tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21316104
Lý luận phê bình văn học
22.04.2011
Nguyễn Nguyên Bẩy
Thủng thẳng với thơ (6)

8. Thơ Là Thơ


Trong tập viết nhỏ này đã hai lần tôi nhắc đến một luận đề nghe mơ hồ: Thơ là thơ... Cứ làm như là thiếu nữ phải là con gái vậy. Nhưng quả thực sự mơ hồ ấy đã trở thành một phổ biến trong hiện tình văn học. Thơ phải là thơ! Đưa ra luận điểm này, vì hiện đang có nhiều thứ du nhập vào thơ, làm biến chất thơ, không phải là sự làm hiện đại nó, làm thời trang nó, mà chuyển hóa nó từ vị trí này qua vị trí khác, từ hướng này sang phương khác, từ khuôn này sang mẫu khác. Quá trình biến chất ấy đã xảy ra trên cả hai mặt nội dung và hình thức.


Thời đại ngày nay đòi hỏi ở thơ một trữ lượng thông tin khổng lồ. Thơ không thể chỉ là một tâm sự heo hắt, một nỗi buồn chiều, một chia ly, một hẹn hò, mà trong thơ cần - và nhất định phải có - hơi thở thông tin của hiện tại, của đại chúng. Qua thơ, người đọc có thể nhìn thấy những hình ảnh, hình tượng của thời đại, rung động với những ảnh tượng ấy để cảm thông và chia sẻ cùng tác giả. Nói cách khác, người đọc muốn tìm thấy mình trong những vần thơ ấy.


Do việc cần có một trữ lượng thông tin khổng lồ, nên sự du nhập vào thơ gỗ, đá, quặng, rác, bùn, dầu mỡ... quá ồ ạt, đã khiến người đọc bàng hoàng ngỡ những bài thơ mình đang đọc không phải là thơ nữa mà là sự lên đồng của điệu vần. Một nghi ngờ cộm lên và thơ đột ngột mất đi phần đáng kể sự chào đón nồng nhiệt vốn có.


Rõ ràng đã xảy ra mâu thuẫn: Người đọc cần loại thơ hàm chứa lượng thông tin khổng lồ, đồng thời lại báng bổ và lạnh nhạt ngay với chính loại thơ đó. Có phải vì độc giả khó tính, hay vì độc giả không thể cảm thông được với tâm hồn thi sĩ? Là người làm thơ, ta chỉ có quyền thỏa mãn nguyện vọng của người đọc, chứ không có quyền buộc người đọc phải bằng lòng tùy tiện với ta. Cũng như phê bình một tập thơ, bạn đọc có thể có những ý kiến về tập thơ và tác giả tập thơ đó, chứ chẳng lẽ lại phê phán vì sao độc giả không thích thơ của mình.


Lại xảy ra mâu thuẫn, người cầm bút chạy theo người đọc - đã chạy theo người đọc thì còn tiên tri, còn hướng dẫn thị hiếu thẩm mĩ cho người đọc làm sao được. Mâu thuẫn thứ nhất và mâu thuẫn thứ hai thực ra không phải là mâu thuẫn, mà là sự chưa hiểu biết và cảm thông giữa quan hệ của người viết và người đọc. Và cũng cần phải nói thẳng, khi độc giả chân chính đã lạnh nhạt với tác phẩm, thì đấy là tác phẩm tồi, tác giả phải chịu trách nhiệm về nó. Hay nói cách khác tác phẩm ấy đã chưa đạt đến độ thơ, và nó chưa phải là thơ...


Đòi hỏi của người đọc về lượng thông tin khổng lồ, về sự cách tân hình thức, về lối diễn đạt mới, về phương pháp tu từ mới... là hoàn toàn chính đáng. Và có như vậy thì thơ của hôm nay mới khác thơ của hôm qua và thời đại thơ này mới khác thời đại thơ trước. Nhưng nhất thiết với bất kỳ sự du nhập nào cũng phải chuyển hóa thành thơ chứ không thể bắt thơ chuyển hóa thành cái khác thơ. Hiện nay sự du nhập vào thơ có chiều hướng biến thơ thành cái khác thơ.


Có thể nói thơ là tên gọi khác của yêu. Xuân yêu, Hạ yêu, Thu yêu, Đông yêu, bốn mùa yêu tuy khác nhau về cảnh về tình về thời tiết, nhưng những khác nhau ấy không thay đổi bản chất của yêu. Bữa kia, sau khi bật ra ý nghĩ ấy, tôi viết bài thơ Bốn Mùa.


Nếu em là hạt mưa xuân/ Anh là chồi biếc uống chầm chậm em/


Nếu em ngọn gió chiều lên/ Anh xin là cánh diều êm lưng trời/


Nếu em trăng thu chơi vơi/ Anh nằm trên cỏ hát cười cùng trăng/


 Nếu em đơn chiếc mùa đông/ Anh là nắng ấm sưởi hồng má em/



Dù em chỉ muốn là em/ Nhưng anh vẫn cứ là anh bốn mùa…


Dù muốn đưa bất kỳ sắc, màu, hương vị gì vào trong thơ đều phải qua rung cảm trái tim. Ngoài trái tim tiếp nhận mọi du nhập đều vô nghĩa.


Hãy thử phân loại một số hình thức thơ hiện nay.


Loại thơ mang tên là trí tuệ, đúng như tên gọi của nó, thơ đã đi ra từ tinh hoa của óc, tính luận lý trong thơ nhiều, nặng và lạnh.


Loại thơ mang tên là anh hùng ca, thực ra là loại phản ảnh ca hay diễn ca, hát lên cung bực của những sự kiện mới, những mẫu người mới, minh họa những đường lối chính sách mới. Tính thời sự trong thơ cao, loại này lối thơ vào là cửa óc, lối ra là cửa mắt.


Loại thơ mang tên là tâm trạng, thường là những dằn vặt cá nhân, những tiếng kêu than, những lời phiền muộn, nó nhỏ nhặt, vô vi, hay dùng thanh bằng, chuốt từ, ảnh cũ và nghiêng về câu chữ. Loại này không đăng công khai, thường đọc chuyền tay, và đúng như sự tồn tại của nó, ngoài da non ra nó không biết sống ở chỗ nào.


Loại thơ mang tên là trữ tình tinh tế, thực ra là những bài tả cảnh mang tính khách quan vô tư, cửa vào và cửa ra của loại thơ cùng cửa mắt.


Loại thơ mang tên bàng thống, nói cách khác là thể thơ không được thực tế xã hội thừa nhận. Loại thơ này khó đánh giá, vì nó đồng thời có những cây bút hèn hạ, tầm thường, đồng thời có những cây bút cao thượng, tâm sự cá nhân hòa chan vào những tâm sự lớn của nhân dân và đất nước.


Trong những loại thơ này, loại nào cũng cố gắng du nhập những cái mới, những cái nóng bỏng thời đại, nhưng tất cả đều đang cố gắng hết sức trong việc khắc phục những nhược điểm của mình. Cần có sự kết hợp với nhau đẻ ra một loại mới. Vì là thơ ta hơi nghèo chất trí tuệ, nếu đưa chất trí tuệ một cách khô cứng vào thơ thì đó chính là chất xã luận báo. Ngược lại, tràn trề tâm tình, nhưng thơ không đặt vấn đề gì, không chở theo ý đồ gì, thì nó vẫn cứ nhẹ bỗng, vẫn cứ vô bổ. Sự kết hợp này hầu như thi nhân nào cũng biết, nhưng dụng được quả thực khó khăn.


Những loại thơ kể trên, khi mang những cái mới vào thơ thường là:


Với thơ trí tuệ chất triết lý, chất chính luận, những luận cứ khoa học, triết học đơn thuần, nếu những du nhập này tiêu hóa thành thơ thì thật tuyệt. Nhưng khi không tiêu hóa được nó bỗng lạnh lùng và không hề có một giá trị xúc cảm nào.


Với loại hùng ca, thường hiện vào thơ tự nhiên như cái đinh, mẩu gỗ công trường, bài toán vi phân trên bảng, một chân dung đầy đặn theo công thức khuôn hình con người... Do vậy, tính sao chép không gây cảm xúc, có khiến người đọc nghi ngờ chính sự thành thực của mình, và dù mình cứ che đi, độc giả vẫn thấy bàn tay làm thơ của thi sĩ.


Loại thơ mang tên tâm trạng - nó vụn vặt nhỏ nhen, chẳng những không tham gia gì vào cuộc đấu tranh vì tiến hóa nhân loại, mà hình dung nó giống như một kẻ lười, nhác, chửi đổng sự chậm trễ của hạnh phúc.


Loại thơ mang tên trữ tình tinh tế, cố gắng kết hợp những cái nhỏ vào những cái lớn, nhưng nó vẫn mang tính quan sát nhiều hơn chất cảm xúc, sự ví von nhiều khi khiên cưỡng cứ như là lá cây hình lưỡi mác đâm được cả máy bay giặc Mỹ và chú bé thả diều nhất định sau này trở thành phi công.


Loại thơ bàng thống thường mang khối mâu thuẫn bản thân rất lớn, do vậy lối diễn đạt thường khi đỡ, khi che, rối rắm, khó hiểu, học thức khoe khoang, triết lý bí hiểm thể hiện đúng những tâm trạng hỗn loạn. Cho nên, với những cây bút thơ này, khi quá tả, khi cực hữu, khiến người đọc mệt nhọc khi theo dõi những chặng thơ của họ. Vì đưa nhiều cái không thơ vào thơ nên thơ thành không thơ. Hiện tượng này đã làm mất lòng tin nơi người đọc và thơ đã không được chào đón nồng nhiệt nữa.


Mỗi sự chào đón đều quá ngắn và tiếp sau ngay là sự chán nản. Hiện tượng này hiện đang rất phổ biến. Vì sao?


Các nhà thơ đang tìm tòi. Cấp độ đời sống đang ngày một nâng cao thực sự lôi cuốn thơ và thi nhân nào cũng muốn tung mình lên, muốn dành chiếm những đỉnh cao thời đại. Một số người đã thành công, nhưng vinh quang thường ngắn. Còn đại đa số đều ở tình trạng gạo trương lên chưa kịp chín thành xôi, đậu, lạc còn sống xít.


Sự đưa một cách thô thiển hiện thực xã hội vào thơ là do sự vội vã, ăn xổi, khi tiếp thu cái mới chưa kịp tiêu hóa, chưa kịp thai nghén đã đẻ cho nên chỉ thấy lổn nhổn những kiến thức là kiến thức mà chưa thấy thơ. Sự nhai kiến thức vụng về đến nỗi trong bất kỳ bài thơ nào cũng đưa vào những kiến thức khoa học, những điển tích Âu Châu, những Kinh Thánh, những... Họ còn khoe cả tên, hàng chuỗi, tên Tây, làm như thể hạt sỏi ở Paris đẹp và giá trị gấp muôn lần hạt sỏi ở Pắc Bó. Lại nữa, những tên hoa lạ, lá lạ, cây lạ, được ào ào vào thơ. Những thuật ngữ quân sự cũng được thơ hóa. Nạn lạm dụng tri thức đã dẫn đến chỗ hàng loạt các từ trừu tượng xuất hiện: Độc lập, tự do, trầm tư, trằn trọc, lặng thầm, nghĩ suy, sâu thẳm... Những từ trừu tượng được dùng như những cái mốt và lập tức (ngắn đến mức kinh ngạc) chúng liền bị mòn và sáo, bị xem như là từ cổ. Ấn tượng của người đọc rất khó chịu với những ngôn từ này. Lạm dụng quá hóa nhàm.


Do sự nhàm kiến thức, khiến người đọc thấy như thơ có một cái gì xa lạ, rất xa lạ với người đọc, nó không còn là người bạn thâm tình, là nơi chia sớt những buồn vui.


Người đọc đặt câu hỏi: Chẳng lẽ thơ bây giờ khác rồi chăng, hay mình thờ ơ, ngu lạnh không biết thưởng thức thơ?


Với người đọc cả hai câu hỏi đều vô nghĩa, vì thơ khác với suy nghĩ của họ thì họ còn cần gì thơ nữa, mà nếu họ thực sự không biết thưởng thức thơ (vì thơ không trở thành một nhu cầu tinh thần của họ) thì họ thưởng thức cái khác. Thơ phải đến với người đọc như một tình yêu, khi đã trở thành tình yêu thì chính người đọc sẽ tự tìm tình...


Không biết bao nhiêu lần tôi tự nói với mình: Thơ phải là thơ. Và để thực sự giải quyết được điều đó, tôi đã làm tất cả, không tiếc sức mình, nhưng sự bất lực vẫn luôn luôn đe dọa tôi. Khi suy nghĩ bao giờ mình cũng tỉnh táo, nhưng khi bắt tay vào thực hiện, thì việc làm thường ít khi hay ho như ý nghĩ. Thất bại liên tiếp, kéo dài, tôi vẫn không nản, tôi vẫn dành cho mình một tình yêu chung thủy với thơ và cố gằng rèn luyện cho mình có được một tư duy thơ, tất cả những suy nghĩ của mình đều biến thành thơ, thơ là tiếng nói của trái tim mình, buồn, vui, mừng, giận cũng từ nơi ấy vọng ra. Quả thực việc rèn luyện này chỉ mang lại những thành công nhỏ, còn phải cố gắng mức phi thường mới có thể đạt tới cái bắt đầu của sự đạt tới, còn cái đích thì mãi mãi là ước mơ.


Tôi lắng nghe nhịp đập trái tim mình từ mọi phía khác nhau của cuộc đời, sự chỉ huy không phải là bộ óc, mà là trái tim, cho nên những phấn khích nội dung nơi trái tim liền tức khắc thành thơ, những vần thơ ấy nhiều khi mâu thuẫn với chính tư duy của mình. Vì sao không có sự thống nhất giữa trái tim và khối óc mà tôi vẫn làm? Việc hôm nay chớ để ngày mai, rung cảm trái tim có lặp lại bao giờ. Có điều, mình có trách nhiệm với những dòng viết của mình, lúc nào nó nên ra đời và nó có nên ra đời hay không là trách nhiệm của mình. Thơ là thơ. Bởi lẽ thơ không thể là nhạc, là họa, càng không thể là triết học, là toán học, càng không thể là lúa, là ngô, cho nên không thể lạm dụng bất cứ chất liệu gì thay đổi nó.


Nhìn vào những lao động của mình, tự nhận rằng: Tôi đã chưa thực hiện được câu nói của mình: Thơ là thơ. Vẫn còn lộ rất rõ ý đồ người viết. Khi thì bộc lộ vụng về những chính kiến chính trị, khi thì bộc lộ ngây thơ những suy nghĩ cá nhân chủ quan, khi thì nói một cách gượng ép những mối tình... Cho nên thơ vẫn chưa phải là thơ. Có một số bài tôi viết thành công, con số ấy không nhiều, thành công ấy là do trái tim và khối óc tôi đã cùng chảy ra nơi đầu bút một dòng thơ.


Cần thiết phải có một tư duy không mệt mỏi, một thái độ lao động nghiêm ngặt, chuyên cần. Tìm đủ mọi cách rèn luyện cho bằng được dòng tư duy thơ, chuyển hóa tất cả cái gì mắt gặp và khi tay cầm bút thì ghi lấy những rung cảm trái tim. Phương pháp ấy đã khiến cho mở rộng rất nhiều trong cách biểu đạt và thường là những bất ngờ mới lớn làm sao, trước khi cầm bút, ý nghĩ về bài thơ còn chưa chín, thế mà cầm đến bút, cứ thế viết, và thực sung sướng, bài thơ đã đi xa hơn trí tưởng tượng rất nhiều. Khi đã có được phong cách tư duy thơ thì việc phát hiện, tìm kiếm không còn là vấn đề khó, và mọi bế tắc đều được khai thông.


Có một tư duy vững chắc thì việc sử dụng hình thức thơ rất hiếm. Chính nội dung của vấn đề đòi hỏi hình thức, và dưới ngòi bút hình thức tự hiện ra, chứ không nhất thiết phải định trước cho nó. Cứ y như cô gái khi đã thuộc người yêu mến, chỉ nhìn người đan áo, mà tấm áo vẫn vừa khít thân tình.


Nếu em là hạt mưa xuân/ Anh là chồi biếc uống chầm chậm em/ Nếu em ngọn gió chiều lên/ Anh xin là cánh diều êm lưng trời/ Nếu em trăng thu chơi vơi/ Anh nằm trên cỏ hát cười cùng trăng/ Nếu em đơn chiếc mùa đông/ Anh là nắng ấm sưởi hồng má em.


Điều cuối cùng cần phải nói: Muốn cho thơ là thơ thì chính mình đừng bao giờ gán ép cho nó những gì không phải của nó. Tư tưởng đẻ ra thơ chứ không phải dùng thơ vá bọc tư tưởng. Nếu sự ca ngợi là thành thực đối với mình thì tự bản thân việc ấy đã thành thơ, chứ không phải cố sắp xếp thơ cho một ca ngợi gượng gạo. Vấn đề này vô cùng tế nhị, đừng bao giờ quên.


Khi thơ đã thực sự là thơ thì không cần phải chia loại nào là thơ tư tưởng, loại nào là anh hùng ca, loại nào là tâm trạng... Người đọc cần thưởng thức bài thơ hay và người đọc tự phán xét mọi điều. Không còn nghi ngờ gì nữa, khi thơ đã thực sự là thơ thì bạn đọc lại mở rộng lòng chào đón, mong đợi, hồi hộp như một hẹn hò bất tuyệt. Và khi ấy vinh quang đã thực sự thuộc về người nghệ sĩ, vinh quang không gì so sánh được, vinh quang của bất tử ngợi ca...


Và / Dù em chỉ muốn là em/ Nhưng anh vẫn cứ là anh bốn mùa…


 


9. Thể Loại


Trong quá trình lao động, tôi đã cố gắng sử dụng gần hết các thể loại có thể sử dụng được để biểu đạt thơ. Tuy vậy, vẫn không đúc rút được kinh nghiệm gì đáng kể, chưa định được qui luật đã là sự nhảm nhí, định một khuôn mẫu cho thơ mà hổ thẹn ư?


Đối với các loại thể, không hề có sự khó dễ hơn nhau, nếu lấy cái hay làm tiêu chuẩn đo lường. Xưa nay việc định ra khó dễ phụ thuộc vào sự quen tay, có người quen tay loại này, lại có người quen tay loại khác. Sự quen tay gây cho người viết cảm tưởng là thể loại ấy dễ hơn, thể loại khác khó hơn. Cũng từ sự quen tay này mà dẫn đến cái gu thể loại, dẫn đến sự bài xích lẫn nhau, cho rằng thể loại này cao quí hơn thể loại kia. Có thể có điều ấy được không? Không, bởi lẽ cái hay của bất kỳ loại thể nào cũng đều có vị trí xứng đáng của nó. Một bài thơ trữ tình hay, một đoản kịch thơ hay, và tất nhiên cái hay đó hơn hẳn một trường ca hay một kịch thơ tồi. Dẫn một đoản kịch thơ, Mưa Hến


Ngây thơ hỏi trời/ Sao không cho mưa hến/ Để nghêu thôi thèm hến/ Êm thơ sông tình/


Hến ra sân đình/ Lưng thuyền chao sóng/ Ngực lửa đỏ lò/ Môi tiếu khuynh đa/ Nghiêng miếu/ Nghêu sò ốc nổi mặt sông/ Ngụp tranh tròn méo/ Chống sào phẩm phục khom lưng/ Sợ thất kinh hồn/ Đa đổ/ Miếu đổ/ Sách tiền theo gió bay đi/ Sợ mai hậu cháu con kiệt phúc/ Nghêu đem sợ dọa sò/ Sò đem sợ dọa ốc/ Ốc dọa đêm/ Đêm tiếu lâm cười hến/


Sân đình đong đưa/ Lãng trăng thuyền hến/ Ngực đông lưng hạ khe xuân/ Tích trò chòng chành/ Ảo ảnh đưa tay cầm được/ Nguyện cầu thơm ngát hoa chanh/ Lạy trời đừng mưa hến/ Một hến đủ mù mưa/ Đời nghêu, đời sò, đời ốc/ Tha cho người nguyện hến ơi!


Tự lựa chọn cho mình một thể loại sau khi đã thí nghiệm tất cả các thể loại tùy thuộc vào cái tạng chất của người viết.


Có người rất thành công với thơ trữ tình, nhưng lại thất bại với trường ca hoặc truyện thơ. Có người rất thành công khi viết thơ miêu tả, có cái mênh mông kỳ vĩ của trường ca, nhưng không có cái đọng của thơ tình.


Do vậy, phải tự tìm cho mình thể loại thích hợp. Nhhà thơ, ai cũng có mặt mạnh và mặt yếu của mình, nhưng không thể không một lần thực nghiệm các giải pháp diễn đạt thơ, không nên vội vã đầu hàng các thể loại mà mình chưa thực nghiệm. Vì rằng trong cuộc sống muôn mầu muôn vẻ này cần phải có rất nhiều thể loại mới mong diễn đạt được một cách phong phú và sâu sắc. Và chỉ có thực nghiệm đa dạng thể loại thì mới tránh được sự đơn điệu (Monotonce) - Nhân của mọi thất bại và nhàm chán.


Đứng về mặt hình thức mà phân loại, thì chỉ có hai loại thơ: Thơ ngắn và thơ dài. Sự phân loại này dễ nhìn nhận hơn là cách phân loại theo nội dung biểu đạt, vì trong nội dung biểu đạt có thể có hàng chục thể loại khác nhau, và trong bất kỳ thể loại nào cũng có những quan niệm, lý lẽ rắc rối và phức tạp của nó.


Thông thường bài thơ xếp loại ngắn số lượng câu không nhiều - thường không quá 50 câu - vấn đề diễn tả trong bài thơ đó có thể là những vấn đề lớn như: Đất nước, dân tộc, chiến tranh... Cũng có thể là những vấn đề chỉ trong một phạm vi tâm sự cá nhân như: Tình yêu, học đường, cảm hứng... Thực ra cái lớn nhỏ không thuộc về đề tài, mà thuộc về năng lực của người viết.


Nhưng dù đề tài thế nào nhất thiết đều nằm trong giới hạn câu chữ. Giới hạn câu chữ quyết  định việc sử dụng vốn liếng về hình ảnh, hình tượng, âm thanh, sắc mầu... của người cầm bút. Không thể dài dòng, miên man khi giới hạn về số câu không cho phép. Không thể nhiều hình ảnh diễn đạt một ý, không thể nhiều hình tượng chở một tư duy. Sự cô đọng là cốt lõi của thành công. Do đó sự tự loại bỏ những hình ảnh, hình tượng không cần thiết, cắt những ý, những câu không thuộc về chủ đề là một “đau lòng” đáng có. Chính cái đó đã quyết định sự thành công.


Ngày xưa, các bài thơ ngắn được qui định bởi niêm luật rất nghiêm ngặt, sự gò bó này có làm khó dễ cho nội dung tư tưởng, song lại đòi hỏi người làm thơ phải có nhiều công phu và muốn có thơ hay người viết đã trả đúng giá cho nó. Biết bao nhiêu bài tứ tuyệt, bát cú, đã thành bất tử chỉ với 4 câu hay 8 câu. Ngày nay, các bài thơ gọi là ngắn đã không còn là ngắn nữa, 50 câu như tôi nói cũng được coi là ngắn, nhưng dưới 100 câu cũng chưa phải thơ dài. Do sự mở rộng ước lệ dài ngắn này, đã khiến tính cô đọng của thơ bị giảm sút, nguyên nhân chính là do người viết tham lam. Cái tinh túy của vàng, bạc lẫn quá nhiều với quặng và sỏi đá. Người đọc phải thanh lọc rất nhiều mới được những hạt bạc, hạt vàng.


Loại thơ bài dài (không giới hạn về số câu) bao gồm truyện thơ, trường ca, kịch thơ, kinh thơ, sử thi... Ấy chính là những dòng sông, bên cạnh cái hùng vĩ của nó lại là cái rác rưởi, củi rều, bã bọt trôi lềnh bềnh từ nguồn ra biển cả. Loại thơ bài dài đòi hỏi một tay nghề vững vàng, một kiến thức xã hội phong phú và sâu sắc. Không có được cái đó, người làm thơ cứ như nữ diễn viên trong điệu múa lụa, chỉ bằng một dải lụa, lượn tròn lượn khéo đến nhức mắt, nhàm tai. Hạt mực đỏ vốn có, cứ được bôi ra mãi, bôi ra mãi, và càng bôi ra nó càng nhạt dần - cái mầu hồng nhờ nhợ. Vì nếu có quan niệm thơ dài (không bị câu chữ gò bó) là sự tung phá, hệt như người phu mỏ không tuân theo qui trình khai thác than, cứ ra sức mở vỉa, chỗ nào ngon xục vào mở trước. Đến khi nhìn lại công trình của mình, khối lượng than có nhiều, nhưng đất đá cũng nhiều và trông mới nham nhở làm sao...


Nhiều người cho rằng thị hiếu thơ của quần chúng Việt Nam là nghiêng về những bài thơ loại ngắn, không thích đọc những bài thơ dài. Điều này nếu đúng thì hẳn truyện kiều với 3254 câu đã không thể là truyện Kiều lừng lẫy hàng trăm năm nay. Thị hiếu của bất kỳ dân tộc nào cũng vậy, ai chẳng thích hoa, vấn đề không phải dài hay ngắn, mà vấn đề bài thơ ấy đã đạt đến độ cái đẹp của nó chưa.


 Đã là bài thơ hay thì dù 4 câu hay 1000 câu công chúng cũng đều thích cả.


Không có gì đáng xấu hổ cho rằng ta kém cỏi nếu như chưa viết được một trường ca. Chỉ cần bằng một số bài tứ tuyệt hay bát cú chẳng phải đã bao nhiêu nhà thơ Đường tồn tại đến muôn năm.


Đề tài đã quyết định cho việc chọn thể loại như thế nào?


Khi viết tập "Linh thiêng, nguyện cầu, nghiệp chướng" - nội dung như tên gọi của nó - tôi có phân vân giữa việc chọn thể loại ngắn và dài. Thực ra với cả hai thể loại đều có thể biểu đạt được nội dung trên. Nhưng tôi đã quyết định chọn thể loại ngắn.


Vì sao vậy? Vì nếu với thể loại dài, ý thơ sẽ lập đi lập lại, vấn đề nêu ra sẽ bị hạn chế, người đọc sẽ rất chán nản với những triết lý nặng nề và buồn tẻ. Thể loại thơ ngắn sẽ khắc phục được những nhược điểm ấy. Vì mỗi vấn đề đều có giới hạn của nó, nhiều hình thức chở cùng một chủ đề tránh được sự đơn điệu.


Nhưng khi viết tập sử thi "Nước Nam Ta" - tôi đã hoàn toàn sử dụng thể trường ca trong gần 200 trang sách với gần 6000 câu thơ. Điều này dễ giải thích bởi ngoài loại thơ dài ra không thể loại nào có thể chở được nội dung trên.


Còn với tập "Cố Hương Ca" thì tôi lại dùng kết hợp cả hai thể dài và ngắn. Dụng ý của tôi muốn dùng sự bề thế của thơ dài để chở những đề tài mới mang nội dung ưu việt, để chứng minh sự đổi mới của nông thôn ta hiện nay.


Đề tài của một tập thơ hay đề tài của một bài thơ có ý nghĩa rất lớn trong việc chọn thể loại biểu hiện. Nếu sự lựa chọn không thỏa đáng thì hiển nhiên bài thơ đó bị phá hoại - hoặc hỏng về nội dung, hoặc hỏng về hình thức. Khi mình thực sự thuộc vấn đề định diễn tả thì chính vấn đề ấy sẽ thôi thúc tìm ra thể loại, và sự hòa đồng bao giờ cũng rất khéo. Hiện tượng thể loại phá vỡ nội dung không phải là không phổ biến. Ấy là khi nội dung là một giọt mực đỏ ta lại cứ muốn giọt mực ấy thành mặt trời thơ. Hoặc một đề tài phì nhiêu, cần sống với nó lâu hơn nữa để khám phá được nhiều hơn nữa, thì ta lại vội vã chặt chân, chặt tay, róc thịt dựng nó thành hình hài. Người mới vào nghề hay người có nhiều năm tuổi nghề cũng đều chưa khắc phục được nhược điểm này. Lại phải nói đến tính nôn nóng và tham lam. Tính nôn nóng và tham lam vô cùng nguy hại!


Trong cả thể loại bài dài và bài ngắn, người viết thường thành công nhiều hơn trong những câu đầu, những chương đầu. Đó không phải là điều khó hiểu. Thực ra những câu đầu và những chương đầu người cầm bút thuộc vấn đề hơn và làm chủ được mình hơn. Tiếp đó là công việc bôi loang giọt mực đỏ.


Như trên đã nói, tôi cố gắng rèn luyện hầu hết các thể loại, nhưng trong các thể loại ấy tôi chưa tìm thấy tạng mình hợp với thể loại nào. Với thể thơ ngắn tôi viết thông minh và sâu sắc, nhưng lạnh lùng. Với thể thơ dài tôi đưa ra được vấn đề, nhưng nặng một bầu không khí kể lể, còn rất nhiều quặng đất trong thơ. Và tất nhiên phải như thế, vì nếu quá tự tin rằng mình đã làm chủ được thơ thì còn gì để phấn đấu nữa.


Với bất kỳ ai - dù người đã thiên tài - cũng đều còn con đường trước mặt thuộc về ước mơ, còn cần phải đi xa hơn nữa.


Tôi chỉ nghĩ: Muốn làm cho thơ của mình muôn hình, muôn vẻ thì mình phải diễn đạt thơ bằng chính cái muôn vẻ muôn hình ấy. Do vậy, phải thí nghiệm - nói cách khác phải làm tất cả các thể loại thơ khác nhau. Có như vậy mới hy vọng tìm được những cách diễn đạt mới cho một nền thơ mới.


Trong khi thực nghiệm một cách diễn tả mới, thường vấp ngay phải chính cái khó khăn của chính cái mới đó. Khó khăn thường làm cho ta nản lòng, nhưng tôi tự đặt kỷ luật cho mình phải thực hiện hết khả năng mình, tức là phải viết cho đến câu chót - dù liền sau đó vứt đi toàn bộ. Người làm thơ rất cần kỷ luật lao động, không thể tùy hứng và tùy tiện. Khi đã làm gần thành công với một thể loại mới, thì cần thiết phải tập dượt, phải làm thêm thể loại ấy với đề tài khác. Cố sao cho những nếp nhăn trong óc mình ổn định chân dung của thể loại ấy và không bao giờ quên nữa. Sau những vất vả của lao động, thành quả bao giờ cũng làm cho ta sung sướng đến muốn khóc, dù thành quả ấy chỉ là những tro tàn khi ta đốt chúng đi. Người khác thì cho là ngớ ngẩn, nhưng quả thực tôi đã tự giới hạn khuôn khổ bài thơ hoặc dài, hoặc ngắn của mình, và tôi cố gắng không vi phạm khuôn khổ ấy.


Đối với tôi giá trị làm một bài thơ dài và ngắn ngang nhau, về cường độ lao động thì bài thơ dài chiếm nhiều thời gian hơn, phải nghĩ nhiều hơn, đọc nhiều hơn, nhưng làm bài thơ ngắn mất ăn mất ngủ lắm, vì sự lựa chọn và chắt lọc tinh chất.


Nhiều bạn làm thơ khác, hẳn cũng nằm trong tâm trạng của tôi. Cũng đều tung tẩy muốn có bài thơ ngắn lại muốn có khúc thơ dài, và để đối lập cái đó tất cả đều giống như tôi -  đều lao động. Chỉ qua lao động hết mình mới có thể tìm thấy những bí quyết, mà những bí quyết thì không bao giờ vĩnh cửu, nó cũ ngay, vì thế lại phải tìm những bí quyết mới, lại lao động, một tiếp nối tuần hoàn vô tận.


Có thể nói rằng lao động trong việc tìm tòi hình thức biểu hiện là một lao động cực kỳ nặng nhọc - không kém gì việc nhặt trong đời sống những hạt vàng thơ. Việc tìm tòi hình thức, thể loại tác động trở lại với việc tìm kiếm để thơ bước vào cuộc đời, khiến cho khi đã thành thơ, người ta không còn nhận ra đâu là dấu vết tìm tòi nội dung, đâu là dấu vết tìm tòi hình thức nữa. Người ta chỉ nói đến thơ thôi, và người ta mở cửa lòng rước thơ vào...


Bài thơ bốn câu Chân Hương dẫn dưới đây khép lại chương sách này.


Cháy rồi cháy hết phần thơm


Chân hương đứng lặng nỗi buồn vô vi


Rồi mầu phẩm nhuộm phai đi


Dẫu chẳng còn gì vẫn đứng chân hương*


(còn tiếp)


Nguồn: Thủng Thẳng Với Thơ. Tiểu luận của Nguyễn Nguyên Bảy, thơ Lý Phương Liên và tranh Nguyễn Lý Phương Ngọc. NXB Văn học, 5-2011.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Thành phố lên đèn”, niềm thơ thắp sáng trong đêm - Nguyễn Đình Phúc 11.12.2017
Sao lại nói chữ quốc ngữ Việt Nam "rất nực cười"? - Nguyễn Hải Hoành 11.12.2017
Đọc lại bản dịch nổi tiếng Chinh Phụ Ngâm - Vương Trọng 03.12.2017
Thế giới “con rối” trong thơ Nguyễn Đức Tùng - Mai Văn Phấn 25.11.2017
Nguyễn Quang Thiều với "Câu hỏi trước dòng sông" - Tâm Anh 25.11.2017
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
xem thêm »