tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21316091
Lý luận phê bình văn học
25.04.2011
Nguyễn Nguyên Bẩy
Thủng thẳng với thơ (7)

10. Luận Về Những Chiếc Áo Của Thơ


Tôi có ý định viết về phép làm thơ lục bát của Nguyễn Du và phép làm thơ song thất lục bát của Đoàn Thị Điểm, nhưng ý định ấy chưa thực hiện được, vì tôi cứ có ý chờ những chuyên gia nghiên cứu về luật thơ viết những nguyên lý đó. Tôi đã nói điều này với Thầy tôi và yêu cầu Người viết. Nhưng cho đến nay Người cũng chỉ mới hứa sẽ bắt đầu.


Vì sao lại phải nghiên cứu phép làm thơ truyền thống? Phải nghiên cứu phép làm thơ truyền thống, bởi đấy là hồn cốt của mọi phép làm thơ khác. Cũng ví như đất vậy, đất làng ta trồng ra hạt lúa làng ta.


Vì đây không phải là chuyên đề về thơ cổ cho nên chưa đề cập cả hai thể thơ lục bát và song thất lục bát. Chỉ xin dẫn một đôi nét về phép làm thơ lục bát của Nguyễn Du.


Về phép ngắt nhịp lục bát. Nguyễn Du lấy việc ngắt hai chữ làm chính, thỉnh thoảng có ngắt ba chữ, căn cứ theo dấu phẩy đoạn dẫn sau đây:


Đầu lòng, hai ả, tố nga


Thúy Kiều, là chị, em là, Thúy Vân


Mai cốt cách, tuyết tinh thần


Mỗi người, một vẻ, mười phân, vẹn mười...


Đọc từ đầu cho đến cuối Truyện Kiều thấy hình thành rất rõ phương pháp ngắt này. Đưa ra giả thuyết: Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều theo nhịp đưa võng - dao động quả lắc. Hiện tượng ngắt đôi là khi võng đưa, ngắt ba là khi chân đạp lấy đà võng. Nhịp ngắt này thống nhất từ đầu đến cuối và có sức gợi cảm rất lớn.


Về hình thức, mỗi câu lục và câu bát đều chứa một trong ba đặc sắc: 1- đồng hưởng, 2 - điệp tự, 3 - tiểu đối.


Hãy dẫn vài câu: (Chú ý cách thể hiện từng câu)


Trăm năm trong cõi người ta


Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau


Trải qua một cuộc bể dâu


Những điều trông thấy mà đau đớn lòng


Lạ gì bỉ sắc, tư phong


Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen


Trên đây chỉ mới dẫn sáu câu đầu, đã thấy hiện lên rất rõ những đặc sắc của nó. Hầu như không có một câu nào lại không chứa từ một đến ba đặc sắc ấy.


Một vài dòng nói về phép làm thơ lục bát của Nguyễn Du không đủ để diễn đạt cái thần của lục bát Nguyễn Du, ở đây, chỉ muốn nói tới khuôn luật và tiêu chuẩn của nó, phần để dễ nhận biết đánh giá, phần thấy được những đóng góp của Nguyễn Du trong lĩnh vực này.


Lại xin dẫn ra một bộ song thất lục bát của Đoàn Thị Điểm, có gạch chân vận:


Thuở trời đất nổi cơn gió bụi


Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên


Mây kia thăm thẳm tầng trên


Vì ai gây dựng cho nên nỗi này...


Trong một bộ song thất lục bát thấy hiện lên rất rõ các cách hiệp vần, từ vần lưng đến vần cuối chữ đến vần nối.


Chẳng phải các thể thơ mới đều mở rộng cách hiệp vận của thể thơ dân tộc đó sao? Chẳng phải thể thơ không vần hiện đang thịnh hành đều mang những đặc sắc về nhịp ngắt (nhạc điệu) và các đặc sắc về đồng hưởng, điệp tự và đối đẳng đó sao?


Một trong những yếu tố quyết định sự thành công của Thi Nhân là việc kế thừa một cách có hiệu quả các hình thức thơ dân tộc.


Nắm được vững chắc các phép làm thơ dân tộc thì việc sử dụng các thể thơ mới không còn là điều khó khăn nữa. Bởi lẽ, tất cả các thể thơ mới đều tôn trọng và mở rộng các cách hiệp vận, cách gieo nhạc điệu, các đồng hưởng, điệp từ và tiểu đối như ở các thể thơ dân tộc. Không có sự kế thừa ấy quyết không phải là thơ Việt.


Lối thơ hai chữ, ba chữ, bốn chữ, cho đến sáu, bảy tám chữ hoặc lối thơ văn xuôi - dù là lối thơ nào cũng không thể thiếu được một trong những đặc điểm trên. Tôn trọng những đặc điểm trên là điều cần thiết, nhưng có phải tôn trọng một cách máy móc? Ngay cả với lối thơ lục bát, người viết ngày nay cũng đã phá thể nó cho phù hợp với nội dung mà nó biểu hiện. Gọi là phá thể, nhưng vẫn tôn trọng cốt cách của thể lục bát truyền thống. Sự phá thể thường xẩy ra với những tinh tế:


Khi muốn nhấn mạnh ý định nói, người viết đã phá vần bằng bắt buộc ở chữ thứ hai trong câu bát, thí dụ:


Nhớ anh biết nói làm sao


Chân đứng tổ kiến lòng chao gió cành...


(Lý Phương Liên)


Về nguyên tắc không được viết thanh trắc ở chữ thứ hai câu bát, phải theo cách cũ:


Yêu nhau cởi áo cho nhau


Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay


Về số chữ trong câu lục hoặc câu bát có thể dài thêm hoặc ngắn đi.


Câu lục ngắn đi:


Chim bằng - con trai


Ngủ đi anh nhé sáng mai lên đường (Lý Phương Liên)


Câu bát dài thêm:


Việc gì trằn trọc phải buồn


Ở ống dài, ở bầu tròn trằn trọc ơi (Nguyễn Nguyên Bảy)


Sự kéo dài hoặc cắt ngắn số chữ trong câu đã khiến cho nhịp điệu thay đổi, tác động vào cảm xúc người đọc với những nốt nhấn của nó. Sự phá thể này không nên lạm dụng, nhưng biết sử dụng một cách khéo léo thì tác dụng không nhỏ.


Lại có khi vẫn là thể lục bát, nhưng sự nhấn mạnh chấm phẩy xuống dòng câu đã mang được ý nghĩa nội tâm của nội dung:


Hỡi ơi,


đèn


ngọn trớ trêu


chưa sống đời đảo


đã kêu


thèm người…*


 


Sự hiệp vận về căn bản không có những thay đổi lớn, nhưng cũng có khi cần hiệp vận ở chữ thứ tư của câu bát, sự hiệp vận này đã biến câu bát có giá trị như một thành ngữ, một tục ngữ, hay ngạn ngữ:


Muốn thương con sóng bạc đầu


Phải sống dãi dầu cuộc sống đấu tranh...


Ở phép làm thơ song thất lục bát cũng có những thay đổi tương tự.


Nhưng sự thay đổi này không phải là sự chạy theo mốt của thời đại, mà sự thay đổi đã khiến cho các thể thơ dân tộc thâu tóm được nhiều biến động xã hội thì hình thức thơ dân tộc không còn cổ với ý nghĩa thời gian của nó nữa, mà nó cũng hiện đại như bất kỳ thể thơ nào. Đồng thời, sự thay đổi ấy đã khiến nó gần gũi với các thể thơ mới và làm cho các thể thơ mới phát huy tác dụng, thích nghi với công chúng.


Tôi đánh giá rất cao sự nắm vững các thể thơ dân tộc, chừng nào còn chưa diễn đạt tứ thơ của mình nhuần nhuyễn bằng các hình thức thơ dân tộc, thì chừng ấy còn chưa thể nói đã nắm được công việc người làm thơ.


Nói như vậy tôi không có ý ép tất cả các nội dung đều diễn đạt bằng các hình thức thơ dân tộc. Hình thức thơ đó là cái áo của người thiếu nữ. Áo chật dài ngắn là phụ thuộc vào khổ người, còn mầu sắc của vải lại phụ thuộc vào nước da. Người gầy mặc áo hơi rộng chừng như béo hơn, người thấp mặc áo hơi ngắn hình như cao hơn, người có nước da trắng ưa mầu vàng và các mầu hoa sáng, người có nước da đen mới kỵ màu vàng làm sao! Chọn mầu áo, cỡ áo là một tinh tế, mọi sự bắt chước đều trở nên lố bịch. Sử dụng hình thức thơ chở nội dung của mình cũng ví như người họa sĩ sử dụng bảng màu, có người đã sử dụng rất thành thục gam mầu nóng, có người ưa dùng gam mầu lạnh. Tài nghệ của người làm thơ được đánh giá cao trong việc sử dụng các hình thức thơ.


Lối thơ bảy chữ chuộng đề tài hồi nhớ lại quá khứ, biểu đạt một nỗi buồn, chạm khắc một phong cảnh, nối mạch một tự sự - Nhưng hình như kém chất bay bổng hùng ca.


Lối thơ sáu tám mà không điêu luyện dễ trở thành nôm na, dễ dãi. Cũng như lối thơ 4 chữ gần với thể vè.


Thơ tự do, rộng rãi trong cách diễn đạt, thích hợp với nhiều nội dung, giải quyết được nhiều tình huống phức tạp của tình cảm - những vừa dễ dài dòng kể lể, lại vừa dễ khơi gợi lòng tham. Và cái nhược của nó là nếu không diễn đạt thể hiện được mầu sắc Việt Nam thì lập tức nó như một dạng thơ lai, nhiều chất xám gần với thơ Đức, pha vị hoang dại lạ lẫm của câu chữ gần với thơ Châu Phi, tiền phong tình cảm dễ nhập vào dòng thơ Pháp, và suôn sẻ dễ gần với dòng thơ Nga... Chính vì thế, làm thơ tự do không bị gò ép trong niêm luật, nhưng quyết không phải là một hình thức dễ như mọi người quan niệm.


Loại thơ hai chữ, ba chữ nếu biết sử dụng thì chất nhạc rất nhiều và có thể được những ca từ xuất sắc.


Việc chia các khổ thơ cũng không thể tùy tiện. Có khi khổ 4 câu, có khi khổ 2, 3, cũng có khi khổ 8, hoặc 10. Sự tùy tiện trong việc chia khổ rất rõ nét ở các bài thơ hiện hành, đã khiến sự chia khổ chỉ là một công thức làm duyên. Việc chia khổ thơ phải gắn chặt với nội dung của từng khổ trong nội dung của từng bài.


Trong việc cấu tạo một tập thơ, việc sử dụng đa dạng nhiều thể loại là việc làm rất cần thiết. Vì cái nhịp đều đều về thể loại ở một tập thơ khiến người đọc dễ chán nản. Phải biết sắp xếp những thể loại khác nhau, góp vào việc gây ấn tượng cần thiết cho người đọc. Việc sử dụng nhiều thể loại khác nhau góp một phần không nhỏ vào sự thành công của tập thơ.


Đối với những thể loại gần với sự dễ dãi và vè, không có những cố gắng trong rèn luyện, lại dễ xẩy ra trường hợp làm văn vẻ. Bạn đọc sẽ xổ toẹt chính cái yểu điệu không phải lối của cô gái trát phấn, bôi son, mặc áo trắng bong vung vẩy cái chổi tổng vệ sinh đường phố.


Hình thức phá hoại nội dung như bỡn, vì thế muốn điều khiển những âm binh, người phù thủy còn cần phải biết trị những âm binh ấy khi nó phản lại mình.


 


Sử dụng hình thức thơ phải uyển chuyển và tinh tế theo từng nội dung định biểu hiện. Tấm áo may ô không thích hợp cho một người đứng đắn khi mặc ra đường phố. Những chiếc áo lót thơm tho thuộc về tình yêu. Chiếc áo dài thuộc về hội hè và ngày cưới, chiếc áo ấm thuộc về mùa đông. Màu xanh da trời hợp biết bao với sắc thu vàng, khi trên đường phố lanh lảnh những tiếng rao: Ai cốm mới!


Hãy mặc đúng mầu áo cho thơ, khổ áo cho thơ. Thơ chính là nàng, nàng đẹp biết bao, mà chiếc áo lại càng tôn thêm sắc đẹp của nàng, điều này nhiều khi vội vàng ta đã trót quên...


Mời đọc bài thơ Vào Chùa


Chùa linh thiêng nhờ vòm cong mái cổ


Ngói thời Lê gợi gợi những xa xôi


Giận ai chạm lại con nghê cũ


Mái ngói vô duyên đỏ lợi cười


Vấn đề là sao cho nội dung và hình thức tương thích với thời đại. Mọi phá cách đều cần tương thích, nếu không muốn phạm sai lầm lố bịch Áo Nâu Vá Mụn Gấm.


 


11/ Từ Trời Đất Đến Trăng sao…


Phải đến thế kỷ thứ 21, may ra bước chân của con người mới thực sự đặt lên mặt trăng, trong khoảng không vũ trụ mới bay lượn những con tàu... Nhưng từ vạn năm nay, trí tưởng tượng đã đưa con người tới đó. Xã hội vũ trụ trong trí tưởng tượng của con người cũng hệt như xã hội con người vậy, những thiên thần, thiên tướng, những tiên nữ, tiên đồng... Chẳng những thế mà còn có Giáng Kiều, Tú Uyên bích câu kỳ ngộ, lại có thằng Cuội ngồi gốc cây đa, để trâu ăn lúa gọi cha hời hời... Với trí tưởng tượng, con người như có cánh bay, sao Hỏa sao Kim đều hóa nên gần.


Trí tưởng tượng là một khả năng không hình dung được của trí tuệ. Người làm thơ không có trí tưởng tượng phong phú quyết không thể làm được những thi khúc hay. Cái tưởng tượng trong thơ ảo nhưng mà thực, không nhưng mà có, vô lý nhưng mà hữu lý. Một phiến lá tre có thể hóa con thuyền trên dòng sông rãnh nước trước cửa nhà. Một tiếng chim hót như bàn tay mở cửa mặt trời. Một tia trăng rọi qua cửa sổ mà ngỡ như chị Hằng buông mình xuống giường yêu. Óc tưởng tượng đưa con người đến những nơi xa xôi nhất, đến với những gì trừu tượng nhất. Óc tưởng tượng đã biến vạn vật xung quanh đập nhịp đập trái tim như con người vậy. Người không có óc tưởng tượng đã khiến rất tẻ nhạt trong cuộc sống hàng ngày còn nói gì đến việc làm thơ - hoặc làm bất kỳ một lao động sáng tạo nào khác.


Trí tưởng tượng có mức độ thượng và hạ cách của nó. Hạ cách của trí tưởng tượng diễn ra dưới dạng liên tưởng, suy tưởng. Dạng này thường nặng nề về hình thức, nêu không biểu đạt một cách tinh tế thì dễ sa vào sự gán ghép khiên cưỡng - gán ghép cho từng hình ảnh, hình tượng, gán ghép diễn ra trong từng câu thơ. Thượng cách của trí tưởng tượng là sự bay bổng của một tâm hồn thơ, một trí tuệ thơ, trong từng bài hoặc từng khổ thơ. Người đọc chỉ cảm thấy một cái gì say sưa, một cái gì cao hơn cuộc sống thực nhưng vẫn là cuộc sống, một cái gì rất thơ. Thượng cách của trí tưởng tượng sử dụng rất nhuyễn, rất ảo, rất lôgích một chuỗi hình ảnh, hình tượng xảy ra trong cuộc đời đã được thơ hóa bằng trí tuệ nhà thơ. Thượng cách của trí tưởng tượng là một nắm bắt khái quát cái ảo, cái thực, cái vô lý và cái có lý của thơ và không của thơ - nhưng phải biến tất cả chúng thành thơ...


Dù ít hay nhiều, người làm thơ nào cũng được trời phú cho óc tưởng tượng. Cứ nhìn vào hiện tượng các em nhỏ làm thơ thì rõ, trí tưởng tượng đã đưa các em đi rất xa, những điều các em viết ra đã vượt quá khả năng tiếp nhận của tuổi tác các em, và làm giật mình nhiều khối óc người lớn.


Tôi có biết một nữ thi sĩ lớp trước, chị viết được khá nhiều những thi khúc thành công, đọc thơ chị người ta dễ lầm kiến thức của chị, chị chỉ mới đọc thông viết thạo, nhưng trí tưởng tượng đã nâng bổng chị lên, những hình ảnh, hình tượng chị sử dụng tỏ ra chị có một kiến thức rất rộng, những hình tượng của chị mới và hiện đại, đọc mỗi bài thơ của chị, những điều mình vẫn thấy hàng ngày bỗng trở nên đẹp hơn, chân dung hiện ra rõ hơn và mình đem lòng yêu cảnh đẹp và con người ấy. Tôi cứ nghĩ: Trời đã sinh ra chị để làm thơ.


Tôi hoàn toàn ngả theo quan điểm: Trí tưởng tượng vốn là một bẩm sinh.


Nhưng có thể trông cậy hoàn toàn vào nguồn bẩm sinh ấy để trở thành một tài năng? Điều này đã có rất nhiều người diễn giải để trả lời. Vì ai cũng đều cho rằng từ bẩm sinh đến tài năng thực sự phải trải qua một quá trình lao động cực kỳ gian khổ. Tôi thuộc về những người theo nhận định ấy.


Thơ chính là công trình mài một chiếc kim từ một thỏi sắt. Cái bẩm sinh trời cho chỉ là cái chất sắt mà thôi.


Lao động để hình thành một trí tưởng tượng bay bổng là một lao động vô cùng cực nhọc. Trí tưởng tượng vốn là sự trừu tượng, đã trừu tượng thì làm gì có sự cụ thể để so sánh, để gọt dũa, để gia giảm. Trí tưởng tượng thuộc về vốn sống, thuộc về tri thức văn hóa, thuộc về sự khám phá vũ trụ và con người.


Do vậy, trí tưởng tượng trưởng thành dần dà như trái chín, trưởng thành ta không nhận biết, trưởng thành trong từng ngày ta sống, làm việc và học tập. Cho đến một ngày kia trí tưởng tượng cho ta cái tai của dơi, cái mũi của chó săn và đôi mắt đi đêm của vạc. Ấy chính là lúc trí tưởng tượng đã chín trái, ta đã làm chủ được con đường đi trên trái đất, đi đến trăng sao của thơ ta...


Uy lực của trí tưởng tượng như thế nào? Là con ngựa chiến của hình tượng và lưỡi kiếm thần của hình ảnh. Con ngựa chiến ấy có thể đến bất cứ nơi nào, bay qua một dòng sông, một trái núi đến nơi chiến địa, và thanh kiếm kia sẽ vang lên trong tiếng ngựa hý, quân reo. Trợ tướng của trí tưởng tượng là hình tượng và hình ảnh (cả cách nghĩ, cách cảm nữa!) Khi đã có một sức tưởng tượng lớn thì bất kỳ một tư duy khô cứng nào cũng đều có thể trở thành thơ. Tình trạng nghĩ chay, trí tuệ chay, sự khô cứng và lạnh lùng... đều do óc tưởng tượng không được chắp cánh. Như vậy, đủ biết trí tưởng tượng cần thiết đến ngần nào!


Óc tưởng tượng càng bay bổng bao nhiêu, thì con ngựa chiến của hình tượng và thanh kiếm của hình ảnh càng thiện nghệ hơn trong bất kỳ trận đánh nào.


Trí tưởng tượng đến với từng câu. Có khi choáng ngợp trong toàn bộ một khổ hoặc một bài thơ. Vì vậy khi trí tưởng tượng đã dẫn thơ đi, thì tức khắc ngòi bút phải ghi lại, phải cô đọng hoặc phát triển, không được để nó bay đi như cô gái giận dỗi người tình đến trễ giờ hò hẹn, vùng vằng bỏ đi.


Trí tưởng tượng lạ đến nỗi có khi ngay trong giấc mơ ta thấy mình đến hòn đảo lạ, biết bao nhiêu kỳ hoa dị thảo. Có khi trí tưởng tượng vụt nhảy từ lĩnh vực hư sang một liên tưởng thực, một trừu tượng đến một cụ thể, một lý trí đến một hình ảnh.


Không vô lý khi thơ reo lên:


Em muốn anh như bàn tay/ Xòe ra là gặp...


Hoặc:


Cây cột đèn đầu phố rõ cao?


Dây gánh nặng hai vai xà sứ


Giống dáng đứng cha em làm sao


Trạm biến thế gần ngã tư Hàng Đào


Cửa sắt suốt ngày im khóa


Mà dòng điện vẫn chia về mọi ngả


Con nhớ dáng ngồi lặng lẽ của cha...


(Thơ LPL)


Hoặc:


Tôi là đứa trẻ đẻ rơi


Mẹ trẩy hội trên cầu giải  yếm…


(Thơ NNB)


Những liên tưởng bằng hình tượng, hình ảnh là những liên tưởng của thơ, chớ lầm những liên tưởng được nối một cách vội vã bằng chữ như, khi thì như thế này, khi thì như thế khác. Chẳng những đó là những liên tưởng không đắt giá, mà còn là những liên tưởng lạm dụng, liên tưởng vội vã làm giảm giá trị của thơ. Thí dụ: Yêu anh (xe) như con, quí xăng như máu. Lối liên tưởng này có giá trị với sự cô đọng của một khẩu hiệu hơn sự bay bổng của thơ. Nếu như những liên tưởng này, người cầm bút cố gắng đi sâu vào học tập, nghiên cứu và đặc biệt là vốn sống phong phú thì tiền đề ấy có thể mở ra một triển vọng thơ rộng rãi, tươi sáng.


Việc lạm dụng những liên tưởng vội vã - bắc cầu bằng chữ như - đã khiến người đọc nhìn thấy rất rõ bàn tay làm thơ của nhà thơ, chẳng khác gì một ảo thuật vụng về gây cho người xem một phẫn nộ vì bị lừa dối.


Đừng lầm hành trình của óc tưởng tượng với hình thức biểu hiện. Khi có triết lý: Mỗi người cần làm việc hết mình và khi đã làm việc hết mình thì lương tâm yên ổn. Với một nội dung như thế có thể lựa chọn nhiều hình thức biểu hiện, thể thơ tự do là đắt hơn cả khi diễn đạt nội dung này, nhưng nếu không chắp cánh cho óc tưởng tượng thì triết lý khô khan và rất chính trị kia khó lòng đứng nổi một bài thơ. Nhưng khi óc tưởng tượng đã cuốn nội dung ấy bay lên thì những hình ảnh, hình tượng cứ tự nhiên bay lên.


Hôm nào làm việc hết mình


Là đêm ấy ngủ ngon


Đêm nào em cũng ngủ ngon


 


Khi ngủ


Cánh tay trần em gối đầu


Hai chân duỗi thẳng


Và sau giấc mơ thoang thoảng


Cái đầu ngủ say...


Khi ngủ


Chỉ có trái tim không ngủ


Đập nhẹ hơn ban ngày


Nhịp đập êm như nôi quay


Và vẳng giọng ru trầm dìu dặt


Ru rằng:


Chân ơi hãy ngủ ngon


Em đáng được ngủ ngon


Ru rằng:


Đầu ơi hãy ngủ ngon


Em đáng được ngủ ngon...


Nghe lời ru trong đêm


Em yên lòng ngủ ngon


Nghe lời ru trong đêm


Em đi vào ngày mới


Và em tin: qua ngày ngày tiếp nối


Đêm nào em cũng ngủ ngon...


(Thơ Lý Phương Liên)


Bài thơ có cái tên Lời Ru Trong Đêm - kể ra nó vẫn còn khô cứng và nặng nề. Nhưng chính nó đã thơ hóa được một triết lý cứng nhắc và đã là một bài thơ. Sở dĩ dẫn bài thơ trên vì sự thành công của nó không thuộc về hình thức mà thuộc về trí tưởng tượng, vì ngay cả hình thức ở đây cũng được óc tưởng tượng chắp cho đôi cánh thơ.


Nếu lầm giữa hình thức thơ với trí tưởng tượng thì sẽ rất tai hại, bởi lẽ dù hình thức thế nào cũng không thể cứu được một nội dung, nếu như hình thức ấy không chở một nội dung thơ, mà chỉ chở một nội dung khô cứng không thuộc về thơ.


Khi trí tưởng tượng đã cuốn thơ đi, thì sẽ không còn sự đơn điệu, sự diễn ca, diễn nôm, sự phân ảnh, sự mô phỏng, sự sao chép mà thơ rất kỵ.


Trí tưởng tượng là chất thơm của hoa, là sắc mầu của hoàng hôn và thảo nguyên, là tiếng hót của chim, là gió thổi, là vầng trăng... mà ở trên ta gọi khái quát nó bằng hình tượng và hình ảnh, những tự tình dũng cảm, mưu trí nơi trận tiền.


Ai bảo khi làm thơ hồn ta không bay lên trăng sao, không ngoạn du cùng tiên nữ, không hót cùng chim và không ra khơi lồng ngực căng buồm. Cho nên cái sung sướng của người làm thơ là được tắm hồn trong những vùng cỏ cây sông núi lạ, được nói chung ngôn ngữ với muôn loài, được tiếp cận tâm hồn với vô tri vô giác và tâm hồn đến với những tâm hồn. Khi hạnh phúc ấy đã ngấm vào


máu thịt người làm thơ, thì còn ai có thể giã từ thơ, dù thơ có mang lại cho đời những bất hạnh, những đau khổ.


Nhưng vẫn phải trở lại từ đầu, trí tưởng tượng nhà thơ là một quá trình mài thanh sắt lớn thành chiếc kim khâu xinh xẻo đang trong bàn tay trắng múp người yêu ta thêu thùa... Và người yêu ta soi tình trong gương, gương cũng sáng rạng ra, nhưng đó là sáng rạng mong manh, vụt đọng vụt đi mơ hồ như cánh chuồn chuồn. Và mơ mơ hồ hồ như bỗng lạc trước Cửa Rừng.


Bỗng lạc trước cửa rừng


Đêm bưng bưng dọa bão


Trong màn mưa rất ảo


Chớp hiện một bông sen


 


Phải định mệnh nhân duyên


Bỏ bùa anh lạc lối


Ai rủ chân sen tới


Cửa rừng nơi hẹn hò?


 


Cội đa cất thành nhà


Mặc đất trời mưa gió


Sen nhóm ngọn lửa nhũ


Thổi một niêu cơm tình…*


 


(còn tiếp)


Nguồn: Thủng Thẳng Với Thơ. Tiểu luận của Nguyễn Nguyên Bảy, thơ Lý Phương Liên và tranh Nguyễn Lý Phương Ngọc. NXB Văn học, 5-2011.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Thành phố lên đèn”, niềm thơ thắp sáng trong đêm - Nguyễn Đình Phúc 11.12.2017
Sao lại nói chữ quốc ngữ Việt Nam "rất nực cười"? - Nguyễn Hải Hoành 11.12.2017
Đọc lại bản dịch nổi tiếng Chinh Phụ Ngâm - Vương Trọng 03.12.2017
Thế giới “con rối” trong thơ Nguyễn Đức Tùng - Mai Văn Phấn 25.11.2017
Nguyễn Quang Thiều với "Câu hỏi trước dòng sông" - Tâm Anh 25.11.2017
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
xem thêm »