tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21316166
Lý luận phê bình văn học
27.04.2011
Nguyễn Nguyên Bẩy
Thủng thẳng với thơ (8)

12/ Xương Cốt Của Thơ


Thật thú vị khi nói về xương cốt của thơ. Xương cốt của thơ chính là cái tứ, bài thơ cần thiết phải có xương cốt, cần phải có tứ.


Nên định nghĩa thế nào là tứ thơ?


Trước hết hãy nói công việc mở đầu cho một bài thơ. Đối với một bài thơ tôi thường bắt đầu bằng hai phương pháp khác.


1. Đã thuộc rất mạch lạc vấn đề mình sẽ viết, thuộc đến nỗi - như tôi đã nói ở trên - chỉ việc đặt bút xuống và mặc cho dòng thơ cuốn mình đi, cuốn cho đến chữ cuối cùng dừng lại, là bài thơ đã kết thúc. Chẳng những tôi thuộc lòng nội dung mà còn thuộc lòng cả hình thức biểu hiện. Đối với phương pháp này tôi có thể trả lời một cách dũng cảm: Mình viết cái gì và đã viết như thế nào.


2. Nhưng phương pháp thứ hai hầu như không diễn ra theo trình tự ấy. Tôi chẳng hiểu tôi viết cái gì nữa, câu thứ nhất đã đến rất bất ngờ và kéo theo câu thứ hai rồi thứ ba, rồi đoạn thứ nhất và kéo theo đoạn thứ hai, thứ ba... cho đến khi tự cảm thấy cần phải kết thúc. Trong quá trình tuôn chảy nối tiếp những câu chữ, tôi cũng đồng thời hình thành ý định của mình, nảy ra vấn đề định viết, và hướng câu chữ theo vấn đề định viết ấy. Phương pháp này thường bắt nguồn từ một hình ảnh chợt gặp, một câu thơ chợt tới, một âm vận chợt nghe, có khi từ một gợi ý của một người đối thoại nào đó. Với phương pháp này thần thơ thường hiện ra bất ngờ và có khi đem lại  những hiệu quả không thể lường được.


 


Song tựu trung cả hai phương pháp đều đi tới kết quả cuối cùng: Tôi viết về vấn đề gì và đã diễn đạt thành công vấn đề ấy chưa? Khi hai vế câu hỏi này được trả lời tức là tôi đã yên tâm rằng:  bài thơ vừa viết ra là bài thơ có tứ. Nói như thế có nghĩa là có những bài thơ không có tứ? Đúng, tình trạng thơ không có tứ hiện rất phổ biến và nhiều người mắc phải. Những bài thơ này thường kể lể dài dòng, miên man, vấn đề tung ra vung vãi, hình ảnh và hình tượng chạy xa chủ đề. Nói tóm lại là người đọc chẳng hiểu nhà thơ định nói gì.


Đọc thể thơ Bát cú thấy rất rõ cái tứ trong thơ, có khi nó là một ngẫu hứng, có khi là một tâm sự, có khi là một chân dung, một cảm hoài, nhưng cái điều tác giả gửi gắm vẫn cứ hiện ra rõ nét. Kinh điển là bài Đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan.


Bước đến đèo ngang bóng xế tà


Cỏ cây chen lá, đá chen hoa


Lom khom dưới núi tiều vài chú


Lác đác trên sông chợ mấy nhà


Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc


Thương nhà mỏi miệng cái gia gia


Dừng chân đứng lại trời non nước


Một mảnh tình riêng ta với ta.


Tình trạng thơ trữ tình của ta hiện nay đang mắc phải cái bệnh liên tưởng lan man, vòng vèo, dài dòng; cái chủ đích bị chìm ngập trong mớ hỗn độn khiến cho người đọc chẳng hiểu tác giả định nói gì và đã nói gì. Lẽ ra khi nói về người trồng rừng tích cực với công việc của mình, thì phải nói về lao động cụ thể của người trồng rừng và vì sao người trồng rừng tích cực trong nhiệm vụ của mình, thì lại cứ lải nhải những nào là Rừng có bao nhiêu gỗ quí, gỗ quí để làm gì, rừng có bao nhiêu chim muông, chim muông có tiếng hót như thế nào; rồi lại đến chuyện nạn lũ lụt thời Minh Mệnh, đến cái khổ nghèo thời Tây Nhật, thậm chí là đến Sơn Tinh Thủy Tinh cũng được dẫn ra minh giải.


Cái chính bị chìm trong hàng chục (có khi hàng trăm) cái phụ, nên cái chính cũng thành cái phụ. Loại thơ không có tứ, hoặc tứ không rõ ràng chẳng những chẳng có giá trị gì đối với qui luật đào thải của thời gian, mà còn mang ý nghĩa của sự tra tấn thần kinh người đọc.Tôi không thể nào chịu nổi những bài thơ không có tứ, nó cứ như người không xương vậy, suốt ngày sườn sượt trên giường.


Trong cả hai phương pháp làm thơ tôi dẫn ra ở trên đều có thể dẫn đến việc làm những bài thơ không có tứ. Ở phương pháp thứ nhất, người làm thơ có tự biết mình định viết một bài thơ như thế nào, nhưng vì không nắm được cái cốt lõi của vấn đề ấy, cốt lõi định giải quyết cái gì, chứ không phải là diễn ca nó, giảng giải nó, họ tự cho mình cái quyền múa lụa trong câu chữ, thêm vào đó tính tham lam đã làm hại họ.


Ở phương pháp hai, tình trạng sa đà càng dễ hơn, vì bài thơ đã được bắt đầu bằng việc không biết viết cái gì, thế là cứ tha hồ thả thuyền giấy ra biển cả, nó muốn đến chân trời nào mặc lòng, trong con mắt của họ, những chiếc thuyền giấy hình như chở được cả cá tôm và niềm hy vọng.


Một bài thơ không có tứ thì dù câu chữ có hay đến đâu chăng nữa nó vẫn cứ là một bài thơ vô bổ, chẳng đem lại một cảm rung bé nhỏ nào.


Bạn đọc thân mến đã phê thơ tôi khô khan. Hình như đúng, tôi khô khan lắm, lý trí lắm và cái tiên quyết của sai lầm là tôi bám như đỉa vào tứ thơ. Nói như vậy tứ thơ là nguyên nhân của khô khan ư? Hoàn toàn không. Lỗi là tôi tỉnh quơ, tôi chưa mê, chưa say, chưa biến được trí tuệ, hình tượng, hình ảnh thành thơ. Nhưng tôi lại nghĩ, thà như thế còn hơn là không biết mình định viết cái gì, định nói cái gì, có sự vô bổ nào không làm cho bạn bực mình.


Nắm vững được xương cốt của thơ là một việc làm không dễ dàng. Bởi vấn đề ta định diễn tả khi thẳng đuột thường lộ liễu và khô khan. Khi núp kín thường bí hiểm, dài dòng vì phải che che lấp lấp. Như vậy, tứ thơ khi được hoàn chỉnh không chỉ là cái ý định nói, mà còn là cách nói, là hình ảnh, hình tượng liên tưởng và còn là cái hồn nữa. Một bài thơ khi đã có tứ ví như hạt đậu đã mọc lên cây đậu - không còn nhầm lẫn, không còn nghi ngờ, và tất nhiên không một kẻ điên nào bảo đây là cỏ dại.


Trong khi làm những bài thơ theo cảm hứng bất ngờ, không có ý định từ trước (phương pháp thứ hai) tôi cố gắng rất nhanh để qua câu thứ nhất phát hiện ngay ra vấn đề mình định nói, để theo phản ứng nổ dây chuyền sự xuất hiện những câu thơ thứ hai, thứ ba... không lạc với ý định của mình. Cũng có khi toàn bộ ý đồ của mình phải chờ đến câu cuối cùng  mới lộ ra cái tứ, và cũng có khi bài thơ đã kết thúc một cách vô bổ, trường hợp chỉ còn mỗi cách cứu nó là ném tức khắc vào ngọn lửa thổi cơm của vợ.


Nói thêm: tứ thơ xuất hiện bất ngờ lắm, như thần ấy, có lúc như tràng giang như đại hải những câu tưởng như vô nghĩa, mà thực ra là nó vô nghĩa, vì mình có biết mình định viết cái gì đâu, nhưng bỗng nhiên đùng một cái, chỉ một câu thôi, cái tứ hiện ra cứu tất cả những câu thơ vổ bổ ra đời trước nó, hiện tượng này tôi gặp rất nhiều. Bài Mùa yêu dưới đây.


Mùa yêu rồi đó hỡi em


Trăng vàng đổ xuống đầy thềm hạt hoa


Tay trăng cởi áo tình ra


Tung vào gió tiếng ngân nga trầu mời


Mùa yêu rồi đó mình ơi


Mỗi người chỉ có một thời thần tiên


Lòng anh đầy ắp hình em


Để khi gian khó hiện lên môi cười


Còn em chỉ một anh thôi


Trong thương nhớ cất thành lời hát ru


Âm dương tình ngỡ trong mơ


Tình yêu chẳng có bến bờ thời gian


Tiệc rằm rồi cũng phải tàn


Nhanh nhanh em kẻo huy hoàng đang trôi…*


Nhưng có phải ngẫu nhiên có được cái thần dựng thành tứ thơ không? Đáp, có thể có, một khi lòng ta mê đắm dạo thuyền thơ.


Soát xét toàn bộ những tập thơ viết về Kiều thì rõ. Tôi đã làm những bài thơ bắt đầu bằng những câu thơ Kiều. Hầu hết tôi đã làm theo phương pháp thứ hai - phương pháp ngẫu hứng - nhưng thực ra tôi đã suy nghĩ về Kiều không biết bao nhiêu năm, và mỗi một câu chữ như một gợi ý, với gợi ý ấy trong khi mình tập trung cao nhất trí tuệ tự nhiên những vấn đề đã nẩy sinh.


Muốn làm thơ có tứ, thì việc tập dượt ban đầu phải như người học sinh làm luận, cả trong tư duy và khi viết, luôn luôn tự hỏi mình: Câu này có phục vụ cho điều mình định nói không. Lúc đầu, phương pháp sáng tác này có thể hơi lố bịch, thêm cái khô khan, cứng ngắc và không có vẻ gì là công việc của một nghệ sĩ. Nhưng từ những lao động cơ bản này, công việc làm thơ dần dà trở nên vững chắc con đường thành tựu. Ví như người diễn viên chèo vất vả khi học những làn điệu cổ trước khi cập nhật những làn điệu cách tân.


Thêm vào đó phải coi việc nghiên cứu, kế thừa các lối diễn đạt của người xưa. Đấy là cách diễn đạt ý tại ngôn ngoại, cao giọng lời cảm khái, thiết tha lời yêu nước thương dân và bày tỏ ý nguyện hy sinh vì nghĩa lớn của mình. Về phương diện thơ có cấu tứ chặt chẽ, ít lời nhiều ý, trong sáng và cao thượng trước hết phải kể đến thơ Đường. Thơ Âu Châu cấu tứ nghiêng về phương diện trí tuệ. Tôi không mê thơ phương Tây bằng thơ Đường. Ca dao của chúng ta cũng có nhiều sáng tạo kỳ thú, đó là sáng tạo của câu, của chữ, của sự tròn trặn về nội dung.


Việc sáng tạo luôn luôn là bắt đầu, những tứ thơ như những bông hoa lẫn trong đám hoang vu cây cỏ, tìm kiếm không mệt mỏi nhất định sẽ đến được chỗ của hoa, và khi hái được bông hoa ấy mới thấy hết được hương thơm của hạnh phúc.


Tình như nắng vãi khắp vườn giọt hoa/ Giọt nào cho cuộc tình ta/ Để khi tắt nắng ta ra nhặt về…*


13/ Những Người Đãi vàng


Thực ra trong cách nói văn vẻ này tôi không chỉ dừng lại ở việc chọn chữ. Mà phải nói khái quát một quá trình chọn: Hình tượng, hình ảnh, câu, chữ, vần điệu...


Quá trình chọn được tiến hành như thế nào?


Lúc mới tập làm thơ (tất nhiên là bây giờ cũng vẫn tập) tôi đóng khá nhiều những sổ tay, trong sổ đó tôi ghi chép những gì thuộc về thơ, và có liên quan đến thơ. Quá trình ghi chép này có bổ ích rất lớn là nó làm giàu trí tưởng tượng, ký ức và cảm xúc. Ngày nay, mỗi khi đọc lại những dòng ghi chép ấy còn nhặt chọn được khá nhiều những hạt vàng mà từ đó có thể đứng dậy những câu thơ hoàn chỉnh. Nhưng thực ra cái quan trọng và lợi ích không chỉ có thế, mà nó như một sự tích lũy vốn, trong mọi phương diện cho thơ. Có khi những ghi chép của tôi là một câu thơ, có khi là một mầm mống của tứ thơ, có khi là một hình ảnh và đặc biệt nhiều là chữ nghĩa. Quá trình ghi chép này thực sự là một quá trình rèn luyện rất thú vị.


Xin dẫn ra một trang sổ tay trong đó tôi đã ghi chép nhiều lộn xộn như sau:


Vì sao đời hoa quỳnh lại ngắn? Tâm trạng một đêm trăng? Nghĩ về lòng thủy chung của hoa, vì khi trăng tàn - người tình đã chết - thì cuộc sống của hoa còn ý nghĩa gì, chẳng lẽ dâng mình cho bướm, ong cho mặt trời.


Hoặc: Sau cơn mưa trời đất như rộng ra


Hoặc: Thử sử dụng chữ cầu với gió, chữ nhai với nắng, chữ ngủ với sông, chữ vô cùng làm sao có nét đẹp?  


Từ những dòng ghi chép ấy, tôi đã viết bài thơ (tập thì đúng hơn) về trăng và hoa quỳnh cả một kịch thơ nữa. Chữ vô cùng và chữ nhai nắng về sau tôi đã viết được những câu thơ như thế này:


Là khi anh nói về em/ Bông hoa trước cửa tự nhiên nở bùng/ Trên cành một giọt sương rung/ Gió nhẹ vô cùng thổi mãi không rơi…*


Con bò lạnh nhạt đứng nhai nắng tàn…*


Có rất nhiều tài liệu ghi chép sau này chỉ trở nên một mớ giấy lộn. Điều đó không có gì lạ, phải đãi bao nhiêu cát mới được một hạt vàng. Nếu không có một quá trình đãi lọc thì đừng bao giờ hy vọng có được vàng. Càng về sau công việc ghi chép của tôi càng ngắn gọn cô đúc và gợi cảm. Thí dụ: Lúc bình minh, mặt trời như quả bóng đỏ. Hoặc: Gió se se gợi nhớ đến áo rét. Hoặc sự luyến lập khác nhau: trập trùng, vô cùng, hào hùng, cây tùng, côn trùng, rùng mình, hãi hùng... Phải tinh lọc được trong quá trình ghi chép, càng tinh lọc được bao nhiêu thì hiệu quả sử dụng nó càng nhiều bấy nhiêu.


Ghi chép có nhiều loại. Ghi chép hình ảnh, ghi chép cảm xúc, ghi chép hình tượng, ghi chép một gợi ý, ghi chép từ ngữ, ghi chép nhạc điệu, ghi chép vần, ghi chép âm thanh...


Quá trình ghi chép chính là quá trình gọt rũa lần thứ nhất. Nhiều quá trình gọt rũa lập đi lập lại gây cho trí óc có nếp gọt rũa, tự óc biết tiếp nhận và đào thải chất liệu cho thơ.


Trong tất cả những ghi chép nói trên, ghi chép từ ngữ là điều thiết cốt hơn cả. Vì lẽ, từ ngữ quyết định cho việc hoàn chỉnh một hình ảnh, một hình tượng, quyết định mầu sắc, hương vị, quyết định nhạc điệu, thậm chí quyết định cả tình cảm của câu thơ nữa.


Một ví dụ: Tôi đã viết được bài Từ Thức Bơ Vơ bắt đầu bằng hai chữ Bơ Vơ . Ôi, thực sự chẳng ai bơ vơ hơn Từ Thức, háo hức cõi tiên, tiên cho mượn cánh, lên miền tiên lại nhớ miền quê, nằng nặc đòi về, tiên lại cho về, về quê, thân thích họ hàng, lân bang làng xóm chẳng một ai nhận ra Từ Thức, thế là miền quê từ chối, miền tiên không thể lên, đắng lòng về núi làm đời gió mây. Thật không có bơ vào nào hơn bơ vơ Từ Thức, bơ vơ cô đơn ngay trên chính quê hương mình.


Khúc Từ Thức vừa từ miền Tiên trở lại miền quê mình:


Vẫn phiên chợ cũ sông trưa/ Vẫn lưng ong thắt ngọt thưa mời chào/ Vẫn làn điệu ấy ca dao/ Cây đa bến nước lào xào gió chim/ Vẫn quai thao nón ai nhìn/ Hương tiên còn chút ta dìm vào sông/ Áo quần ta lại nâu sồng/ Thỏa thê mắt lại nghe trông mặt người/ Cuộc người dài được mấy mươi/ Mà uổng tạo hóa một thời con trai/ Không làm nên trúc nên mai/ Cũng xin là gió hát lời thiên nhiên/ Ta về như buổi chiều quen/ Dạo chơi trong núi chân đem nhớ về/ Cõi tiên tỉnh ngộ cơn mê/ Quê hương ơi gió bốn bề tay reo/ Mái gianh nhà cũ liêu xiêu/ Vai ai tựa cửa mấy chiều bặt tin…


Cuộc về nguồn háo hức là thế, bao nhiêu lạ kỳ mắt thấy, tai nghe, bao nhiêu so sánh thật ảo, đẹp xấu hai cõi tiên - người, muốn thuật lại lời lòng cho xóm làng hiểu, mà nuôi trí trai, sức gái làm người, bởi chẳng ở đâu đẹp tươi hạnh phúc hơn cõi người, hơn làng quê ta cả. Nhưng chỉ với mấy ngày sống ở cõi tiên, mà nơi cõi người đã là mấy trăm năm… Từ Thức đã phải chấp nhận hành trình bơ vơ.


Lạnh nhạt ngày về: Nghe chào đàn chó chạy ra/ Áo quần ta có gì là ngạc nhiên/ Sao ngơ ngác những mắt nhìn/ Lạ xa chi phải dò tìm mặt nhau/ Sao không đáp lại mấy câu/ Vênh vênh diễu võ ngầu ngầu dương oai/ Chó vây tiếng sủa inh tai/ Con bò lạnh nhạt đứng nhai nắng tàn/ Rằng tôi Từ Thức… ồ ran/ Ngắt lời nghe rợn tan tan sóng cười/ Trẻ già cười mãi  không thôi/ Chuyện đâu có chuyện lạ đời ngô nghê/ Rằng tôi Từ Thức đã về/ Già làng quắc mắt tay kề đốc gươm/ Chuyện hoang đường, quá hoang đường/ Khùng điên sao dám vơ quàng nhận xiên/ Tổ chúng ta đã quy tiên/ Chiếu trăm năm trước mây biền biệt bay…


Dù biết không còn cơ may sống cùng thế hệ đồng bào thời mình, Từ Thức vẫn kịp chia sẻ với đồng bào các thế hệ sau lời chân thành, dù cay đắng:


... Đừng rằng ta kẻ loạn ngôn/ Chê đời tiên để về trần làm dân/ Quê nghèo vật lộn miếng ăn/ Ngô khoai nuôi một tấm thân lưng dài/ Gánh gồng mòn vẹt bờ vai/ Vợ ta vẫn chỉ một lời thương yêu/ Con ta đời lại vòng vèo/ Cái khổ theo một guồng nghèo cứ quay/ Thì ta vẫn cứ về đây/ Là chim chẳng sống xa bầy được đâu/ Lưng dài ta bắc nên cầu/ Vai rộng ta biết thay trâu cày bừa/ Lòng buồn đã có bạn thơ/ Con chim quốc quốc trưa hè thôi kêu/ Ruột bầu vợ nấu canh nghêu/ Chồng chan, con húp bao nhiêu nghĩa tình…


Và rồi Từ Thức đón nhận cho mình hai chữ bơ vơ:


Phận tôi Tứ Thức phận tôi/ Bơ vơ về núi làm đời gió mây…


Thêm một ví dụ. Như trên đã viết, thử dụng chữ cầu (cây cầu, không phải nguyện cầu) với chữ gió. Tôi đã cứ miên man nghĩ như thế mãi, cho đến bữa kia, Cầu Gió thành bài thơ dài viết về Cầu Long Biên vắt ngang sông Cái. Trước khi viết được bài này, tôi đã có viết một bài Cầu Long Biên, khá đẹp, được đăng báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), còn nhớ bài thơ đó có mấy câu thế này:


Sông Hồng thướt tha như tóc người con gái/ Cầu Long Biên đẹp tựa chiếc nơ cài/ Cầu bắc qua sông lành hiền như nắng mai/ Đón những chuyến xe đi gọi những chuyến tầu vế tấp nập…


Đại loại vậy, tôi còn thích bài đó cho đến khi viết được bài Cầu Gió thì bài thơ kia gần như bước ra khỏi khu vực thơ tôi.


Gió vẫn gió nhưng gió thời đó/ Hình như rất thơm/ Gió ngồi thảm cỏ/ Mải mê gió vẽ sông Hồng…/


Gió vẫn gió nhưng gió ngày đó/ Hình như giữa hạ/ Sợ mồ hôi mặn cỏ/ Gió đứng một chân/ Gió vẽ/ Khúc sông xưa gió vẽ cây cầu/ Lại đám trẻ vớt củi rều xúm lại/ Ngắm nhìn cây cầu tranh/


Cầu thật lạ mà người thì quen lắm/ Nội mặc áo the/ Ngoại khoe yếm thắm/ Ngựa xe ríu rít qua cầu…


Sự đứng được của bài thơ là kết quả của một quá trình tu từ và tu vần.


Tôi thường luyện cách gieo vần như thế này; Tôi cố viết được tất cả những từ có thể ghép vần với từ mình sử dụng, thí dụ: từ đời, tôi đã tìm được những từ kết vận với nó: Đời, lời, mời, thời, ngời, người, lười, mười, rời, vời...


Tìm như vậy chỉ để luyện tai quen nghe âm vận và khi sử dụng đỡ lúng túng, chứ tuyệt nhiên không phải tất cả những chữ tìm được đều huy động cùng một lúc và trong một bài. Vần trong thực tế ngoài việc làm cho ăn vận với câu trên hoặc dưới, nó còn có sức nổ dây chuyền rất lớn, sức kêu gọi của vần liên tục, giúp một cách đắc lực cho việc hoàn tất một bài thơ. Sự trôi chảy con sông thơ là do hiệu quả vần, không phải không có những vần thơ phá hỏng cả bài thơ và ngược lại có những vần cứu cả bài thơ.


Đối với người làm thơ khác như thế nào tôi không biết, chứ với tôi việc tu từ - tôi gọi là tu vần - là công việc chọn vàng chính.


Gió trao cho đám trẻ cây cầu


Đám trẻ khiêng cầu


Vắt ngang sông gió


Quả thật, nếu không có chữ khiêng và chữ vắt thì ba câu thơ quá tầm thường nhạt nhẽo.


Đám trẻ lớn lên


Rồi già thành gió


Rồi lại sinh ra


Sinh ra trẻ vớt củi rều


Củi rều nhóm lửa


Bếp lửa lùi khoai


Bếp lửa mài gươm đọc sách


Bếp lửa giao duyên


Giao duyên lời thề non nước


Tượng hình con gái con trai


Tượng hình dòng sông đầy gió


Trên sông có cây cầu gió vẽ


Quê hương còn đó gió về…


Nếu không có chữ giao duyên trên quyện vần với chữ giao duyên dưới và khái quát vấn đề thì bài thơ sẽ lạc đến tận đâu!


Giao duyên lời thề non nước


Quê Hương còn đó gió về


Việc tu vần đã khiến cho những câu thơ viết ra đạt được những tiêu chuẩn nhất thiết phải có của nó, về tính họa trong thơ, tính nhạc trong thơ, tính tư tưởng trong thơ. Khi đã đạt được một trong số những tiêu chuẩn nói trên thì câu thơ ấy đã có thể đứng được trong hoàn cảnh toàn cục của nó.


Công việc tu vần (hay tu từ) giúp được rất nhiều cho việc sử dụng những từ mòn, sáo, những từ trừu tượng. Thí dụ: Theo bầy đàn, tôi bắt chước thích dùng từ thân thương, sôi động, thẳm sâu... Nhưng khi dùng mà không đúng chữ của nó khiến nó trở nên sáo mòn, gượng gạo, vô bổ. Về sau, tôi rất sợ dùng những từ này, thậm chí tôi ghét lây cả những người đã sử dụng nó. Ngôn ngữ vốn không có lỗi gì, lỗi là do người sử dụng nó không đúng chỗ, lạm dụng nó, sử dụng mà không hiểu nghĩa đã khiến nó chết yểu.


Quá trình tu vần tôi thường một mình đọc to câu thơ mình viết, tìm sự thuận tai nhất trong khả năng của nó. Thí dụ có khi dùng ca ngợi, lại có khi đảo thành ngợi ca, hoặc mến thân, thân mến. Quá


trình đọc to chính là quá trình hiện hình trong nghệ thuật nhiếp ảnh, dạo đàn trong nghệ thuật âm nhạc, nhiều sàng lọc, sửa chữa thành đạt nhờ việc đọc to này.


Nhắc lại: Việc tu vần đã góp phần rất quan trọng cho bài thơ thành công. Nói cách khác, hình ảnh, hình tượng, triết lý, trí tuệ đều làm nên bởi câu chữ, mà câu chữ sử dụng trong thơ là câu chữ của vần điệu.


Sẽ có người nói rằng: Thơ tự do chính là thơ không vần! Đúng, nó không nằm trong qui luật vần thông thường, nó tuân theo qui luật vần ẩn, vần kín, kín đáo nằm trong nhịp điệu, trong các thanh bằng trắc và chấm phẩy. Đó là sự tự do trong giới hạn thơ, chứ tuyệt nhiên không phải tự do là muốn lắp ghép từ ngữ thế nào cũng được, không tôn trọng một nguyên tắc nào. Tôi đã thử làm thơ tự do, thử nhiều lần và nhận thấy thể thơ tự do cũng có vần điệu của nó ; tôi gọi là vần không thông thường. Tuy nhiên, thơ vần hay không vần điều đó không quan trọng, mà quan trọng là sử dụng những chất liệu từ ngữ vần hoặc không vần nhưng làm nên điệu thơ.


Thực ra người làm thơ không cố chấp về vần, ở đây phạm trù tu vần trên thực tại là tu từ - Tu những từ thơ. Xét về phương diện tu vần, nhận thấy, những vần trắc gam mầu thường nóng, ức chế một phẫn nộ nội tâm, là những nốt cao trong nhạc. Còn những vần bằng gam mầu thường lạnh, mang tâm tình buồn vui, than thở, là những nốt trung trầm và trầm trong nhạc. Đối với hai loại vần này, vần bằng hợp hơn với thơ và chứa nhiều nhạc điệu, vần trắc khó sử dụng hơn vì chất điêu khắc hội họa của nó. Do vậy, có thể  làm một bài thơ toàn thanh bằng, chứ không nên làm một bài thơ toàn thanh trắc.


Nếu quan niệm thật đúng đắn về công tác tu từ, tu vần thì những hạt vàng nhặt được ngày mỗi nhiều thêm và tất nhiên càng nhiều hạt vàng trong thơ thì giá trị bài thơ ấy càng tăng.


Với tôi, sự thành công thuộc về công việc đãi vàng này. Người làm thơ chính là người đãi vàng, đừng quên!


14/ Chương Cuối, Trằn Trọc Tu Thân


Lời phi lộ chương đầu tôi tỏ ra là một người khinh miệt chủ nghĩa kinh nghiệm, nhưng qua mười ba chương đò đưa thơ này, tôi đã tỏ ra là một người kinh nghiệm chủ nghĩa. Đó là một hư xấu, một giả dối. Độc giả (nếu đọc nó) hãy coi đây là một tự đánh giá, hay là một tâm sự mà cảm thông cho; vì tất nhiên đối với bất kỳ người cầm bút nào cũng cần đánh giá từng giai đoạn để thấy hiện tại và tương lai, để xét mình trên phương diện người làm thơ, nên hay không nên tiếp tục công việc của mình.


Những khúc đò đưa này được viết vào tuần lễ cuối cùng tháng Bẩy và xong vào ngày 8-8-1975. Sở dĩ tôi đã viết xong một cách vội vàng như thế, là vì bao nhiêu đề tài mới trong thơ kêu gọi tôi. Tôi cần làm một số việc cần làm trước khi đón nhận một thực tế đau lòng đêm ngày buốt nhức trái tim tôi: Ly Hương. Do vậy, những đò đưa này tôi viết vội. Hứa sẽ còn trở lại, sẽ còn thay đổi những nhận định và bổ sung những điều do vội vàng, nông cạn tôi đã bỏ qua. Lao động nghệ thuật của thơ là một lao động cực kỳ khổ nhọc, là một công việc mà sự sáng tạo của nó là vô kể vô cùng, cho nên không thể có một cuốn sách giáo khoa nào mà sau khi đọc nó người ta liền có thể viết được thơ và liền mê say thơ.


Tôi không mong muốn là cuốn sách này có những đóng góp gì vào công việc lý luận thơ - Có chăng chỉ là một hồi ký cho các con tôi. Từ hồi ký này nếu như con bước vào nghệ thuật, tuyệt đối không được là văn thơ, vì các con khó thể vượt qua cái bóng quá ngộ của cha mẹ. Các con chỉ nên theo đuổi Nghệ, nhắc lại, không theo đuổi Văn Thơ (*). Dù vậy, những đò đưa này chắc chắn vẫn bổ ích cho các con. Các con sẽ tự sắp định các bước sách cho hành trình đường dài Nghệ Thuật của mình. Tất nhiên không có con đường Nghệ Thuật nào giống con đường nào, dù vậy, lời đò đưa khuyên nhủ này bây giờ và mãi mãi thuộc về các con, thậm chí các cháu nội, ngoại của ta.


… Hãy chống gậy của cha, của mẹ


Của các chú, các cô


Đi con đường tự tìm ra mà vào nghệ thuật


Nếu có sẩy chân ngã vấp


Vẫn kịp dâng đời một hướng đi…*


Và sau hết, hãy coi bài thơ Bài Ru Trằn Trọc, tôi viết từ những ngày vướng nghiệp chướng thơ để tu thân vượt chướng, và tự mình mỗi ngày trang nghiêm nhang mõ tụng niệm, tụng niệm suốt đời, không phải chỉ để tu thân thơ mà tu thân làm người tử tế.


BÀI RU TRẰN TRỌC


Trằn trọc là trằn trọc ơi


Đêm đã khuya rồi sao chửa ngủ say


Trằn trọc bẻ khục ngón tay


Ai đè ngực xuống để rây điệu buồn


Vì sao trằn trọc lại buồn?


Chuyện đời nước chảy trôi luôn bọt bèo


Lỗi lầm nước đã cuốn theo


Đời người tránh được bao nhiêu lỗi lầm


Đêm tôi chỉ có một mình


Một mình đêm


Với một mình trằn trọc tôi


Dối gian trôi khuất bể rồi


Ngủ đi mắt cho thảnh thơi tâm hồn


Việc gì trằn trọc phải buồn


Ở ống dài ở bầu tròn trằn trọc ơi


Quanh ta hỏi có bao người


Gian manh mà vẫn sống đời tụng ca


Mình lỗi lầm chút gọi là


Đời không chật chội như nhà ta đâu


Tôi nhắm nghiềm mắt hồi lâu


Mới hay cái ngủ từ đầu ngủ ra


Nếu đời ta chẳng thẹn ta


Thì ta cứ ngủ


Cần gì ru tâm hồn


Mặc ai dài


Mặc ai tròn


Người khác với vật bởi còn cội tâm


Tôi ru trằn trọc rì rầm


Trằn trọc vẫn thức với lỗi lầm hỏi tôi...


 


Hà Nội, 27-7 / 08-8-1975


Sài Gòn, tháng 1-2011


 


Nguồn: Thủng Thẳng Với Thơ. Tiểu luận của Nguyễn Nguyên Bảy, thơ Lý Phương Liên và tranh Nguyễn Lý Phương Ngọc. NXB Văn học, 5-2011.


________________


(*) Chúng tôi có hai người con, các con tôi vâng lời, không theo đuổi đường văn thơ như cha mẹ. Cháu trai, Nguyễn Lý Việt Thi, theo nghề Điện ảnh, con gái Nguyễn Lý Phương Ngọc, theo nghề Hội họa.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Thành phố lên đèn”, niềm thơ thắp sáng trong đêm - Nguyễn Đình Phúc 11.12.2017
Sao lại nói chữ quốc ngữ Việt Nam "rất nực cười"? - Nguyễn Hải Hoành 11.12.2017
Đọc lại bản dịch nổi tiếng Chinh Phụ Ngâm - Vương Trọng 03.12.2017
Thế giới “con rối” trong thơ Nguyễn Đức Tùng - Mai Văn Phấn 25.11.2017
Nguyễn Quang Thiều với "Câu hỏi trước dòng sông" - Tâm Anh 25.11.2017
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
xem thêm »