tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21316188
Lý luận phê bình văn học
19.04.2011
Nguyễn Nguyên Bẩy
Thủng thẳng với thơ (3)

3. Tôi ơi, đừng bao giờ chán nản...


Tôi thói thường hay ngửa mặt hỏi trời. Lần ấy ngửa mặt chỉ thấy trời cười, cười chan hòa nắng, cười mãi không thôi, cưới đến ứa nước mắt để nắng vụt tắt nhường lại cho mưa, mưa phập phồng bọt, và tôi liền đọc thấy những phập phồng bọt ấy chậm chạp từng lời trời: Đừng bao giờ chán nản. Bọt mưa viết lan man nhiều chữ lắm, nhưng tôi đọc mà chẳng hiểu nghĩa, liền vớt bọt uống mà ngẫm nghĩ. Khi đã có niềm say mê chân chính thì thơ chính là cái bả tình yêu của phù thủy - là cái nghiệp mà mình càng muốn rũ ra thì như dây nó càng buộc lại. Đã là (sự) nghiệp, như đã nói, tất có chướng, nghiệp chướng, thì nhất định phải đuổi đeo, phải trả nợ, và luôn luôn phải tự nói với mình: Đừng bao giờ chán nản...


Tại sao lại chán nản?


Chán nản thật đấy, chán nản khi ta vừa viết thành công bài thứ nhất đã liền sụp đổ liên tiếp những bài tiếp theo. Cái ảo tưởng về tài năng vừa đến thì cũng liên tiếp xảy ra cái vỡ mộng. Tài hoa chăng hay ta chỉ họa tai? Bài thơ thứ nhất là bài thơ phải trả bằng bao nhiêu mộng mơ, ngẫm nghĩ, biến hóa thành ngôn tình lời lòng, nhưng đâu phải những bài thứ hai cũng rập khuôn giá ấy mà trả, là mua xong. Cũng có khi những bài tiếp sau vẫn thành công xuôi chèo mát mái, cái tên hình như quen với độc giả. Nhưng đùng một cái, buổi chiều kia ngồi đọc lại thơ mình, thấy nó viển vông bông phèng khôn tả xiết, nó cũng hệt như một cái tin rao vặt, có chăng được viết với điệu vần. Thế rồi chẳng dám đọc to cho chính trái tim mình nghe lại. Hoặc, ngược dòng, thảm thương cho ta, chỉ với bài thơ đầu đời tung lên cột báo đã khiến ta hoang tưởng bàng hoàng về giấc  mộng tài năng. Sự ngộ nhận càng cao bao nhiêu thì sự chán nản càng sâu nặng bấy nhiêu, vì tiếp sau đó chẳng báo chí nào thèm đăng in thêm bài thứ hai, thứ ba của ta nữa. Thế là, suối chán nản bắt đầu rỉ chảy…


 


Có hai cách ngăn chặn sự rỉ chảy chán nản ấy.


Một là ta tự trách ta.


Tôi đưa tay tát lên má mình, thật mạnh, má phải, rồi má trái, rồi má phải, rồi ngưng, cộng là ba, bỗng ngộ được đôi dòng mưa bọt khi nãy mơ hồ chưa hiểu. Dẫu bay lên sao Hỏa, sao Kim cũng bay từ mặt đất/ Dẫu lớn tựa thiên thần cũng sữa ngọt mẹ ru/ Hãy chuyên cần như con ong làm mật/ Quả chín trên cây là  quả chín dần dà…* (Bốn câu thơ tự răn này ảnh hưởng thơ Chế Lan Viên quá lậm, tỉnh ngay). Ta phải tự trách ta, là ta chưa đủ kiên trì, chưa đủ liên tục và quan trọng hơn cả là chưa đủ sự say mê, để hồn ta cuốn vào thơ, xác ta cuốn vào thơ, vô tư, tự nhiên như thể cái chướng yêu mà ta ngụp lặn mò tìm cái ta nợ phải trả, cái ta yêu phải sinh, cái ta ghét phải diệt. Hỉ nộ ái ố cùng thăng hoa trong hồn ta, thành điệu vần làm ấm áp lòng ta, lòng người, thành mái nhà, thành cánh đồng hoa, thành buổi chiều lũ trẻ chăn trâu thả diều hát gió dọc triền đê. Ba đức: Say mê, kiên trì, liên tục chính là quá trình trồng cấy cây thơ cho mùa ra hoa kết trái. Chỉ có ba đức: Say mê, kiên trì, liên tục mới đủ sức khơi nguồn con suối chán nản, thành con suối nước chảy qua lòng đá cuội trong veo mà ngân nga…


Hai là ta tự tin ta.


Nói vậy có vẻ buồn cười. Ta chẳng tin ta thì tin ai? Vậy mà nhiều lúc (đôi khi cả đời) ta chẳng tin ta mà ta lại tin người, thứ tự tin a dua bầy đàn, thứ tự tin giết dần mòn cái tự tin ta để nhập vào cái tin người thành ra một thứ nước ao, nước sông chứ không phải thứ nước máu của riêng ta, nuôi cây ta sống mà đẻ ra cái hoa, cái trái tạ đời. Cái sự tự tin ta, nói vậy mà không vậy, khó giữ vô chừng, vì cái quyền lực mặc áo thi vương, thi bá, tưởng ảo mà hóa thực, bởi chúng có đủ những nhân danh chẳng những chính trị mà cả đạo đức, luôn luôn bắt ta theo khuôn phép bầy đàn, nhắm mắt ngậm miệng bay theo chúng. Thơ mà như thế được sao? Ta mà không theo, chúng chế nhạo, phổ biến nhất là chúng mỉm nụ cười “chuyên nghiệp” mỉa ta “nghiệp dư”, cao hơn chút là chúng bôi đen ta, vu khống ta, gán ghép đẩy ta vào thiên la chính trị, địa võng đạo người. Sức ta yếu nhát, thật khó lòng


đương cự lại chúng. Thôi thì đành nhường thi đàn cho chúng nhi nhăng, ta về với thi đàn của ta, của bằng hữu ta mà hát lời lòng cho nhau nghe.


Tôi, giữa bốn bể anh em, tám phương bằng hữu thường hát vãn cảnh chùa: Chùa linh thiêng nhờ vòm cong mái cổ/ Ngói thời xưa gợi gợi những xa xôi/ Giận ai chạm lại con nghê cũ/ Mái ngói vô duyên đỏ lợi cười…*


Nói thêm về sự chán nản đến từ những nguồn tưởng như vô lý khác.


Nguồn đến từ những cơn choáng, ví dụ choáng trước một câu thơ hay, một bài thơ hay hay một thủ pháp thơ hay của tây ta nào đó. Thế mới là thi nhân, thi nhân là kẻ hay choáng nhất, thất thường nhất, mơ hồ nhất, trước bất kỳ mới lạ nào cũng choáng, khi choáng lập tức phủ nhận mình, và muốn được thành một choáng khác. Trước mọi nỗi choáng mình sinh ra chán nản bi quan, dâng lên tột độ mối nghi ngờ mình và chán chính mình. Lại bảo, người làm thơ không có nỗi chán mình thì nhất định không thể thành nhà thơ được!


Chán mình như thế nào và phải thường trực nỗi chán ấy ở đâu để biến nỗi chán thành một động lực xúc tác tài năng, câu trả lời đã thuộc một phàm trù luận bàn khác.


Viết như vậy hình như mâu thuẫn, vừa muốn phỉ báng nỗi chán lại vừa muốn ngợi ca mãnh lực của nó. Thực không có gì là mâu thuẫn. Nỗi chán nản cần tiêu diệt, để không mệt mỏi làm lụng và luyện rèn. Còn nỗi chán mình là nỗi chán cần thường trực để đừng bao giờ ngộ nhận mình trong suốt quá trình chuyển hóa từ hoa lên quả và dần dà quả chín.


Gặp khó khăn sinh chán nản không là phẩm hạnh thi nhân.


Nếu dễ dàng con đường lên núi, thì cần gì vinh quang chinh phục được non xanh? Thiếu gì kẻ lắm bạc vàng, cao sang quyền chức, muốn nhúng năm ngón tay vào nghiên mực của thảo dân viết lên trang giấy xã tắc năm bài thơ giun dế để lưu tên mình vào sử sách, thời gian. Những bài thơ giun dế ấy nhất thời vang lên cùng gươm giáo, nhưng đã phải tắt lịm khi thơ nhạc của tình yêu và yên bình


cất tiếng. Thơ cao quí như tên gọi của nó. Sự cao quí thần linh. Sự cao quí bất tử. Sự cao quí vốn chỉ trao cho những con người có đầy đủ tình yêu và  nghị lực gieo trồng và thu hoạch nó.


Sinh ra đất trời bèn sinh ra bể


Có bể trời bèn sinh sông


Chẳng để buồn sông trời bèn sinh cá


Giận lũ trời bèn sinh rừng


Có rừng trời bèn sinh cỏ


Sinh cỏ trời bèn sinh voi


Lúa trời người dưỡng thành lúa nước


Sinh ra lúa người sinh ra nhà


Sinh ra nhà người sinh ra thuyền


Sinh ra thuyền người cao hứng sinh thơ


Thuyền thơ chở đầy trăng thơ


Đầy trà đầy rượu đầy hoa


Và đầy nhân tình…*


Mình sinh được ra thơ, cớ chi mình lại chán nản?


Con đường thơ là một con đường chẳng những nhiều chông gai mà còn xa ngái, không thể đi một ngày, một năm, mười năm mà tới được, có khi đi cả đời đích vẫn xanh tận chân trời. Trên con đường xa ngái ấy, may thay, có hạnh phúc, có vui buồn, đã có vậy, chẳng lẽ lòng còn chán nản. Chỉ nguyên điều chấp nhận sự hiện diện của mình trên con đường ấy đã là một tự tin hạnh phúc. Đã tin vậy, thì cứ đi, đi mãi, đích đó luôn trước mặt, luôn xao xuyến  tâm hồn ta và tôi thầm hiểu rằng đời mình còn duyên nợ với thơ.


Những thất bại ban đầu chính là những cái hôn của mối tình đầu tan vỡ. Nó còn lịm ngọt mê mẩn mãi trong lòng ta, vừa như một kỷ niệm, vừa như một trách móc, vừa như một háo hức, vừa như một bâng khuâng... Nếu mối tình đầu chẳng để lại trong ta một cảm động gì, thì còn gọi gì là mối tình đầu đáng nhớ. Trước đổ vỡ cần một tỉnh táo.


Nhiều cầu gãy trên đường đi, đây mới chỉ gặp một cầu gãy, vấn đề là có qua được cầu gãy này thì mới mong qua được những cây cầu khác.


Khi đã qua được chiếc cầu gãy đầu tiên, ta bỗng nhận cảm một gắn bó không gì phá vỡ nổi giữa ta và thơ. Ta cứ ngỡ rằng mình sinh ra để phải trả món nợ đời thơ. Thế là không chán nản nữa. Nhưng, muốn tiêu diệt tận gốc mọi chán nản thì phải có đường đi. Con đường đi của thơ. Có như thế mới không ăn sổi ở thì, có như thế mới nhận biết mọi thất bại như một thường tình. Có như thế mới có nỗi chán mình thường trực, tác phẩm hay nhất chưa phải là tác phẩm mình viết ra, bài thơ sắp viết còn nhiều hứa hẹn hay hơn. Đỉnh núi cao và nhọn đầu hình chóp, cho dẫu ta lên tới đỉnh thì ta cũng chỉ là một điểm nhó xíu của đỉnh núi mà thôi. Đỉnh núi thơ cớ chi xếp ghế thi vương, thi bá?


Hành trình lên núi thơ. Mỗi chặng nghỉ hay mỗi đỉnh nghỉ là một đỉnh tài hoa, nhưng tuyệt nhiên không phải đích cuối cùng.


Không ai bắt ta phải leo lên núi thơ, con đường tự nguyện, và cũng có thể bỏ cuộc, nhưng nếu như giữa đường nản lòng thì âu Thượng đế đã không cho người đó yêu một tình yêu.


Chiến thắng tuyệt đối sự chán nản như thế nào?


Chỉ có thể chiến thắng tuyệt đối nỗi chán nản bằng một say mê phi thường, say mê vô tư, không đặt trước cho say mê mình một đời tự vẽ. Say mê thơ kỵ nhất danh vọng và tiền tài. Không có say mê, thì đừng bao giờ nghĩ rằng mình có thể đi trên con đường cheo leo, gập ghềnh lên đỉnh núi thơ.


Lại vẫn chưa đủ nếu chỉ có say mê. Thơ mãi mãi như miếng đất hoang, những miếng dễ người ta đã khai phá rồi, bây giờ chỉ còn những miếng xương xẩu, có khi ngay miếng xương cũng không còn, mà chỉ còn sự đi mót, sự cào xới lại, thâm canh lại... cho nên cũng khó lắm. Thơ được coi là nghệ thuật thứ nhất trong bẩy nghệ thuật của con người, cho nên nếu không quá lời nó cũng là sự khó thứ nhất. Đi mót cũng như đi câu - thứ nhất tốt mồi, thứ nhì ngồi dai - phải kiên trì và liên tục.


Tôi rèn luyện mình thói quen ngày nào cũng làm việc với thơ ca. Có thể là một chữ, có thể là một câu, có thể là một bài... ít hay nhiều cái đó tùy vào sức, nhưng đừng hôm nào nhãng quên công việc thơ ca. Thói quen lập đi lập lại nhiều lần tự gây ra hưng phấn, do vậy không hôm nào viết hết được những điều suy nghĩ, nên hôm nào cũng có thơ.


Nhiều người hay nói đến cảm hứng.


Cảm hứng là cái gì? Thần thánh nó quá. Cảm hứng chính là thói quen như buổi sáng dậy ăn lót dạ, và 12 giờ trưa, 6 giờ chiều dạ dày nhớ bữa ứa nước ở chân răng. Ngày nào cũng ngồi vào cái bàn chỉ còn lại 3 chân, ngày nào cũng viết trong càu nhàu của vợ, trong tiếng khóc của con... thế thôi, hôm nào không ngồi vào bàn, nhớ như đói vậy. Làm gì có cảm hứng bỗng nhiên nếu chẳng thấy thú vị phải có thơ, người thi sĩ nghèo càng cần phải loại bỏ lối cảm hứng của bọn giàu sang, chúng có cảm hứng bởi mùi bơ, sữa, thịt cá, trái thơm... Còn chúng ta chỉ có cảm hứng rau muống!


Biết rằng mỗi một ngày sự hủy hoại không biết bao nhiêu tế bào óc, mà rau muống không thể đắp bù lại được, nhưng biết làm thế nào, khi ta đã tình nguyện đi trên con đường thơ.


Nhưng cũng có khi hàng năm, sáu tháng liền, có khi cả năm trời không viết một dòng nào. Nhiên liệu đã hết và lò cũng đã ốm, tất nhiên cần phải lên rừng lấy củi hay ra mỏ lấy than. Sau những quãng nghỉ này thường là sức làm việc trở nên cường tráng lạ lùng. Bao nhiêu cái mới, bao nhiêu cái muốn viết, khi ấy một tập thơ ra đời chẳng còn khó khăn gì nữa.


Tôi không có thói quen chọn mùa làm việc, chọn tháng làm việc và chọn giờ làm việc. Với người nghèo thì phải tranh thủ, bất cứ lúc nào có thời gian cũng tự động làm việc. Cứ có 30 phút nhàn rỗi là có thể làm thơ! Đừng bịp đời và kiểu cách rằng trước lúc làm thơ phải hương khói, phải tắm rửa sạch sẽ, phải hút thuốc thơm, uống trà ngon, và sau khi làm việc xong phải được vợ vuốt ve, được bát cháo gà... Chẳng có đâu, chỉ có những cằn nhằn: Nếu cứ làm việc thế này thì anh chết mất! Mà để làm gì? Mai nhà không còn gạo, không một đồng keng nào để mua rau!...


Thực tế bao giờ cũng tàn nhẫn, chứ phải đâu thực tế đẹp như thơ!


 


Đã có những năm khổ sở quá, như 1972 chẳng hạn, chúng vu cáo lố bịch, 8 tháng không được làm việc. Tôi chuyển sang làm thợ may. Đồng tiền kiếm được không ít, nhưng lạ lùng sao cứ thiếp vào giấc ngủ là y như nàng thơ lại hiện (như Đạm Tiên ấy!) và bảo: Nghiệp còn nặng chưa thể bỏ được đâu! Thế là lại gạt nước mắt, lại trút tất cả những khó khăn lên vai vợ và lại làm thơ. Nhiều người tỏ vẻ xót xa thương cảm, nhưng gánh nặng đời ai dễ sẻ cho ai.


Cái khó thực của thơ và cái khó ảo của thơ cứ luôn luôn dày vò, đã mấy ai vàng đá mà không chán nản bi quan. Nhưng Đừng Bao Giờ Chán Nản là một điệp khúc thơ, vỗ về an ủi tôi. Tôi toát mồ hôi lưng, tôi run lên trước những thất bại, bởi liền sau đó biết chắc là thành công, một thành công không lớn, nhưng là một thành công đã được trả giá.


Đừng bao giờ chán nản - Điệp khúc ấy khi ngân lên thường có hồi âm, hồi âm của niềm vui chân chính, bởi lẽ khi đã không chán nản thì thế vào đó chỉ là niềm mê say lao động, thế vào đó chỉ là nghị lực sáng tạo không ngừng. Và cũng như sự duy trì đức kiêu ngạo cao cả đã đánh át đi những quyến rũ thấp hèn, sự chán nản chỉ còn dành cho chán chính mình, nói nhỏ lại, là không bao giờ bằng lòng với mình, luôn luôn đi về phía trước. Với hồi âm ấy, khi nhận được bao giờ cũng là những khích lệ rất đáng mừng.


Tôi đã viết trong mười lăm năm cuộc đời, nhưng kết quả còn lại chỉ là trong vòng từ 1970 đến nay, với một số lượng những trang viết khá lớn, cái đó đã thực sự tôi rèn nên tôi và đã thực sự làm tan biến đi những ảm đạm cuộc đời, mà động lực chính của nó là: Tôi đã Không Bao Giờ Chán Nản.


Soi gương vui cả mặt gương


Tình yêu nhón một cánh chuồn chuồn bay…*


Bay đi, bay đi, con chuồn chuồn chán nản.


 


4. Khi ngôi sao rụng chín


Vòm trời như một cây cổ thụ, mà những ngôi sao là những trái quả. Chỉ có điều cây trời ra hoa quanh năm và kết quả quanh năm, mỗi một quả sao khi chín rụng xuống lại nở sinh ra những cây non khác và lại ra hoa kết quả. Sự sinh sôi là không ngừng nghỉ, là mãi mãi, biết đâu chẳng có một trời sao... Trên vòm trời có những ngôi sao sáng và có những ngôi sao mờ, sao sáng tức là quả đã gần ngày chín, còn sao mờ là quả đang xanh. Một đêm hè kia, khi ta ngước mắt lên nhìn vòm trời, thấy ngàn muôn sao, và bỗng, một ngôi to như quả bưởi trời rụng xuống. Sao băng hà, một sinh mệnh đã đi vào bất tử...


Thơ kỳ lạ lắm, đúng như một vị thần, thơ đến rất bất ngờ không thể sớm hơn và cũng không thể muộn hơn, chỉ một khoảnh khắc linh thiêng rồi vụt đi. Người ta bảo: Khi sao băng, hãy nói nhanh lời nguyện cầu, nhất định lời nguyện cầu ấy linh ứng... Thơ cũng như vì sao kia, cũng băng vội vã, nhanh hơn cả vội vã nếu như người làm thơ bỏ lỡ cơ may, không dang tay đón lấy thơ mà nâng niu ru hát.


Thật khó giải thích động lực nào đã làm cho những ngôi sao thơ chín! Thời gian ư? Nhựa ư? Từ đâu có nhựa? Chẳng lẽ lại có nắng trong vòm trời đêm? Mà quả thơ thì phải chín. Và hoàn toàn không ảo chút nào, thơ đã uống nhựa, đã phơi mình trong nắng gió, và với thời gian... đã chín, chín như những quả sao trời.


Chẳng lẽ thơ lại mơ hồ mây gió là thế? Nếu đời hơn, thì thơ chính là đôi nhũ vợ ta. Chín xanh lúc ta gặp yêu và chín mọng lúc con ta ấp môi vào để sống. Thơ là vậy, đẹp vậy, quanh ta đầu cũng bóng hình thanh sắc vợ ta. Là khi anh nói về em/ Bông hoa trước cửa tự nhiên nở bừng/ Trên cành một giọt sương rung/ Gió nhẹ vô cùng thổi mãi không rơi…*


Cái gì là đối tượng của thơ? Thực ra câu hỏi cần phải đặt lại: Ai là đối tượng của thơ? Con người là đối tượng của thơ. Câu trả lời không có ý gì mới mẻ, nhưng mãi mãi vẫn còn mới mẻ. Bởi con người là một danh từ chung trong đó vừa hàm chứa dân tộc vừa hàm chứa nhân loại, vừa là em lại vừa là bạn, vừa là Chúa Trời lại vừa là Juđa... Do ở nơi trí tuệ của mỗi người, chính thuật ngữ con người cũng bị hiểu theo nhiều cạnh khía khác nhau. Mà trong ẩn sâu con người biết bao nhiêu đặc tính: nào tình yêu, nào phẫn nộ, nào bác ái, nào tiểu nhân. Nên có khi con người là đối tượng của ngợi ca, lại có khi con người là đối tượng của bôi nhọ và xuyên tạc.


Khoan hãy nói đến mặt trái của nó. Coi như với tất thẩy người cầm bút ai cũng có tình yêu đối với con người. Nhưng con người vốn sinh ra không phải ai cũng có sự thông minh của trí tuệ, mà quảng đại đã bị Chúa Trời rút bớt những nếp phần trong đại não, nên không phải ai cũng giảng giải được mọi chuyện tồn vong của vũ trụ. Số ngu đần, sống cam chịu, vừa ý hài lòng với chính sự tồn tại ngốc nghếch của mình. Cần một sự thức tỉnh, thức tỉnh về số phận. Thơ là một trong số những loại hình xung kích làm nhiệm vụ đó. Sứ mạng thật lớn lao, nhưng khốn thay sứ mệnh lớn lao ấy đôi khi lại rơi vào tay những kẻ thiếu nhân thừa súc. Cũng như chính xã hội con người, số quân vô lại đông đúc không thua kém những người con trung thành của Chúa ! Xã hội thơ cũng vậy, tiếng lòng thơ và dã tâm thơ song hành, thích cánh chen vai. Vì thế, thơ không chỉ tụng ca con người, mà thậm chí còn báng bổ con người bằng những tụng ca, nghĩa rằng: họ tụng ca ngay cả thân phần súc vật của con người.


Duy nhất tình yêu con người làm những quả thơ trên cây đời chín đỏ. Như thế có trừu tượng quá chăng?


Yêu cả những niềm vui của con người, yêu cả những khốn khổ của con người. Tình yêu ấy làm cho niềm vui trở nên có ý nghĩa và những khốn khổ khi ta chỉ thẳng vào mặt nó, gọi đích danh nó, khiến


con người cảm nỗi xấu hổ, cảm nỗi mình bị xúc phạm và lăng nhục, những kích thích đó làm bật nổ những hành động và những hành động ấy trôi dần đi, làm cho nó ngày một ít đi, càng còn ít khổ đau con người càng được sống trong hạnh phúc có ý nghĩa.


Có những bạn đọc phẫn nộ với tôi, coi tôi là con người tàn nhẫn và độc ác, vì tôi hay khơi lên nỗi khổ cực của con người. Đời này chẳng lẽ còn thiếu những đau khổ ư, mà cần thêm những vần thơ phanh phui đau khổ. Lời than vãn thú vị đấy. Tôi cần phải nâng chén rượu lên tụng ca nỗi đau khổ của con người!


Có phải con người sẽ buồn khổ thêm khi chính ta gọi rõ tên, chỉ rõ mặt nguyên nhân đau khổ ấy? Hay con người thích một triết lý tĩnh, mọi xếp đặt cuộc đời là do một đấng linh thiêng, không thể động lên và sắp xếp lại. Thứ triết lý tĩnh là thứ triết lý không cách mạng. Cần thiết phải có một triết lý cách mạng, một triết lý động.


Tôi không sao cầm được nước mắt trước những khổ đau vô lý của con người. Nỗi đau khổ của riêng anh, trong căn nhà nhỏ của anh có thấm thía gì, chỉ cần anh ra khỏi nhà, đi hết một phố, ra với làng, lên với rừng và ra với biển... anh sẽ thấy ngay, thấy tất cả những đau khổ vô lý của con người, nơi nơi là những đau khổ về thể xác, nơi nơi là những đau khổ về tinh thần. Con người có phải là súc vật đâu mà con người bị đọa đầy dã man đến thế. Có những người từ sinh ra cho đến khi chết chỉ mới được ăn đếm trên đầu ngón tay những bữa ăn có thực, mà ngay cả những bữa ăn ấy cũng chẳng ngon lành gì, vì liền sau đó là công nợ, là những dày vò của điều tiếng, là sự trả giá danh dự và thể xác. Có những cô gái chỉ ao ước một chiếc quần mới, có những nhà khoa học chỉ ao ước có được một chiếc bàn làm việc đúng nghĩa để hiến dâng trí tuệ cho con người... Tiếc thay, ước mơ xưa nay vốn chỉ là mơ ước!


Xã hội con người ở dạng này hay dạng khác cũng chỉ mới thay được cái vỏ bên ngoài, chưa bao giờ thay đổi được cốt lõi của nó. Vì sự thay đổi luôn luôn là cải lương, những thành phần mới, vừa ở vị trí bạn con người đã mau chóng nhảy lên địa vị cai trị con người.


 


Lòng tham của chúng là không cùng và thế là con người lại lập lại mọi khổ đau. Khổ đau chỉ được thay đổi tên gọi, mầu sắc, và sự đốn mạt của nó là đau khổ mới bao giờ cũng mang những nhân danh rất hào nhoáng, những nhân danh hào nhoáng làm rung động lòng người. Nhưng... than ôi, cái mới còn tồi tệ hơn cái vừa bỏ đi. Do vậy phải động không ngừng, cách mạng không ngừng. Đó là qui luật mâu thuẫn của triết học và cũng chính là sứ mạng cao quí của thơ.


Sự tiến hóa của tư tưởng thường rất trì trệ. Một quá trình chín dai dẳng, nhanh nhất cũng là hàng chục năm. Thơ thường phụ họa theo những trì trệ ấy. Vì thơ có ưu thế vần điệu của mình, thơ làm say lòng người, mê hoặc những ngu si, thơ giúp vào việc kéo dài những triết học ngu muội. Đó chính là tội lỗi của những thi nô.


Chỉ còn rất ít thơ để lay thức trái tim con người. Thơ nói vào những nơi sâu kín nhất của trái tim cả niềm dũng cảm, niềm vui và những khốn cùng, tác dụng của thơ không nhỏ, bởi khi trí tuệ con người mơ hồ về những vô lý thì có một người, bằng một cách dễ hiểu nhất nói lên những nghịch lý ấy, một công việc không tầm thường và không dễ dàng. Trước những phẫn nộ của cường quyền, hồi âm vô giá của thơ chính là sự đón chào của công chúng.


Duy nhất tình yêu con người làm những quả thơ trên cây đời chín đỏ.


Trong tình yêu ấy có công việc công kích và công việc ngợi ca. Người cầm bút có thể lãnh cả hai sứ mạng hoặc nhận một trong hai sứ mạng ấy. Nhưng dù nhận bất kỳ sứ mạng nào mục đích cũng là vì hạnh phúc của con người. Ngợi ca những cái con người đang đúng và công kích những cái sai.


Đứng trên phương diện nhìn nhận sự thức tỉnh của con người, thúc đẩy tư tưởng tiến triển, loại trừ những phiền muộn nghịch lý... thì thơ luôn luôn là mũi khoan xoáy vào trái tim người đọc. Bảo với họ lời giữ gìn hạnh phúc và đấu tranh cho hạnh phúc. Đối với một chuyên chính, khi mà người ta tin tưởng ở sức mạnh chính nghĩa của nó, thì sự thực người ta rất cần sự thúc đẩy đối lập (trong đó có thơ). Còn có những chuyên chính run sợ đối lập. Không thể lấy lời lẽ nào ngụy biện cho những run sợ ấy.


Nghĩa yêu chỉ có vậy thôi/ Không tin em thử lên trời hỏi xem/ Em bay lên hỏi trời/ Lời trời/ Mây mưa là chuyện của người yêu nhau/ Anh tội nghiệp hạt mưa/ Vườn đời muôn hồng ngàn tía/ Sao mưa sa xuống vườn anh/ Cây hoa dại trước thềm*


Hát cộng minh có thể hay và khoa học, nhưng ca sĩ nào cũng hát cộng minh khác gì bắt tất cả các loại chim cùng hót giọng oanh vàng. Tranh Phục hưng bất tử với những thiên tài của nó, nhưng vẫn cần phải có một Picasso đồ sộ trong thế kỷ 20 này. Vì một chiều nên với chúng ta cái gì cũng mới, cái gì cũng ngỡ ngàng, cái gì cũng gây choáng. Thơ cũng nằm trong tình trạng chung như thế.


Tính kế thừa rất quan trọng đối với văn học nghệ thuật. Chúng ta đã đổ mực Tầu lên tất cả những trang dài rất nhiều năm của nhiều nhà hoạt động văn nghệ, chỉ bởi những nhà hoạt động văn nghệ ấy đã đứng ở phía bên kia. Sẽ là một tổn thất lớn lao biết bao với nền văn học nghệ thuật Xô viết, nếu những Alêxxăng Tonxtôi, Xastakôvích... bỏ ra nước ngoài và đi hẳn, thì làm gì có tiểu thuyết, trường ca và những giao hưởng bất hủ. Cả đến Esênhin, nếu không được đánh giá đúng mức thì biết bao nhiêu thơ tình Nga bị chôn vùi...


Tình yêu con người, người ta sợ nói thế là chung chung; nhưng thực ra với một người cầm bút chân chính thì tình yêu con người nơi họ đã hàm chứa tình yêu đối với đồng bào cụ thể của họ với vợ con, cha mẹ, bạn bè họ. Và dĩ nhiên, sâu nông tình yêu ở mỗi người cầm bút có khác nhau. Có người có thứ tình yêu dịu ngọt, có người có thứ tình yêu chát đắng, lại có những người có tình yêu bằng cửa miệng những lời nhạo báng và chửi rủa... Không nên xếp loại những thứ tình yêu ấy - có chăng chỉ là xếp loại để dễ thông cảm hơn - chứ đã là tình yêu, thì dù cấp độ nào bản chất vẫn là tình yêu. Có tình yêu hợp với dạng này, cũng có tình yêu hợp với dạng khác. Cái đó thực không đáng kể, cần nhất là sự ích lợi của nó - sự ích lợi của thúc đẩy.


Tôi nằm trong số tình yêu không thích hợp với danh vọng và tiền tài. Do vậy, khi danh vọng và tiền tài chạm đến nó, nó dẫy nẩy lên và nhục mạ tôi không thương tiếc. Cái đó thực ra đã mang lại rất nhiều hậu quả cho tôi - hậu quả xấu - Nhưng tôi lại lấy đó làm vui, vì ngoài đời này, cái mà quân vô lại rủa nguyền ta chính là cái ta đúng. Tôi đi theo tiếng  gọi tình yêu của mình, mô tả (có ngợi ca và


185


phản kháng), mô tả và sẽ còn mô tả mãi... Duy nhất tình yêu con người làm những quả thơ trên cây đời chín đỏ.


Và như sao ấy, trong một đêm mùa hạ, từng ngôi sao to như cái đấu rụng xuống, một linh hồn đã lìa đời, nhưng không phải lìa đời là mất hẳn, mà lìa đời là đi vào cõi bất tử. Thơ cũng như sao, khi chín rụng rất nhanh và ta không sao cưỡng lại được. Thần thơ đến rất bất ngờ, vì vậy khi thần thơ đã đến thì ta phải chắp vào mình đôi cánh, bay theo, đuổi và quyết bắt cho kỳ được.


Tập Cố Hương Ca tôi đã làm trong bối cảnh ấy! Cả cuốn sử thi đồ sộ Nước Nam Ta tôi cũng làm trong bối cảnh ấy. Sự gặt hái của tôi thường bội thu hơn rất nhiều so với tưởng tượng của tôi. Mỗi khi vừa xong đọc lại, tôi đều giật mình: Tại sao mình làm được một công việc vượt quá khả năng của mình đến thế?


Người này khen sức làm việc của tôi. Người khác bỉ sức làm việc của tôi. Phạm trù này không mâu thuẫn.


Khen là bởi tình yêu nơi tôi bao giờ cũng bao trùm, tình yêu của tôi bao giờ cũng được trả giá bằng những sáng tạo không mệt mỏi. Luôn luôn mới trong cách nghĩ, cách cảm và hình thức biểu đạt. Nhưng ngược lại là những lời bỉ. Nghiêm trọng hơn cả là sự lạm dụng quá nhiều chất thạch tín, cái chất dễ gây ra chết người, và nữa, tôi vội vã, vội vã cả trong suy nghĩ và biểu đạt. Cũng may những trang thơ ấy chưa tham gia vào đời sống con người. Để cân bằng mâu thuẫn đó - Trái tim ơi, hãy nói đi, tôi chỉ nghe tiếng nói trái tim tôi. Trái tim tôi vẫn thúc giục tôi làm việc.


 Người yêu ấy đã nói với tôi: Anh làm thơ không phải cho anh đâu, anh làm thơ cho em và cho muôn người, em thích và em tin là mọi người cũng thích - thích bao hàm cả sự cần, cần lắm, đừng buông bút nhé anh! Trước bất kỳ một yêu cầu của ai, tôi cũng không bao giờ từ chối, huống là yêu cầu của em... Tôi nhìn nhận lại mình và quyết định phải đi xa hơn. Đêm ấy, khi ngôi sao trên trời chín đỏ, ngồi dưới giàn thiên lý, ngước mắt lên, chầu chực cái phút ngôi sao rơi...


 


Và, ngôi sao đã rơi, tôi đã kịp nguyện cầu: Thơ tôi không phản bội con người! Nghe tôi cầu nguyện lời linh thiêng ấy, người yêu của tôi - em suốt đời của anh - đã hôn rất lâu vào đôi mắt tôi, trời đầy sao chín, chúng tôi ngồi bên nhau, không nói một lời nào, chỉ có lặng im của vuốt ve và những cái hôn rất người - hai con người yêu nhau...


Từ khai thiên lập địa Cỏ hoa nào không hoa cỏ dại


Không tin anh tìm đất hỏi xem


Anh về cội hỏi đất


Đất bảo khoai lúa không tự nhiên mà có


Giếng nước bến sông không tự nhiên mà có


Vua chúa trẻ thơ không tự nhiên mà có


Thế mà chúng mình có nhau


Giọt mây rơi mưa vào lá


Mập mạp mình cây hoa nở


Gió đưa sắc nắng hương tình…*


(còn tiếp)


Nguồn: Thủng Thẳng Với Thơ. Tiểu luận của Nguyễn Nguyên Bảy, thơ Lý Phương Liên và tranh Nguyễn Lý Phương Ngọc. NXB Văn học, 5-2011.


 


 


 


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Thành phố lên đèn”, niềm thơ thắp sáng trong đêm - Nguyễn Đình Phúc 11.12.2017
Sao lại nói chữ quốc ngữ Việt Nam "rất nực cười"? - Nguyễn Hải Hoành 11.12.2017
Đọc lại bản dịch nổi tiếng Chinh Phụ Ngâm - Vương Trọng 03.12.2017
Thế giới “con rối” trong thơ Nguyễn Đức Tùng - Mai Văn Phấn 25.11.2017
Nguyễn Quang Thiều với "Câu hỏi trước dòng sông" - Tâm Anh 25.11.2017
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
xem thêm »