên, Maria Bernoulli, định cư thành lập gia đình tại Gaienhofen ở Bodensee. Nơi đây ông viết quyển tiểu thuyết thứ hai của mình, Unterm Rad, được xuất bản vào năm 1906. Thời gian sau đó ông chủ yếu viết các chuyện kể và thơ. Quyển tiểu thuyết kế tiếp của ông, Gertrud, vào năm 1910, đã biểu lộ Hesse trong một cơn khủng hoảng sáng tạo; ông đã rất vất vả với tác phẩm này và nhiều năm sau ông xem nó là một thất bại. Trong hôn nhân cũng ngày càng nhiều bất hòa. Để tạo khoảng cách, năm 1911 Hesse bắt đầu một hành trình dài đi đến Tích Lan và Indonesia.


Thế nhưng ở đó ông đã không tìm thấy được sự giải phóng nội tâm như đã hy vọng. Sau khi Hesse trở về, gia đình ông dọn nhà về Bern năm 1912, nhưng việc thay đổi chỗ ở này cũng không thể giải quyết được các vấn đề trong hôn nhân như Hesse đã bộc lộ trong quyển tiểu thuyết Roßhalde vào năm 1914.


Khi Đệ nhất thế chiến bùng nổ Hesse đăng ký tình nguyện đi lính tại Đại sứ quán. Bị chẩn bệnh không có khả năng đi lính nên ông được cử làm nhiệm vụ chăm sóc tù binh cho Đại sứ quán. Trong khuôn khổ này, từ đó Hesse đi quyên góp và gửi sách cho các tù binh người Đức. Ngày 3 tháng 10 năm 1914 ông đăng trên tờ Neue Zürcher Zeitung (Báo Zürich mới) bài luận văn O freunde, nicht diese Töne (Các bạn ơi đừng nói như vậy) kêu gọi giới trí thức Đức đừng xông vào cuộc bút chiến giữa các quốc gia. Những gì xảy ra sau đó được Hesse miêu tả sau này như là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời của ông. Lần đầu tiên ông đứng bên trong một cuộc xung đột chính trị dữ dội: giới báo chí Đức tấn công ông, nhiều thư hăm dọa được gửi tới và bạn bè cũ từ chối ông. Mặc dầu vậy ông tiếp tục nhận được sự đồng tình của Theodor Heuss và của cả nhà văn người Pháp Romain Rolland, người đã đến thăm viếng ông vào tháng 8 năm 1915. Các mâu thuẫn với giới báo chí Đức chưa lắng xuống thì Hesse lại bị đẩy vào một cuộc khủng hoảng khác trầm trọng hơn qua cái chết của cha ông vào ngày 8 tháng 3 năm 1916. Ông phải ngưng phục vụ cho cơ quan chăm sóc tù binh và đi chữa trị bằng tâm lý liệu pháp. Việc chữa trị này chẳng những mang lại mối quen biết trực tiếp với Carl Gustav Jung mà còn dẫn ông đi đến một đỉnh cao sáng tạo mới: Tháng 9 và tháng 10 năm 1917, trong một cơn say mê làm việc ông đã viết quyển tiểu thuyết Demian của mình chỉ trong vòng ba tuần. Quyển sách được xuất bản sau khi chiến tranh chấm dứt năm 1919 dưới bút danh Emil Sinclair.


Vào năm 1919, khi Hesse có thể trở về với cuộc sống dân sự thì hôn nhân của ông tan vỡ. Vợ của ông trong lúc đấy bị rối loạn tâm thần trầm trọng, nhưng ngay cả sau khi bà lành bệnh, Hesse nhận thấy không còn có thể chia sẻ tương lai chung với Maria nữa. Ngôi hộ ở Bern tan rã, Hesse chuyển về Tessin một mình vào giữa tháng 4. Đầu tiên ông sống trong một căn nhà nhỏ ở đầu làng Minusio gần Locarno và sau đó từ ngày 25 tháng 4 đến 11 tháng 5 tại Sorengo. Ngày 11 tháng 5 ông mướn bốn phòng nhỏ trong một căn nhà xây giống như một lâu đài kỳ lạ ở làng Montagnola gọi là "Casa Canuzzi". Ở đây ông không những tiếp tục viết văn mà còn bắt đầu vẽ, việc có thể nhận thấy rõ trong truyện kể kế tiếp của ông Klingsors letzter Sommer (Mùa hè cuối cùng của Klingsor) vào năm 1920. Năm 1922 quyển tiểu thuyết về Ấn Độ của ông, Siddharta, được xuất bản. Tình yêu nền văn hóa Ấn Độ và các học thuyết Á châu, những cái mà ông đã biết đến ngay từ khi còn ở với cha mẹ, đã được biểu lộ trong quyển tiểu thuyết này. Năm 1923 Hesse cưới người yêu của mình là Ruth Wenger, con gái của nữ văn hào người Thụy Sĩ Lisa Wenger và là cô của Meret Oppenheim (trong cuộc hôn nhân này bà trở thành mẹ của nghệ sĩ Ezard Haussmann). Cuộc hôn nhân thất bại ngay từ đầu và chưa từng được thực hiện. Cũng trong năm này Hesse nhận được quốc tịch Thụy Sĩ. Các tác phẩm lớn kế tiếp của ông, Kurgast (Khách dưỡng bệnh) năm 1925 và Die Nürnberger Reise (Chuyến đi Nürnberg) năm 1927, là các tự truyện mang giọng mỉa mai, báo hiệu trước cuốn tiểu thuyết thành công nhất của Hesse, Der Steppenwolf (Sói thảo nguyên) năm 1927. Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 50 của ông cũng vào năm này, bạn của ông, Hugo Ball, đã xuất bản cuốn tiểu sử đầu tiên về Hesse. Ngay sau quyển tiểu thuyết thành công này con sói cô độc Hesse đã trải qua một bước ngoặt lớn nhờ vào quan hệ với Ninon Dolbin, người sau này trở thành người vợ thứ ba của ông. Kết quả của việc biến chuyển trở về cùng sống đôi lứa này là quyển tiểu thuyết Narziß und Goldmund năm 1930. Vào năm 1931 Hesse rời căn hộ mướn ở Casa Camuzzi cùng với Nino dời về một căn nhà lớn hơn (Casa Hesse), phía trên Montagnola. Căn nhà này được xây theo ý muốn của ông và được người bạn của ông là H. C. Bodmer để ông sử dụng dài hạn. Ngôi nhà này ngày nay thuộc về sở hữu tư nhân và trong thời gian này không thể đến thăm viếng được.


Năm 1931 Hesse kết hôn lần thứ ba và cùng Ninon dời về căn nhà riêng bên ngoài Montagnola. Ông bắt đầu phác thảo tác phẩm lớn cuối cùng của mình, Das Glasperlenspiel (Trò chơi hạt ngọc thủy tinh). Năm 1932 ông xuất bản quyển truyện kể Die Morgenlandfahrt (Hành trình về phương Đông) như là bản phác thảo trước cho tác phẩm này. Hesse theo dõi việc những người thuộc đảng quốc xã lên cầm quyền ở Đức với một nỗi lo âu lớn. Trên đường rời khỏi nước vào năm 1933, Bertolt Brecht và Thomas Mann đều lần lượt tạm dừng ở nhà ông. Hesse cố gắng chống lại sự phát triển trong nước Đức bằng cách của ông: ông đã viết nhiều bài bình luận về sách trên các báo Đức kêu gọi ủng hộ các tác giả người Do Thái và các tác giả khác đang bị người của Đảng quốc xã theo dõi. Bắt đầu từ giữa thập niên 1930 không một báo Đức nào dám đăng bài của ông nữa. Hesse trốn tránh các xung đột chính trị và sau đó trước những tin tức khủng khiếp của Đệ nhị thế chiến bằng cách viết quyển tiểu thuyết Das Glasperlenspiel của mình, được in ở Thụy Sĩ vào năm 1943. Ông nhận Giải Nobel văn chương năm 1946 không chỉ vì tác phẩm lớn lao này. Tiếp theo sau đó là Giải thưởng Goethe của thành phố Frankfurt trong cùng năm, Giải thưởng Wilhelm Raabe năm 1950 và Giải thưởng hòa bình của hội bán sách Đức năm 1955. Sau Thế chiến thứ hai sức sáng tạo của ông giảm sút, ông chỉ viết truyện kể và thơ nhưng không còn viết tiểu thuyết nữa. Hermann Hesse mất ngày 9 tháng 8 năm 1962 và được an táng tại nghĩa trang của San Abbondio gần Montagnola, cũng là nơi chôn cất Hugo Ball.


 


Các tác phẩm đầu tiên của Hesse vẫn còn mang tính truyền thống của thế kỷ thứ 19: các bài thơ của ông đều thuộc về trường phái lãng mạn, lời văn và phong cách của quyển Peter Camenzind cũng vậy, quyển sách được tác giả hiểu như là một tiểu thuyết giáo dục tiếp nối quyển Grüne Heindrich của Gottfried Keller. Về nội dung Hesse phản đối sự công nghiệp hóa và đô thị hóa, đi theo xu hướng của phong trào thanh niên thời kỳ này. Sau này Hesse từ bỏ quan điểm lãng mạn mới này. Thế nhưng cấu trúc đối chọi của quyển Peter Camenzind thông qua sự đối chiếu giữa thành thị và nông thôn và tương phản nam nữ vẫn còn có thể tìm thấy trong các tác phẩm sau đó của Hesse (thí dụ như trong Demina hay Steppenwolf).


Sự quen biết với học thuyết về nguyên mẫu (archetype) của nhà tâm lý học Carl Gustav Jung đã có ảnh hưởng quyết định đến các tác phẩm của Hesse, được biểu lộ đầu tiên trong quyển tiểu thuyết Demian: con đường của một người trẻ tuổi đi tìm chính mình trở thành một trong những đề tài chính của ông. Chính vì thế mà không biết bao nhiêu thanh niên đã và vẫn chọn Hesse là tác giả mà họ thích nhất. Truyền thống tiểu thuyết giáo dục cũng được tìm thấy trong Demian, nhưng trong tác phẩm này (cũng như trong Steppenwolf) các hành động không diễn ra trong hiện thực mà trong một cảnh quan nội tâm.


Một khía cạnh quan trọng khác trong các tác phẩm của Hesse là sự duy linh (spirituality), không những chỉ có trong quyển tiểu thuyết Siddharta. Các đạo giáo Ấn Độ, đạo Lão và thuyết thần bí của Thiên chúa giáo là nền tảng của việc này. Một số nhà phê bình chỉ trích Hesse là ông đã sử dụng văn chương để diễn đạt thế giới quan của mình. Người ta cũng có thể đảo ngược phê bình này để nói là các nhà phê bình chỉ phản đối thế giới quan của Hesse chứ không chỉ trích văn chương của ông.


Tất cả các tác phẩm của Hesse đều chứa đựng một phần tính tự truyện, đặc biệt có thể thấy rõ trong Steppenwolf, quyển tiểu thuyết có thể được lấy làm thí dụ cho một "tiểu thuyết về một cơn khủng hoảng trong cuộc sống". Chỉ trong các tác phẩm sau đó phần tự truyện này giảm đi. Trong hai quyển tiểu thuyết liên kết với nhau, Die Morgenlandfahrt và Das Glasperlenspiel, Hesse trở về đề tài ông đã viết trong Peter Camenzind: sự đối lập giữa vita activa (sống để làm việc từ thiện cho người khác) và vita contemplativa (sống để tìm sự giải thoát cho bản thân).


Chất lượng văn học và ý nghĩa của các tác phẩm của Hesse đã được tranh cãi ngay từ khi ông còn sống và nay vẫn còn đang được tiếp tục. Các nhà văn đồng nghiệp như Thomas Mann hay Hugo Ball đánh giá ông rất cao trong khi Kurt Tucholsky lại nói: "Tôi cho rằng Hesse là một nhà văn mà chất lượng văn tiểu luận của ông cao hơn các tính chất thơ rất nhiều". Alfred Döblin còn cho đó là "nước ngọt tẻ nhạt". Mặc dầu vậy các tác phẩm đầu của Hesse được đa số giới phê bình văn học cùng thời đánh giá cao.


Việc tiếp nhận Hesse ở Đức trong thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới mang dấu ấn của cuộc công kích báo chí chống lại tác giả vì các phát biểu chống chiến tranh và chống chủ nghĩa Quốc xã của ông. Từ năm 1937 các tác phẩm của Hesse chỉ còn được bán lén lút. Các thế hệ trẻ "khám phá" ra Hesse phần lớn là sau năm 1945.


Hơn mười năm sau khi Hesse được tặng Giải thưởng Nobel về văn học, năm 1957 Karlheinz Deschner viết trong bài văn tranh luận Kitsch, Konvention und Kunst: "Việc Hesse xuất bản quá nhiều các vần thơ hoàn toàn không có trình độ như vậy là một điều vô kỷ luật đáng tiếc, một sự man rợ về văn học" và về phần văn xuôi ông cũng đi đến một đánh giá không có gì thuận lợi hơn. Trong các thập kỷ sau đó một phần giới phê bình văn chương Đức nối tiếp sự đánh giá này, Hesse được một vài người xuất bản xếp vào loại văn chương giả mạo. Việc chấp nhận Hesse giống như chuyển động con lắc: vừa khi việc chấp nhận Hesse xuống đến điểm thấp nhất ở Đức vào thập niên 1960 thì trong giới thanh niên Mỹ phát ra một sự "bùng nổ Hesse" chưa từng có lan tràn về lại đến Đức; đặc biệt quyển Der Steppenwolf trở thành quyển sách bán chạy nhất (bestseller) và Hesse trở thành tác giả người Đức được đọc và dịch nhiều nhất. Hơn 100 triệu quyển sách của ông đã được bán trên khắp thế giới.


Để tưởng niệm Hesse hai giải thưởng văn chương được đặt theo tên ông: Giải thưởng Hermann Hesse và Giải thưởng văn học Hermann Hesse.


Các tác phẩm


VănPeter Camenzind, 1904


Unterm Rad (Dưới bánh xe), 1906


Freunde (Những người bạn), 1908


Gertrud, 1910


Rosshalde, 1912-1913


Demian, 1919


Klein und Wagner, 1919


Klingsors letzter Sommer (Mùa hè cuối cùng của Klingsor), 1920


Siddartha, 1922


Der Steppenwolf (Sói thảo nguyên), 1927


Narziss und Goldmund (Narziss và Goldmund), 1930


Die Morgenlandfahrt (Hành trình về phương đông), 1932


Das Glasperlenspiel (Trò chơi ngọc thủy tinh), 1943


 


Thơ


Elisabeth, 1900


Wie eine Welle, 1901


Soirée, 1902


Julikinder, 1904


Im Nebel, 1905


Bücher, 1918


Vergänglichkeit, 1919


Der Liebende, 1921


Für Ninon, 1927


Klage, 1934


Stufen, 1941


Nguồn: wikipedia


 


Hermann Hesse


Giải Nobel Văn học 1946


 


Hermann Hesse là một trong những nhà văn hiện đại viết tiếng Đức được đọc nhiều nhất trên thế giới. Ông được tặng giải Nobel vì những tác phẩm mang đậm truyền thống nhân đạo cổ điển, thể hiện bằng một văn phong sáng tỏ. Nhiều tác phẩm của ông được cả bạn đọc Phương Tây lẫn Phương Đông yêu thích.


 


Hermann Hesse (02/7/1877 - 09/8/1962)


 


* Nhà văn, nhà thơ Đức quốc tịch Thụy Sĩ


 


* Nơi sinh: Calw (Đức)


 


* Nơi mất: Montagnola (Thụy Sĩ).


Cha Hermann Hess là mục sư - nhà truyền giáo người Đức gốc Estonia, mẹ là con gái nhà truyền giáo gốc Schwaben (Thụy Sĩ); ông lớn lên ở Đông Ấn. Nền giáo dục tôn giáo và tính di truyền đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành nhân sinh quan của nhà văn tương lai. Nhưng H. Hesse không theo nghiệp thần học, trốn khỏi chủng viện Maulbronn (1892); sau nhiều đợt khủng hoảng thần kinh lặp đi lặp lại, sau một lần toan tự tử và trải qua điều trị trong các bệnh viện, ông học nghề thợ cơ khí một thời gian ngắn, rồi buôn sách ở Kalva và Basel.


Năm 1899, H. Hesse phát hành tập thơ đầu tiên Những bài ca lãng mạn và viết nhiều bài phê bình, nhưng ít được chú ý. Tiểu thuyết tân lãng mạn giáo huấn Peter Camenzind (1904) là sự thành công mang tính nghề nghiệp đầu tiên; từ đó H. Hesse hoàn toàn cống hiến cho sự nghiệp sáng tác văn học, chủ yếu viết truyện vừa và truyện ngắn với những yếu tố mang tính tự thuật. Cũng trong năm 1904 H. Hesse kết hôn với cô Mari Bernoulli người Thụy Sĩ (có ba con trai) và chuyển đến Gaienhofen, một vùng hẻo lánh ở Bodensee.


Năm 1924, ông trở thành công dân Thụy Sĩ. Sau khi kết hôn lần thứ hai với ca sĩ Ruth Wenger người Thụy Sĩ, và sau một khóa tâm lí trị liệu, ông xuất bản tiểu thuyết Sói đồng hoang (1927), một cuốn sách thuộc hàng best-seller. Tiểu thuyết Trò chơi với chuỗi hạt cườm (xuất bản năm 1943) như một bản tổng hợp toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông và nâng lên một tầm cao chưa từng thấy vấn đề sự dung hòa đời sống tinh thần và thế tục. Trong thời kì đảng Quốc xã cầm quyền ở Đức, nhà văn sống "lưu vong" ngay trên đất nước mình. Ông được trao giải Nobel Văn học năm 1946.


Kể từ sau khi nhận giải ông không viết thêm được tác phẩm nào lớn, ngoài các tiểu luận, thư từ. Năm 85 tuổi ông mất khi đang ngủ vì xuất huyết não. Nhiều tác phẩm của H. Hesse đã được dịch sang tiếng Việt; có cuốn có đến hai ba bản dịch khác nhau; có cuốn được tái bản đến năm sáu lần.


 


* Tác phẩm:


Peter Camenzind (1904), tiểu thuyết.


Dưới bánh xe lăn (Unterm Rad, 1906), tiểu thuyết.


Gertrud (1910), tiểu thuyết.


Rosshalde (1914), tiểu thuyết.


Knulp (1915), truyện vừa.


Demian (1917), tiểu thuyết.


Mùa hạ cuối cùng của Klingsors (Klingsors letzter Sommer, 1918), truyện vừa [Klingsor"s last summer].


Siddhartha. Bản trường ca Ấn Độ (Siddhartha. Eine Indische Dichtung, 1920), tiểu thuyết.


 


Sói đồng hoang (Der Steppenwolf, 1927), tiểu thuyết.


Narziss và Goldmund (Narziss und Goldmund, 1929), tiểu thuyết.


Hành trình về Phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932), tiểu thuyết [The journey to the East].


Trò chơi với chuỗi hạt cườm (Das Glasperlenspiel, 1943), tiểu thuyết.


Chiến tranh và hòa bình (Krieg und Frieden, 1946), kí [War and peace].


Thơ


(Gedichte, 1922), tập thơ.


Từ Ấn Độ (Aus Indien, 1923), kí, thơ.


Đêm an ủi (Trost der Nacht, 1929), thơ.


 


* Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:


Một kiếp giang hồ, Võ Toàn dịch, tập san Văn, 1966.


Đôi bạn chân tình (nguyên tác: Narziss und Goldmund, tiểu thuyết), Vũ Đình Lưu dịch, NXB Ca Dao, 1967; NXB Hội Nhà văn, 2001.


Tuổi trẻ và cô đơn (nguyên tác: Peter Camenzind, tiểu thuyết), Vũ Đình Lưu dịch, NXB Ca Dao, 1968; 1972.


Sói đồng hoang (truyện vừa), Chơn Hạnh - Phùng Thăng dịch từ bản tiếng Pháp Le loup des steppes, NXB Ca Dao, 1969.


Tuổi trẻ thần tiên (nguyên tác: Schön ist die Jugend), Bùi Quang Đông dịch, NXB Bông Hồng, 1972.


Tuồng ảo hóa (nguyên tác: Das Glasperlenspiel), Nguyễn Ngọc Minh dịch, NXB Nguồn Sáng, 1972.


Nhà khổ hạnh và gã lang thang (nguyên tác: Narziss und Goldmund, tiểu thuyết), Phùng Khánh dịch, NXB Hội Nhà Văn, 1994; 1998 và 2001.


Narcisse và Goldmuld (tiểu thuyết), Viễn Nguyên dịch, NXB Lao Động, 2001.


Câu chuyện của dòng sông (nguyên tác: Siddhartha, tiểu thuyết), Phùng Khánh - Phùng Thăng dịch, NXB An Tiêm, 1967; NXB Lá Bối, 1965-1966; NXB Hội Nhà Văn, 1988-1996-1998-2001.


Huệ tím và những chuyện khác (nguyên tác: Iris und andere Märchen), Thái Kim Lan tuyển dịch, NXB Đà Nẵng, 1998.


Tuổi trẻ băn khoăn (nguyên tác: Demian, tiểu thuyết), Hoài Khanh dịch, NXB Ca Dao, 1968-1971-1974; NXB Hội Nhà Văn, 1998.


Hành trình sang Đông Phương (nguyên tác: Die Morgenlandfahrt, bút kí), Hoài Khanh dịch, NXB Ca Dao, 1967; NXB Hội Nhà Văn, 2001.


Mối tình của chàng nhạc sĩ (nguyên tác: Gertrud, tiểu thuyết), Vũ Đằng dịch, NXB Ca dao, 1972; NXB Hội Nhà Văn, 2001.


Tuổi trẻ, tuổi trẻ vàng son, Trần Phong Giao - Hoàng Ưng dịch, in trong Truyện ngắn Đức, NXB Lao Động, 2002.


Bài học tình yêu hay chuyện chàng Augustus, Iris - Huệ tím, Chuyện hóa thân của Bích Thảo (3 truyện cổ tích viết theo lối mới), Thái Kim Lan dịch, Tạp chí Văn học nước ngoài, số 3 năm 1998.


 


Tuyên dương của Viện Hàn lâm Thụy Điển


Anders Österling, Thư kí thường trực Viện Hàn lâm Thụy Điển


Giải Nobel Văn học năm nay được trao cho một nhà văn gốc Đức, người được giới phê bình ca ngợi rộng rãi và là người đã sáng tác bất chấp thị hiếu công chúng. Nhà văn Hermann Hesse 69 tuổi giờ có thể nhìn lại những thành tựu đáng kể của mình, bao gồm tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ, một phần trong số đó đã được dịch sang tiếng Thụy Điển.


Ông thoát khỏi áp lực chính trị sớm hơn những nhà văn Đức khác, và, trong suốt Thế chiến thứ nhất, ông định cư ở Thuỵ Sĩ, nơi ông được nhập quốc tịch năm 1923. Tuy nhiên, ta không nên bỏ qua một điều rằng nguồn gốc cũng như mối liên hệ cá nhân của ông đã luôn luôn là căn cứ để Hesse có thể tự coi mình là người Thuỵ Sĩ cũng như người Đức.


Thời gian ông nương náu ở một đất nước trung lập trong suốt cuộc chiến tranh đã cho phép ông tiếp tục sự nghiệp văn chương quan trọng của mình trong tĩnh lặng tương đối, và ngày nay Hesse, cùng với Mann, là đại diện sáng giá nhất của di sản văn hoá Đức trong nền văn chương đương đại.


Khác với hầu hết các nhà văn khác, đối với Hesse, ta cần phải biết xuất thân của ông để hiểu được những nhân tố khá bất ngờ hình thành nên nhân cách của ông. Ông xuất thân trong một gia đình Swabia sùng đạo. Cha của ông là nhà nghiên cứu lịch sử Thiên Chúa giáo nổi tiếng, mẹ ông là con gái một nhà truyền giáo. Bà là người gốc Pháp và từng học ở Ấn Độ. Hermann đương nhiên được coi như sẽ trở thành mục sư, và ông được gửi tới một trường dòng thuộc tu viện ở Maulbronn. Ông chạy trốn, theo học nghề sản xuất đồng hồ và sau đó làm việc trong các cửa hàng ở Tỹbingen và Basle.


Tuy nhiên, cuộc nổi loạn của tuổi trẻ chống lại di sản sùng đạo của gia đình luôn để lại dấu ấn sâu sắc trong ông. Điều này đã lặp lại dưới hình thức những cuộc khủng hoảng nội tâm đau đớn, khi vào năm 1914, với tư cách người trưởng thành và một bậc thầy nổi tiếng về văn học trong khu vực, ông đã tìm ra những cách thức mới khác xa những con đường điền viên trước đó của ông. Nói ngắn gọn, có hai nhân tố đã tạo nên thay đổi sâu sắc này trong sự nghiệp văn chương của Hesse.


Nhân tố thứ nhất, tất nhiên là cuộc Thế chiến. Khi cuộc chiến bắt đầu, ông muốn nói đôi lời về hoà bình và những suy ngẫm của mình với các đồng nghiệp đang bối rối, và trong một cuốn sách mỏng, ông sử dụng đề từ của Beethoven "O Freunde, nicht diese Tune" (bạn ơi, không phải giọng này) làm dấy lên một làn sóng phản đối mạnh mẽ. Ông đã bị báo chí Đức tấn công gay gắt và rõ ràng bị sốc mạnh bởi sự kiện này. Ông coi đây là bằng chứng cho thấy toàn bộ nền văn minh châu Âu mà bấy lâu ông đặt trọn niềm tin giờ đang ốm yếu và mục ruỗng.


Sự phục hồi phải xuất phát từ bên kia những chuẩn mực được chấp nhận, có thể từ ánh sáng của phương Đông, có thể từ điều cốt lõi ẩn trong những lí thuyết vô chính phủ về việc giải quyết mối quan hệ giữa thiện và ác trong một sự thống nhất cao hơn. Ốm yếu và nặng trĩu hoài nghi, ông tìm kiếm liều thuốc chữa trị trong phép phân tâm học của Freud, một học thuyết được hăng hái thuyết giáo và thực hành lúc đó, điều đã để lại dấu ấn lâu dài trong những cuốn sách ngày một táo bạo của Hesse thời kì này.


Dấu ấn những khủng hoảng cá nhân này bộc lộ hết sức tuyệt diệu trong tiểu thuyết không tưởng Der Steppenwolf (1927) (Sói đồng hoang), một miêu tả đầy cảm hứng về sự phân chia trong bản chất con người, sự căng thẳng giữa khát vọng và lí trí trong một cá nhân sống ngoài các quan điểm xã hội và đạo đức của cuộc sống hàng ngày.


Trong câu chuyện hoang đường về một người đàn ông vô gia cư và bị săn đuổi như một con sói, bị đau đớn bởi những cơn rối loạn thần kinh, Hesse tạo nên một tác phẩm không thể so sánh và đầy sức nổ, có lẽ là nguy hiểm và đáng sợ, nhưng đồng thời phóng khoáng bởi sự pha trộn giữa tính hài hước châm biếm và chất thơ trong việc xử lí chủ đề. Bất chấp những vấn đề của thời hiện đại, ngay cả ở đây, Hesse vẫn duy trì một sự nhất quán với những truyền thống Đức tốt đẹp nhất; nhà văn mà câu chuyện cực kỳ gợi mở này làm ta liên tưởng nhiều nhất chính là E.T.A. Hoffmann, bậc thầy văn chương với tác phẩm Elixiere des Teufels.


Ông ngoại của Hesse là Gundert, nhà nghiên cứu nổi tiếng về Ấn Độ. Vì vậy, ngay thời thơ ấu, nhà văn đã bị cuốn hút bởi sự thông thái của người Ấn Độ. Khi đã trưởng thành, ông du lịch tới đất nước mà ông hằng mong mỏi, tuy trên thực tế ông đã không tìm được lời giải đáp cho những bí ẩn của đời sống. Tuy nhiên, chẳng bao lâu, Phật giáo ảnh hưởng tới tư tưởng của ông, một ảnh hưởng hoàn toàn không chỉ giới hạn ở Siddhartha (1922), câu chuyện đẹp đẽ về cuộc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống trên trái đất của chàng tín đồ Bàlamôn trẻ tuổi.


Tác phẩm của Hesse kết hợp quá nhiều ảnh hưởng từ Phật Thích ca và thánh Francis tới Nietzsche và Dostoevsky đến nỗi người ta có thể ngờ rằng về cơ bản ông là một nhà thử nghiệm chiết trung với nhiều tư tưởng triết học khác nhau. Nhưng ý kiến này rất sai lầm. Sự chân thành và nghiêm túc là nền tảng trong công việc của ông và luôn luôn được điều phối, ngay cả khi ông xử lí những chủ đề ngông cuồng nhất.


Trong những tiểu thuyết thành công nhất, chúng ta đối mặt trực tiếp lẫn gián tiếp với nhân cách của ông. Phong cách của ông, luôn đáng ngưỡng mộ, hoàn hảo trong nổi loạn và trong ảo giác đê mê ma quái cũng như trong suy nghiệm triết học trầm tĩnh. Câu chuyện về Klein, kẻ biển thủ liều lĩnh, bỏ trốn sang Italia để tìm cơ hội cuối cùng, và sự khắc hoạ bình thản một cách tuyệt vời về người anh quá cố Hans của ông trong Gedenkblotter (Hồi ức, 1937) là những ví dụ tiêu biểu nhất về những lĩnh vực sáng tạo khác nhau của ông.


Trong tác phẩm gần đây nhất của Hesse, tiểu thuyết lớn Das Glasperlenspiel (tạm dịch: Trò chơi hạt thủy tinh, 1943) chiếm một vị trí đặc biệt. Đó là một cậu chuyện tưởng tượng về một trật tự trí tuệ huyền bí, cũng anh hùng và khổ hạnh ngang tầm các giáo sĩ Jesuit, dựa trên những bài tập suy tưởng như một loại liệu pháp tâm lí. Cuốn tiểu thuyết có một kết cấu áp đặt trong đó khái niệm về trò chơi và vai trò của nó trong nền văn minh có những điểm tương đồng đáng kinh ngạc với công trình nghiên cứu tài ba Homo ludens của Huizinga, một học giả Hà Lan.


Thái độ của Hesse rất khó hiểu. Trong một thời kì suy tàn, bảo vệ truyền thống văn hoá là một nhiệm vụ cao quí. Nhưng nền văn minh không thể được gìn giữ mãi mãi bằng cách biến nó thành một sự sùng bái dành cho thiểu số. Nếu có thể qui giản sự đa dạng của tri thức thành một hệ thống trừu tượng các công thức, một mặt chúng ta có bằng chứng rằng nền văn minh dựa trên một hệ thống hữu cơ, mặt khác, tri thức cao cấp này không thể được coi là bền vững. Nó cũng mỏng manh và dễ vỡ như chính những viên ngọc thủy tinh, và đứa trẻ thấy những hạt trai lấp lánh trong đống gạch đổ nát không còn biết về ý nghĩa của chúng nữa.


Một cuốn tiểu thuyết triết học thuộc dạng này rất dễ có nguy cơ bị gọi là tối nghĩa, nhưng Hesse đã bảo vệ được tác phẩm của mình bằng đôi dòng đề từ tao nhã của cuốn sách "… thế rồi, trong một số trường hợp nhất định và với những người vô trách nhiệm, có lẽ những vật không hiện hữu có thể được miêu tả một cách dễ dàng hơn và ít trách nhiệm hơn bằng ngôn từ so với những vật hiện hữu, và vì vậy điều ngược lại là đúng với những nhà sử học uyên bác và ngoan đạo; bởi không gì phá huỷ sự miêu tả cho bằng ngôn từ, thế nhưng không gì cần thiết hơn việc đặt trước mắt con người một số sự vật mà sự hiện hữu của chúng vừa không thể chứng minh vừa bất khả, nhưng chính vì lí do này, những người uyên bác và ngoan đạo, ở mức độ nào đó, lại coi như hiện hữu, để chúng có thể được dẫn đến một bước xa hơn tới chỗ tồn tại và tựu thành".


Nếu không phải ai cũng thừa nhận tiếng tăm của Hesse như một nhà văn, chưa ai từng nghi ngờ về tầm cỡ của ông với tư cách nhà thơ. Kể từ sau cái chết của Rilke và George, ông trở thành nhà thơ nổi tiếng nhất nước Đức trong thời đại chúng ta. Ông kết hợp một phong cách thuần khiết và tao nhã với sự nồng nhiệt đầy cảm xúc, và nhạc điệu trong thơ ông là điều không ai trong thời đại chúng ta có thể sánh được. Ông tiếp nối truyền thống của Goethe, Eichendorf và Murike và làm mới ma lực thơ ca của nó bằng một sắc màu đặc trưng của ông.


Tập thơ Trost der Nacht (1929) (Niềm khuây khoả trong đêm) phản ánh một cách rõ nét phi thường không chỉ kịch tính nội tâm, sức khoẻ, những giờ khắc đau yếu và sự tự vấn quyết liệt của ông, mà cả sự hiến mình của ông cho cuộc sống, niềm vui trong hội hoạ và sự tôn sùng thiên nhiên. Tập thơ sau của ông Neue Gedichte (1937) (Những bài thơ mới), tràn đầy sự minh triết của một người ở tuổi xế bóng và những kinh nghiệm u sầu, nó cho thấy cảm xúc dâng trào trong hình ảnh, thể thức và giai điệu.


Trong một bài giới thiệu tóm tắt, khó có thể đánh giá một cách công bằng những tài năng biến đổi đã khiến nhà văn này đặc biệt hấp dẫn chúng ta cũng như khiến ông thu hút được nhiều môn đệ trung thành. Ông là một nhà thơ khó hiểu và thẳng thắn với sự giàu có của một tâm hồn Nam Đức, tâm hồn mà ông thể hiện qua sự pha trộn rất riêng giữa tự do và lòng mộ đạo. Nếu bỏ qua khuynh hướng chống đối đầy nhiệt thành, ngọn lửa không bao giờ tắt biến con người mộng mơ thành chiến sĩ ngay khi những gì thiêng liêng với ông bị đe dọa, người ta có thể gọi ông là một nhà thơ lãng mạn.


Trong một đoạn văn, Hesse nói người ta không bao giờ được hài lòng với thực tại, người ta chẳng nên say đắm cũng như tôn thờ nó, bởi cái thực tại thấp kém, luôn gây thất vọng và đáng buồn này chẳng thể thay đổi trừ phi ta phủ nhận nó bằng cách chứng tỏ sức mạnh siêu việt của chúng ta.


Giải thưởng dành cho Hesse không chỉ đơn thuần là sự khẳng định danh tiếng của ông. Nó tôn vinh thành quả thơ ca của ông, thành quả thể hiện thông qua hình ảnh một con người tốt bụng trong cuộc đấu tranh của ông, đi theo tiếng gọi của mình với sự trung thành hiếm có, người trong kỉ nguyên bi thương này đã thành công trong trọng trách cầm vũ khí bảo vệ cho chủ nghĩa nhân đạo đích thực.


Thật không may, lí do sức khoẻ đã ngăn cản nhà thơ không thể tới Stockholm nhận giải. Thay vào đó, ngài Công sứ của Cộng hoà liên bang Thuỵ Sĩ sẽ thay mặt nhà thơ nhận giải.


Thưa ngài Công sứ, xin mời Ngài lên nhận từ tay Đức Vua tôn kính giải thưởng mà Viện Hàn lâm Thuỵ Điển trao cho người đồng hương của Ngài, nhà thơ Hermann Hesse.


 


Tân Đôn dịch, Trần Tiễn Cao Đăng hiệu đính


 


Diễn từ Nobel


Henry Vallotton, Công sứ Thuỵ Sĩ


 


Chúng tôi rất lấy làm tiếc vì trận ốm đã giữ chân Hermann Hesse ở Thuỵ Sĩ. Nhưng, suy nghĩ của ông vẫn hướng về chúng ta, và lòng biết ơn sâu sắc của ông vẫn được thể hiện qua bức thông điệp mà ông muốn tôi gửi đến toàn thể quí vị: "Xin gửi lời chào chân thành và kính trọng đến ngày hội của quí vị. Trên tất cả, tôi muốn bày tỏ sự nuối tiếc đã không thể trở thành khách của quí vị, để chào hỏi và cảm ơn quí vị.


Sức khoẻ của tôi luôn rất kém; tôi đã trở thành người tàn phế suốt đời sau những tai ương của năm 1933, chúng đã huỷ hoại sự nghiệp của tôi và luôn luôn đè lên đôi vai tôi những bổn phận nặng nề. Nhưng tâm trí tôi không suy sụp, và tôi cảm thấy gần gụi với quí vị cũng như với ý tưởng đã truyền cảm hứng cho Quĩ Nobel, ý tưởng rằng tinh thần có tính quốc tế và siêu quốc gia, nó cần phải phụng sự hoà bình và hoà giải, chứ không phải chiến tranh và huỷ diệt.


Tuy nhiên, lí tưởng của tôi không nhằm làm lu mờ bản sắc dân tộc, điều đó sẽ dẫn đến một loài người đồng dạng về trí tuệ. Ngược lại, mong sao sự đa dạng dưới mọi hình dáng và màu sắc sẽ tồn tại mãi mãi trên trái đất thân yêu của chúng ta. Tuyệt diệu làm sao khi cùng một lúc tồn tại biết bao chủng tộc, biết bao dân tộc, biết bao ngôn ngữ, và biết bao quan điểm cũng như cách nhìn nhận khác nhau! Nếu tôi căm thù và không thể nhân nhượng với chiến tranh, sự xâm chiếm và thôn tính, đó là bởi nhiều lí do, nhưng còn bởi lẽ đã có quá nhiều những thành tựu xuất sắc, mang tính cá nhân cao độ và rất đỗi khác biệt từng phát triển một cách hữu cơ của nền văn minh nhân loại trở thành nạn nhân của những lực lượng đen tối này. Tôi căm thù sự đơn giản hoá vĩ đại (grands simplificateurs); tôi yêu cảm giác về phẩm chất, về sự khéo léo và độc đáo.


Là một người khách và đồng nghiệp của quí vị, tôi muốn gửi lời chào trân trọng tới Thụy Điển, quê hương của quí vị, tới ngôn ngữ và nền văn minh, lịch sử lâu đời và đầy tự hào của đất nước này, cũng như sự kiên gan bền bỉ của đất nước này trong việc duy trì và hình thành bản sắc độc đáo của mình. Tôi chưa một lần tới Thụy Điển, nhưng hàng bao thập kỉ nay tôi đã đón nhận vô vàn điều tốt đẹp từ đất nước quí vị kể từ món quà đầu tiên cách đây bốn mươi năm, đó là một cuốn sách của Thuỵ Điển, một bản của ấn phẩm lần thứ nhất Christ Legends (Huyền thoại về chúa Giê-su) do nhà văn Selma Lagerlof đề tặng, và suốt những năm qua còn nhiều mối giao lưu quí báu khác giữa hai quốc gia để rồi cuối cùng quí vị làm tôi phải sững sốt trước món quà cuối cùng lớn lao này. Hãy cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn từ sâu thẳm trái tim mình."


 


Tân Đôn dịch, Trần Tiễn Cao Đăng hiệu đính


 vietnamnet


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Biển Đông lại sắp…dậy sóng!? - Nguyễn Hồng Lam 22.06.2017
Nhà báo Nguyễn Công Khế nói về những 'điều cấm kỵ' - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
Nghề báo lắm hiểm nguy - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
‘IS đã chính thức thừa nhận thất bại’ - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thủ tướng Hun Sen đi bộ qua biên giới, thăm lại 'đường cứu nước' - Nhiều tác giả 21.06.2017
Kiếp sau tôi vẫn chọn nghề báo - Trần Thị Sánh 21.06.2017
Muôn lần bất diệt con người! - Lưu Trọng Văn 19.06.2017
Tôi là dân Quận 3 - Sơn Trà - Võ Kim Ngân 19.06.2017
Làm báo thuở thanh xuân - Trịnh Bích Ngân 19.06.2017
Từ Trường thi Gia Định đến Nhà văn hóa Thanh niên - Hồ Tường 18.06.2017
xem thêm »