tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19738503
13.04.2011
Tư liệu
Hoàng Sa mưa nắng thế nào? Thử khảo sát về quần đảo Hoàng Sa

Bài của Sơn Hồng Đức Giảng sư Địa lý học, Văn Khoa Sài Gòn


Năm 1974 bắt đầu với trận hải chiến Hoàng Sa (19 và 20 tháng 1) như nhắc nhở chúng ta đừng quên một quần đảo, chơi vơi giữa bão táp, xa xôi nghìn dặm, nhưng bao giờ cũng là đất cuả MẸ VIỆT NAM. Hải đảo xa này ít người biết đến, mặc dù vai trò chiến lược vô cùng quan yếu trong chủ thuyết “tự do hải hành” của các cường quốc ngày nay. Do đó, mặc dù đây là đất, là nước của Việt-Nam, nhưng lại thường bị các cường quốc dòm ngó, và một vài cường quốc tranh giành. Hết Pháp rồi đến Nhật, Hoa và Mĩ đều có những phái đoàn đến tận nơi nghiên cứu.


Và bài này là bảng đúc công việc điều nghiên mà tác giả đã thực hiện trong Chương Trình Điều Nghiên Bình Địa Hỗn Hợp Việt Mĩ, cách đây vài năm. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn đề cập đến sự kiện địa lý hình thể, cũng như khả năng mưu sinh định cư…Còn các vấn đề lịch sử, các khía cạnh pháp lý, nhiêù tác giả khác đã trình bày.


Nếu thế kỉ XIX là kỉ nguyên của việc chiếm cứ và khai thác các thuộc địa, thì hậu bán thế kỉ XX là lúc mà tài nguyên thiên nhiên trên các đất nổi đã cạn nguồn . Các nhà địa lý kinh tế thế giới bắt đầu chú ý đến vùng “đất ngầm ”, nghĩa là thềm lục địa hay đáy đại dương. Nhất là sau hội nghị CARACAS về “ Luật bể ”(1974) thì khuynh hướng chung cho rằng quan niệm lãnh hải của thế kỉ XIX nay đà lỗi thời. Cha Ông chúng ta, với lòng can đảm vô biên, chí mạo hiểm vô cùng đã để lại cho con cháu ngày nay một dãy giang sơn gấm vóc gồm lãnh thổ lục địa và những quần đảo trong Đông Hải và vịnh Thái Lan. Quan niệm sai lầm thường cho rằng đây chỉ là những bãi cát bão táp không giá trị sản xuất nên chúng ta đã “thiếu tích cực” trong vấn đề định cư hoặc chiếm đóng.


Trong bài nghiên cứu này, chúng ta lần lượt xem qua các mục:


I­ Môi trường thiên nhiên


II– Kiến trúc và thổ nhưỡng


III– Khí hậu


IV– Các nguồn lợi thiên nhiên và khả năng


V- Nhân sinh hóa môi trường và hoang đảo


Quần đảo HOÀNG SA cũng như TRƯỜNG SA là một dãy đảo san hô nằm ngoài khơi Đông Hải. Hoàng sa ở về phía bắc, Trường Sa ở về phía nam. Với phương tiện kĩ thuật hiện giờ, từ Hoàng Sa người ta có thể kiểm soát tất cả vùng bể từ duyên hải Trung Việt sang đến đảo Lữ Tống của Phi Luật Tân


Bản đồ 1: Đông Hải và Hoàng Sa


Tỉ lệ: 1/13.000.000


Đầu tiên hết, chúng tôi mời quí vị đi viếng quần đảo Hoàng Sa. Từ Đà Nẵng chiến hạm nhắm hướng 083 trực chỉ. Thường thì khởi hành vào buổi chiều, sáng hôm sau là đến Hoàng Sa. Đảo đầu tiên chúng ta gặp phải trong chuyến hải hành này là Tri Tôn, đây chỉ là một cồn san hô, bên trên các bao phủ cao độ ba mét trên mực nước bể. Tri tôn là một đảo san hô nhỏ, lên bờ thật khó khăn, do đó chúng ta chỉ đi ngang qua. Ngược lên hướng bắc, nếu được cơn gió nồm thổi thì dễ dàng, nhưng nếu gặp gió mùa đông bắc từ Hoa Lục thổi về thì thật là vất vả, sóng nhồi dữ dội.


Từ Tri Tôn lên phía bắc lối 20 hải lý nữa chúng ta vượt qua vĩ tuyến 160 và sau đó khoảng 20 hải lý, chúng ta gặp bãi ngầm khám phá “ de la Découverte ”, với một xác tàu LSM của Pháp nằm ở bãi nam của ám tiêu san hô viền. Bãi ngầm này là một thế giới kì lạ đối với người chưa đi bể, vậy chúng ta cho tàu dừng lại để nhìn xem.


Đứng trên đài chỉ huy của tàu nhìn xuống mặt đầm bên trong ám tiêu san hô là một thế giới yên lặng mặc dù bên ngoài sóng vỗ từng cơn lên ám tiêu viền. Nước bạc đua nhau, theo một lạch nhỏ để vào bên trong. Tàu nhỏ có thể theo lạch này vào viếng thế giới thần tiên, vì bể lặng bên trong là thế giới của các loài hải sản nhiệt đới. Với một diện tích độ 15 hải lý bề rộng và 5 hải lý bề ngang, với nước màu xanh lá cây nhạt, khác hẳn với màu xanh cobalt bên ngoài. Tất cả những thủy tộc đã chọn nơi đây làm nơi sinh sống. Trong những ngày bể yên, gió hiu hiu thổi, với ánh nắng ban mai chênh chếch, chúng ta có thể trông suốt đến tận lòng chảo cát vàng ở đáy. Cá ở đây, phần lớn sống lâu năm nên to lớn dị thường. Có những con cá đuối bằng hai chiếc chiếu, lấp lơ dưới nước. Có những ốc tai tượng to bằng cái bàn nặng cả 700 ký, nằm dưới đáy san hô, hai mảnh vỏ màu vàng san hô bám víu. Ốc mở miệng ra chờ mồi, và vô phúc cho người nhái nào đặt chân vào giữa là nó khép lại, giữ chặt lấy mồi, không phương thoát được.


Gần bãi ngầm này có bãi ngầm Bách Qui (PASSU KEAH) cũng hình bầu dục nhưng nhỏ hơn. Trở lên tàu, nhổ neo chạy về hướng bắc, sẽ gặp nhóm NGUYỆT THIỀM.


Nếu từ phi cơ nhìn xuống chúng ta sẽ thấy quần đảo này như hai chiếc bánh (Crescent hay Croissant) đâú đầu vào nhau. Những đảo DUY MỘNG (Drummond), HỮU NHẬT (Robert hay Cam Tuyền), HOÀNG SA (Pattle), QUANG ẢNH (Money,Vĩnh Lạc) với bộ phận ám tiêu san hô, vẽ thành một vòng bầu dục tương tự như miệng hỏa sơn bao quanh một lòng chảo mà bên trong chiều sâu nhất không quá 40m. Phần lớn những đảo này thấp nên đến gần mới nom thấy được. Đến gần đảo Vĩnh Lạc chúng ta chỉ thấy như một mô đất cao lối 6m mà thôi. Đến Duncan chúng ta chỉ thấy 2 cây dừa lơ lửng giữa trời. Ở đây khi nước xuống, ám tiêu san hô chỉ còn sâu lối đầu gối, nước bên trong bể lặng rót bớt ra ngoài, người ta có thể dùng chĩa để săn cá. Nhiều nhất là cá hồng, rồi cá mú, và lươn bể. Những con lươn này đường kính to chừng 7cm, dài qua 2 mét, màu xám đốm trắng rất khỏe. Nếu bị một chĩa xuyên qua mình chúng vẫn còn đủ sức để ưỡn đầu lại cái mũi chĩa với hai hàm răng thực bén.


Trên đảo Duy Mộng có thật nhiều vít. Ban đêm chúng lên đảo đẻ trứng. Người đi săn vít chỉ cần lắng tai nghe nơi nào có tiếng thở phào phào là đến đó, lật ngữa con vít lên rồi đi tìm con khác. Vì vít bị lật lên, chỉ còn chới với 4 chân chứ không đi đâu được nữa.


Đi lên hướng Tây Bắc chúng ta đến đảo Hoàng Sa, đảo chính của nhóm Nguyệt Thiềm. Cùng một kiến trúc với những đảo kia, một vòng đai ám tiêu, bên trong là bể lặng. Thủy triều xuống thì nước trong đầm theo lạch tuôn ra bể với 1 tốc độ khá nhanh, xác của những chiếc xà lan chở phosphate bị tống lên, san hô còn nằm ngổn ngang. Quân nhân trú đóng ở Hoàng Sa sẽ mời quí vị 2 thổ sản, đó là thịt vít và khô ốc tai tượng. Thịt vít ăn như thịt gà, còn khô ốc là những gân ở 2 đầu con ốc, chính những gân này giúp cho ốc có thể khép kín 2 mảnh với nhau. Gân cắt ra đem phơi ăn rất ngon. Ngoài ra còn loại ốc nhảy, ruột rút ra trông tựa như lò xo, ăn cũng được.


Rời nhóm Nguyệt Thiềm, đi lên nhóm Tuyên-Đức, nằm gần vĩ tuyến 17. Hình ảnh đầu tiên xuất hiện trước mắt chúng ta là một vết trắng mấp mé với mặt nước xanh nhạt, trên bầu trời chim bay kín như đám mây. Đến gần chúng ta thấy chim xuôi đôi cánh dài lượn trong gió mát, đáy bể lờ mờ phản chiếu những rừng san hô. Nước trong mát, đậm đà và ánh nắng vàng xuyên qua nước chiếu dọi xuống từng hốc san hô óng ánh với những rừng rong rêu phất phơ chuyển động dưới áp lực của sóng. Giữa những diện tích san hô, vài vùng cát trắng hiện ra trắng nõn, đáy có vân như ghi lại hình ảnh của từng đợt sóng nhỏ êm đềm. Vài con hải sa trải dài những khúc màu lục xen với màu trắng, vài con hải mã như muốn tung cương…


Lên đảo, chúng ta thấy những cụm san hô già, cứng, màu đen như đá. Trong các hốc đá, phất phơ những bụi cỏ, từng đốt gắn với nhau úa vàng trong nắng gắt. Các loài chim bể thường lấy cỏ này xây tổ ấm. Đảo là thế giới của loài chim. Chim như muốn vây chặt con người, chim kêu điếc tai, chim che kín đất, chim bay kín trời. Bay lên từng đàn, đảo lượn trên không, bổ xuống mặt nước mổ cá, rồi từng đàn đáp xuống chia mồi.


Có lên đảo Phú Lâm chúng ta mới thấy được sự cô đơn của loài người trước sự ngự trị gần như áp đảo của loài chim.


Và với đảo Phú Lâm, chúng ta tạm dừng cuộc hải hành viếng Hoàng Sa, để nghiên cứu kĩ càng hơn môi trường thiên nhiên hoang đảo.


I­ MÔI TRƯỜNG THIÊN NHIÊN:


Nằm trọn vẹn giữa 2 kinh tuyến 111-113 độ Đông trong vùng vĩ tuyến 15o 45’ và 17o 05’ Bắc. Từ Đà Nẵng đi thẳng ra hướng Đông, độ 170 hải lý là gặp nhóm đảo đầu tiên. Quần đảo này rộng tổng cộng không trên 10km2 đất nỗi, nên không thể xây phi trường và căn cứ lớn được, nhưng nhờ vị trí nằm ngay trên đường hải hành Bắc Thái - Bình Dương xuống Ấn Độ Dương.


Quần đảo Hoàng Sa gồm 120 đảo nhỏ quần tụ trong 4 nhóm và vô số bãi ngầm. Đại cương, chúng ta phân chia như sau : (bản đồ 2)


1.1 Nhóm TUYÊN ĐỨC, ở về phía Bắc, gồm 16 đảo đáng kể. Trong đó quan trọng nhất về phương diện diện tích là PHÚ LÂM (Woody Island), rồi kế đến là đảo Cây, đảo Nam, đảo Trung, và đảo Bắc. Hải đồ Quốc Tế gọi nhóm này là “AMPHITRITE GROUP ”. Như đã nói, Phú Lâm là lớn nhất, bề dài 3.700m và ngang 2.800m. Trên đảo cây cối um tùm lại có vài cây dừa. Ở đây chim hải âu sinh nở từ thế kỉ này qua thế kỉ nọ và để lại 1 lớp “ guano ” (phân chim) dầy lối 5 tấc. Đây là đảo duy nhất từ xa có thể nhìn thấy được. Thời Pháp thuộc, một công ty NHẬT BẢN đã khai thác phân ở đây, còn để lại nhiều vết tích.


Những đảo nhỏ khác thì có Hòn Đá, Bàn Thạch Đảo, v.v… không cây cối, chỉ là những diện tích bé nhỏ.


1.2 Nhóm NGUYỆT THIỀM, ở về phía Tây Nam cách nhóm trước lối 20 hải lý. Nhóm này gồm các đảo: Hoàng Sa (Pattle), Hữu Nhật (Robert), (1) Quang Ảnh(Money), (2) Quang Hòa (Duncan), Duy Mộng (Drummond). Nếu từ Đà Nẵng đi ra theo hướng chính Đông chúng ta gặp nhóm này trước, và các hải đồ quốc tế gọi đây là " CRESCENT GROUP ", vì các ám tiêu san hô đã kết hợp với nhau như 1 hình bán nguyệt (bản đồ 3). Trong nhóm này đảo Hoàng Sa rộng nhất, dài hơn 900m và rộng gần 700m. Nằm trên tọa độ 111o36, 16o33. Đảo hình bầu dục, phía bắc có hải đăng và nơi trước kia là căn cứ quân sự. Gần đó trước có đài khí tượng. Diện tích chung toàn đảo bao gồm cả san hô bao bọc chung quanh là 3.5 km2 . Diện tích nhô lên khỏi mặt nước là 1.5 km2 . Trên đảo có bia chủ quyền ghi như sau: "République Francaise-Empire d'Annam-Archipel des Paracels ". Về phía Đông Bắc, có vài ngôi mộ binh sĩ thời nhà Nguyễn đã hy sinh.


Phía đông có một am thờ gọi là Đền Bà, có một pho tượng Quan-Âm đặt trên bộ đá chạm trổ tinh vi, có lẽ do các ngư phủ Việt Nam dựng lên. Khoảng năm 1938, đài khí tượng chính thức hoạt động, quan trắc thời tiết và phổ biến tin tức cho sở khí tượng khắp Đông Nam Á và được biết đến dưới danh xưng " Station d'obsevartion 838 " (3). Trong đệ nhị thế chiến, người Pháp rồi Nhật xây dựng những cơ sở phòng thủ ở đây, nên đến năm 1945 hải đảo bị phi cơ đồng minh oanh tạc. Ngày 9-3-45, Nhật cũng đảo chánh ở đây, tước khí giới trung đội lê dương, các công chức khí tượng gỡ trần nhà lấy gỗ làm bè thả trôi về tận bờ bể Qui Nhơn.(3)


[1] QUẦN ĐẢO HOÀNG SA


(vị trí những hòn đảo chính)


Ghi chú


I: Island


Trong ngoặc ( ) :


Danh xưng quen thuộc trong các bản đồ quốc tế hiện được cả người Trung Hoa và Việt Nam dùng.


Trên đảo, ngoài các căn cứ quân sự, chứng tích một thời ngoại thuộc, chúng ta còn thấy một vài giếng, một sân động nhỏ và 10 cây phi lao.


Đảo HỮU NHẬT (Robert): Phía nam Hoàng Sa độ 3 hải lý, hình bầu tròn, kính đo được lối 800 mét, có vòng đai san hô bao bên xa, giữa là vùng bể lặng. Nằm ở tọa độ 111o 35, 16o 33'40. Diện tích độ 1,5 km2 , chung quanh đảo cây cối um tùm, chính giữa là một lòng chảo không sâu lắm. Lớp thảo mộc bên dưới là tranh. Trên đảo ít cây cối, nhưng biển quanh đảo có rất nhiều rong biển, phủ kín cả mặt biển. Nơi đảo này, vì không người ở nên con vít thường lên nằm bờ và đẻ trứng từ tháng 3 đến tháng 8 Â.L. (1)


 


 


Đảo QUANG ẢNH (Money): nằm trên tọa độ 111o ,30' 16o 27' đảo Quang Ảnh do san hô tạo thành, nhô lên mặt nước độ 6m. Chung quanh đảo bờ biển có rất nhiều đá ngầm sắc nhọn rất nguy hiểm, tàu lớn không thể cặp neo được, trên đảo có nhiều bụi rậm. Các tàu lớn phải neo ở ngoài khơi muốn vào đảo phải sử dụng thuyền nhỏ. Đảo này cao nhất trong nhóm Creacent.Vì địa thế hiểm trở và trên đảo không có nước ngọt, nên ít vết chân người lui tới.


Đảo QUANG HÒA (Duncan): Nằm trên tọa độ 111o ,42' 16o ,26', cũng do san hô tạo thành.Trên đảo có nhiều bụi rậm, ít cây cối, chung quanh có bãi cát và san hô chừng dưới mặt nước san hô ra rất xa đảo. Đảo Quang Hòa gồm một đảo lớn và một đảo nhỏ nối liền bằng một dải cát.


Đảo DUY MỘNG (Drummond) : Nằm trên tọa độ 111o 44' 16o 28' cũng do san hô cấu tạo, bãi san hô ra xa đảo. Đảo nhô lên khỏi mặt nước khoảng 4m. Trên đảo có nhiều loại cây nhỏ, không có cây lớn. Giữa đảo là vùng đất lớn có thể định cư được. Đảo có một con lạch nhỏ ghe có thể vào sát bờ. Tàu có thể neo cách đảo 200m.


1.3 Nhóm LINH CÔN, nằm về phía cực đông của quần đảo. Đây cũng là lãnh thổ cực đông của nước Việt Nam, vì đảo này nằm ở kinh độ 112o 45. Các đảo thuộc nhóm này không mấy quan trọng, chỉ là những mỏm san hô nhấp nhô trên mặt bể xanh, thường [2] hay bị sóng đùa, triều đập. Hải đồ quốc tế gọi nhóm này là "LINCOLN GROUP", tên một chiếc tàu bị cạn ở đây vào đầu thế kỉ XX. Lớn nhất là đảo Linh Côn, diện tích 1,5km2


1.4 Đảo TRI TÔN : Đây là một hòn đảo đơn độc ở về phía cực nam của quần đảo. Đảo này ít người đến nhưng có rất nhiều hải sâm, san hô đủ màu, thứ già thì cứng rắn, cắt tay chân, nhưng thứ non thì mềm mại.


Tất cả những đảo trên đều quá nhỏ, không nơi nào đủ rộng để xây phi đạo được. Trước kia người Pháp có một căn cứ thủy phi cơ nhưng chỉ đáp và ẩn bên trong ám tiêu, trên những diện tích " bể lặng " (lagoon).


Ngoài những đảo trên còn vô số những mỏm san hô nhấp nhô trên mặt nước, nhiều mỏm, khi nước xuống, chỉ có một diện tích đủ cho hai người đứng mà thôi ! Và lại chìm dưới nước khi triều lên.


II.ĐỊA CHẤT VÀ THỔ NHƯỠNG :


Kết quả của những công cuộc điều tra khá sâu rộng, thực hiện bởi những ám tiêu san hô, tiêu biểu cho kiến trúc ám tiêu loại Thái Bình Dương.


2.1. Thành phần chính: gồm có :


. Một mỏm san hô, cao hay thấp, đó là thân của đảo


· Vòng đai san hô, liên tục hoặc không, bao vây đảo. Nhiều đảo có vòng đai dính xác vào đảo, nhiều nơi vòng đai bao vây ngoài xa, ngăn cách bởi một đầm nước lặng (Lagoon).


· Đầm nước lặng, môi trường của bể màu xanh lục, đáy vô số san hô ngũ sắc, với cá lượn qua rừng rong xanh. Trái với bể bên ngoài luôn luôn có sóng, trong đầm là thế giới của yên lặng, của sóng gợn lăn tăn. Đây là mặt gương phản chiếu những dừa, dương, bàn nghiêng mình trên mé nước. Đầm nước liên lạc với bên ngoài nhờ một hệ thống đường gãy đổ trong kiến trúc san hô ám tiêu. Sau đây là một vài loại đảo san hô trong quần đảo hoàng sa.


Một đảo san hô với ám tiêu hàng rào. Bản vẽ này cho chúng ta thấy rõ 3 thành phần chính :


Đảo nổi lên ở giữa


Ám tiêu hàng rào bao bên ngoài


Đầm nước lặng bên trong


Một đảo san hô với ám tiêu ven bờ. Ở đây, ám tiêu bám sát vào đảo và không có đầm nước lặn.


2.2 Điều kiện thành lập các ám tiêu san hô


Chúng ta đều biết san hô là một sinh vật nhỏ, thuộc dòng COE-LENTÉRÉS, (1) sống tập đoàn trong các vùng bể nhiệt đới. San hô có một cốt bộ chứa nhiều chất vôi và chính cốt bộ này dính cứng với nhau, trở thành những đảo san hô, những ám tiêu, những hàng rào san hô… Sau đây chúng ta nghiên cứu sự phát triển của các ám tiêu.


Một cúc biển (anémone) đẻ ra một cái trứng thật nhỏ, và trứng này từ từ rơi xuống đáy. Khi đến đáy trứng sẽ dính cứng và phát sinh ra một cúc biển con rồi con này phát triển ra nhanh chóng bằng cách tế phân, cuối cùng cho ra đời một tập đoàn dính liền với nhau. Một ám tiêu lớn dần và nổi lên. Nhưng không phải trứng nào cũng nở được vì muốn phát triển phải có một số điều kiện.


a) San hô cần ánh sáng. Trong lớp bọc có những rong xanh và rong xanh chỉ sống được khi hấp thụ ánh sáng mặt trời. Mà san hô chỉ sống khi lớp rong xanh đó sống. Do đó ở ngoài khơi nơi mà nước bể thật trong, san hô có thể phát triển ở những vùng sâu độ tối đa 120m. Những nơi nước bể kém trong, san hô chỉ phát triển ở nững nơi nào mà ánh sáng mặt trời xuống được.


b) Nhu cầu thứ hai là độ ẩm của nước. San hô chỉ phát triển trong những vùng bể có nhiệt độ từ 20o trở lên mà thôi. Bể Việt Nam từ 25o đến 28o là tối hảo.


c) San hô chỉ phát triển trên lớp đáy bằng vật liệu cứng. Nơi có bùn như các cửa sông thì không sống được.


d) Nước biển phải có độ mặn trung bình, không quá 350%, đồng thời phải có đầy đủ oxy cho san hô.


Trong trường hợp hội tụ đủ bốn điều kiện trên thì tộc đoàn san hô phát triển nhanh chóng theo 3 chiều của không gian: bề ngang, bề rộng và bề cao. Có thể trở thành một bãi san hô gần bờ, đứt quãng ở vùng cửa sông. Có thể trở thành một ám tiêu hàng rào, nằm thành băng dài hay vòng tròn bao lấy một vùng bể nước lặn bên trong. Băng này có thể liên tục, nhung thường thì hay đứt khoảng mà nhờ đó thuyền có thể vào bên trong đầm. Tập đoàn san hô còn có thể phát triển trở thành một đảo hình vành khăn, không cao cho mấy, vì sự phát triển theo chiều cao bị giới hạn.


Bản đồ 6


Băng ám tiêu rào bao lấy một vùng nước. Không có đảo san hô bên trong. Bề rộng của băng ám tiêu có thể đến 200m và thảo mộc hoặc cư dân có thể tìm nơi phát triển trên dãy hẹp này.


Cái giới hạn của sự phát triển theo chiều cao là mặt nước bể. Vì thế ra khỏi nước san hô chết. Trong trường hợp nước triều thấp, san hô bị lộ thiên một thời gian ngắn trong ngày thì thể nào cao hơn mực nước cao nhất của bể thời trước.


Trên đây chỉ là những nhận xét, còn giải thích về sự thành lập các đảo san hô là một vấn đề khác.


2.4 Giả thuyết về sự hình thành đảo san hô:


Cho đến nay mặc dù khoa địa lý học và động vật học tiến bộ khả quan, nhưng để giải thích hiện tượng hình thành đảo san hô, các lý thuyết gia vẫn chưa đồng ý với nhau. Do đó trong phần trình bày này chúng tôi lần lượt nêu lên các giả thuyết.


2.4.1 Thuyết của QUOY và GAIMARD:


Theo máy này thì ám tiêu san hô chỉ thành lập trên miệng của một hỏa sơn ngầm. Như vậy, bên dưới của mỗi ám tiêu là có một hỏa sơn. Chúng ta cũng thấy sự vô lý của thuyết này, vì như vậy sẽ có quá nhiều hỏa sơn ngầm và nhất là các hỏa sơn ấy phải ở sâu độ vừa phải để san hô có thể phát triển được. Hơn nữa, các cuộc quan trắc mới đây của Hải Quân Hoa Kì cho thấy rằng không phải nơi nào có san hô ám tiêu đều phải có hỏa sơn.


2.4.2 Thuyết "lún đáy" của DARWIN


Theo thuyết này thì chung quanh một hòn đảo vùng này có phát triển một hệ thống san hô viền. Sức nặng của san hô và sự lún quá đáy sẽ làm cho đảo từ từ chìm xuống,còn san hô thì vẫn tiếp tục phát triển thêm. Cuối cùng chúng ta có một ám tiêu viền ngoài, một đảo bên trong và một đầm nước bao quanh đảo. Trên thực tế chúng ta đã thấy ở nhiều ám tiêu có một hiện tượng nâng cao còn để những dấu vết lại. Do đó thuyết thuyết này không giải thích hết được. Hình số 7 cho thấy sự hình thành của ám tiêu theo Darwin:


2.4.3 Thuyết của MURRAY hay thuyết tác động hóa học:


Trong nước bể có nhiều phần tử treo trong nước. Các thành phần này khó mà rơi xuống tới tận đáy, vì đến một độ sâu nào đó sẽ bị khí CO2 phá hủy.như vậy những đỉnh "núi ngầm" không sâu sẽ tiếp nhận nhiều vật liệu vôi tích tụ nơi ấy khiến cho cao dần lên. Khi vượt đến tầng nước có ánh sáng mặt trời sẽ trở thành môi trường sinh sản cho san hô.


Còn về sự tạo lập của các đầm thì Murray chính giữa diện tích san hô luôn luôn chất CO2 tích tụ nhiều , và xâm thực hóa học làm cho vùng đó bị lõm xuống.


Trên thực tế, chúng ta thấy những "bề lặng" có khuynh hướng được lấp lại, thay vì đào sâu như Murray đã nói, vì nước trong đó nhiều OXY nhờ tác dụng của rong ẩn trong san hô.


Hình sau đây sẽ trình bày rõ ràng thuyết của Murray.


2.4.4 Thuyết của KREMPF:


Yếu tố quan trọng trong thuyết này là gió mùa, Krempf giải thích rằng: Lớp da của san hô dễ dính và khuynh hướng kết tụ những vật liệu lững lờ ở trong nước. Những vật liệu này rơi trên mặt trên của san hô, tập trung ở đó và giết chết lõm san hô bên dưới, khiến cho vùng chết này không phát triển thêm đươc. Nhưng các vùng chung quanh vẫn phát triển đều và tiếp tục phát triển theo chiều đứng,một ám tiêu được hình thành do sự phát triển dị biệt theo chiều cao.


Ông còn nói thêm rằng, khi san hô nổi lên thì bị sóng và gió xâm thực, những vật liệu bị cuốn rơi và bên trong để lớp san hô bên trong và giết chết đi. Tới mùa gió nghịch lại thì vùng bên kia lại bị xâm thực và vật liệu cũng rơi vào trong, theo hình sau đây:


Tất cả trên đây đều là những thuyết học, và mới giải thích chỉ ứng dụng một phần nào. Như vậy sự hình thành ám tiêu san hô chưa tìm thấy một giải thích trọn vẹn và vẫn là một bí mật mà khoa học đang tìm hiểu rõ hơn.


Nhưng cái quan trọng thực tiễn là những gì xảy ra sau khi đảo san hô hình thành? Sự biến thể của đất đai ra sao? Đó là những gì mà chúng ta đều nghiên cứu trong mục thổ-nhưỡng học.


2.5 Thổ nhưỡng:


Sự biến thể của của đá vôi san hô là điều quan trọng mà chúng ta cần để ý đến. San hô sau khi chết trở thành chất carbonate canxi(CaCO3). Trước tác dụng của các yếu tố xâm thực từ bên ngoài, Carbonate canxi biến dạng. Nhất là từ sự tác dụng đặc biệt của phân chim.những loài chim bể (Hải âu,v..v..)có thức ăn hằng ngày gồm hải sản nên phân có nhiều chất acide phosphorique.


Chất này tác dụng lên vôi biến thành phosphate song hành với sự bay ra của CO2. Trên môi trường phosphate giàu này, thảo mộc có cơ hội phát triển. Theo những bản phúc trình về tài nguyên này thì có khối dự trữ phosphate ở Hoàng Sa lên hơn 4 triệu tấn, nghĩa là nhu cầu của VNCH trong vòng 25 năm.


Tóm lại chất phosphate phủ trùm phần lớn diện tích của quần đảo Hoàng Sa, nhưng không phải vì vậy mà vắng bóng các loại thổ nhưỡng khác, ví dụ như cát.Cát được gió mùa mang lên từ khoảng lộ triều và tụ thành những đụn nho nhỏ ở vài nơi ngay hướng gió .Cát ở đây không thuần tính như những diện tích bạch sa ở Thừa Thiên, trái lại đây là một loài "Resgosol phosphate" cho nên cây rừng vẫn có thể mọc ra đến mé nước nếu con người không đốn. (Các gốc còn lại cho ta thấy rõ điều này). Rồi nhờ chất mùn do sự mục nát của rễ cây, lá cây thì cát vàng trở màu hơi sậm. Nhờ vùng Régesol thuần hóa này mà giai tầng thảo mộc thấp ngày càng sum suê hơn.


III.-KHÍ HẬU VÙNG HOÀNG SA:


3.1 Yếu tố: Từ năm 1938, một đài khí tượng vô tuyến điện báo hoạt động ở đây, cung cấp tin tức về gió, bão cho các quốc gia vùng Đông Nam Á. Đài này được biết dưới chỉ danh "Station d'Obervation 836". Nhờ đó mà chúng ta có vài tài liệu liên quan đến khí hậu ở đây.


Đầu tiên là nhiệt độ, rồi đến vũ lượng và hướng gió chính. Lẽ dĩ nhiên chúng ta cũng không được quên vấn đề bão ở đây.


Về nhiệt độ, vì ở giữa đại dương nên mùa đông không lạnh bằng Đà Nẵng. Tháng giêng ở Đà Nẵng trung bình 21o, thì ở đây là 23o. Tháng nóng nhất (tháng 7) ở Đà nẵng độ 29o thì ở đây nhờ gió nên mát hơn đôi chút. Chúng ta thấy quần đảo Hoàng Sa không có mùa lạnh, khí hậu dịu mát nhờ ảnh hưởng của đại dương.


Về vũ lượng thì tổng số mưa trong năm lối 1170mm. Đây là con số trung bình vũ lượng của những năm quan trắc 1939-1943, 1948-1962. Mưa ở đây ít hơn ở Huế (3000mm) rải đều từ tháng 6 cho đến tháng 2. Trung bình trong năm có 112 ngày mưa. Ẩm độ cao nhất vào những tháng 6-7-8-9-10-11. Sau đây là những sự kiện khí hậu ở Hoàng Sa:


Tháng Giêng Hai Ba Tư Năm Sáu Bảy Tám Chín Mười M.Một M.Hai


TB nhiệt 23.5 24 26.2 27.7 29.2 29.1 28.9 28.7 8.1 27.1 25.8 21.4


TB ẩm độ 82.1 83.7 83.8 83.5 83.9 84.8 84.2 83.7 84.4 83.8 83.7 81.5


TB vũ lượng 21 17 21 60 73 128 93 141 197 228 143 47


Số ngày mưa 8 5 3 5 8 8 7 9 15 17 14 13


(Trích khí hậu VN-nhà Giám đốc Khí Tượng 1964).


Sau đây là lược đồ khí hậu Hoàng Sa:


Hàng năm vào mùa hè, chúng ta thường hay nghe đài phát thanh báo động bão tập trung ở Hoàng Sa hay ngoài khơi Phi-Luật-Tân gần Hoàng Sa. Chúng ta cũng nên biết về hiện tượng này.


Bão nhiệt đới thường tập trung trong vùng biển cả, giữa 2 chí tuyến Bắc và Nam. Tuy nhiên không bao giờ tập trung ở ngay xích đạo, nhưng xa xích đạo ít ra 4 đến 5o. Như vậy Trường Sa và Hoàng Sa của VN là nơi tập trung lý tưởng. Bão là một vùng gió cuốn, tốc độ tăng dần từ ngoài vào trung tâm, và khí áp lại giảm từ trung tâm này di chuyển trên một quĩ đạo hình parabole, thường thì đi từ vùng bể Hoàng Sa, hay Phi Luật Tâm vào bờ bể Trung Việt, theo hướng Tây hoặc Tây Bắc. Trong những bão lớn, vùng gió cuốn thường lên cao từ mặt đất đến 6000m. Trong khối không khí hình trụ đó đối lưu rất mạnh, do đó có mưa to. Tuy nhiên ở ngay trung tâm bão (mắt của bão) thì chỉ lặng gió và quang đãng. Trong vùng này (thường có đường kính lối 10 km) thì có luồng không khí từ cao xuống thấp nên nhiệt độ tăng.


Một tác dụng của bão trên Đông Hải là gây nên một làn sóng cao và dài di chuyển nhanh và xuất hiện trước trung tâm bão. Các ngư phủ bờ bể Trung Việt có thể nhờ thấy làn sóng này mà biết trước bão sẽ đến. Làn sóng này có thể gây ra một " hải trào bạo phong ", dâng mực nước lên cao đánh ập vào bờ. Nguyên nhân làm phát sinh làn sóng này là vì khí áp thấp, gió hội tụ mạnh nên mực nước vàng " mắt của bão " lên cao, rồi ba động tiến trước mắt của bão.


 


Khi bão phát xuất từ đảo Lữ Tống đi ngang Hoàng Sa thì binh sĩ lúc trước đóng lên đảo thấy các triệu chứng sau đây: trời oi, khí áp xuống nhanh. Trên bầu trời xuất hiện mây cao bay nhanh như bó lông (cirrus punaches). Vài giờ sau bầu trời bị che phủ bởi một lớp mây rất mỏng (cirro stratus), mặt trời chung quanh có quầng,rồi dần dần bầu trời trắng nhạt. Sau đó đến lượt những mây thấp có hình vẩy cá (cirro cumulus). Rồi đến một lớp mây đen, dày cao khoảng 3000m (altostratus), tất cả trở nên đen, u ám, mưa bắt đầu rơi, gió thổi, khí áp xuống nhanh. Trần mây thấp dần xuống (100m hay 50m), mây bay nhanh, gió thổi mạnh từng cơn, bão đã tới…


Khi sấm sét đã xuất hiện thì coi như cơn bão đã qua. Mùa gió bão ở Hoàng Sa thường xảy ra từ tháng 6 đến tháng 8. Cường độ có thể lối 50 phút đến 90 phút. Nhưng các tháng từ 9 đến tháng 1 năm sau vẫn có thể xảy ra bão như thường. Còn mùa khô tương đối kéo dài từ tháng 1 đến tháng 5.


 


3.2 Thảo Mộc


Sau khi nói qua về môi trường khí hậu, chúng ta cũng nên biết đến sinh cảnh thực vật ở đây.


Điều chúng ta cần nói trước, là sinh cảnh bây giờ không phải là hình thái lúc đầu của lớp áo cây rừng nguyên thủy. Vì trong khi quan sát nơi đây chúng tôi đã từng thấy những vùng rừng lâm mật rất sít nhung đã bị loài người phá hủy chỉ còn lại những gốc cây. Con người đã sử dụng một cách bừa bãi cây rừng như nhiên liệu hàng ngày nên dần dần cây cối không còn mấy. Những cây còn lại cũng có thể cho chúng ta kết luận rằng các họ cây giống như những vùng duyên hải lân cận. nghĩa là hoàn toàn thuộc sinh môi Đông Hải. Một số ít dã được người xưa trồng, một số lớn là những hạt trôi theo dòng nước và cuối cùng bắt rễ ở đây.


Thường thấy nhất là cây dừa và phi lao. Dừa hợp với môi trường lộng gió này nên thân cây phát triển tối đa, ngả mình ra mé nước như nô đùa với sóng bạc.


Kế đó là Bàng bể (Sea Almond), tên la tinh là terminalia catappa, cây to thường cỡ 5-7m, có vài cây cao 10m. Nhánh mọc ngang thành tầng, thân cây u nần, lá to trở đỏ khi khô. Quả nhân cứng, chín màu vàng, nạt chua, hột có dầu, nướng chín đập ra ăn rất béo. Mỗi gốc cây bàng là cả một bài thơ, gốc u nần tựa như những mấu chốt của lịch sử. Buổi chiều khi gió thổi, lá to và đỏ tách rời khỏi cành rơi rải trên cát, từ thế hệ này sang thế hệ nọ phủ lấp hết chân cây. Buổi sáng mùi lá mục bên dưới bay lên ngây ngất. To như cây bàng thì có mù u, tên la tinh là Calophyllum Inophyllum L. Đại mộc to lối 5-7m, lá xanh đậm, dài lối 2 tấc có nhiều gân phụ sít nhau màu nhạt hơn màu lá. Hoa trắng có 4 cánh có nhiều tiểu nhụy vàng rất quyến rũ các loài bướm đốm. Ở môi trường hoang đảo, hoa mù u nở nhắc ta nhớ đến hoa mai vùng đất liền. Trái mù u cứng, tròn, thịt bên ngoài màu vàng, khi khô nhăn lại màu xám xịt. Người ta có thể lấy hạt ép dầu thắp đèn. Vỏ cây tiết ra mủ vàng, nghe nói có thể trị bệnh ghẻ. Thường thấy nữa là cây còng, cao lối 4-5m, tàn lá rất đặt biệt, lá nhỏ không mấy rậm rạp. Thân cây nứt nẻ như những đường gân. Ngoài ra còn có cây nhào và sồi sim, tên la tinh là Quercus Myrsinifolia Blum. Cây này chỉ xuất hiện ở vài đảo. Đây là một đại mộc to, cao 13-15m, nhánh non không lồng, lá thon màu mốc ở bên dưới và xám lại lúc khô.


Dưới thấp có những hội đoàn thảo mộc thích ứng với môi trường cát hay cát pha phosphate như:


§ Họ bìm bìm (convolulaceae): gồm ipomea bilola (l.) và ipomea littoralis (l).


§ Họ hòa bản: như cỏ chông (spinifex littereus), cỏ còng còng (zoysia matrella), cỏ xạ tử (sporobolus virginicus).


§ Và nhiều nhất là cỏ cú mà dân đánh cá ghé đây thường đào củ nhỏ về làm thuốc bắc.


Trên những nơi có cát nhiều hay thấy một vài cây phi lao, nhưng không mấy phát triển bằng phi lao duyên hải trung việt. Tầng dưới lại có dứa gai (họ pandanaceac).


Trên đây là vài nét diễn tả một cách trung thực các hội đoàn thảo mộc hiện giờ còn thấy ở quần đảo hoàng sa. Điều cần nhấn mạnh là các hội đoàn thảo mộc không phải là cánh rừng nguyên thủy ở đây. Những gốc cây to đang mục rữa cho ta một phần nào ý niệm về sự tàn phá của con người. Ví dụ như trên đảo Cam Tuyền, chính công nhân làm việc cho công ty khai thác phốt-phát của nhật đã phải trách nhiệm trong việc biến đảo xanh tươi mát mẻ này trở thành vùng khô cháy vì thiếu bóng cây như hiện nay.


Loài thảo mộc được ngư dân ưa thich nhất là nam-sâm (1) rất quí vì có dược liệu. Ngoài ra đất đai ở đây còn thích hợp với một vài loại cây ăn trái như mãng cầu hay nhãn. Một vài loại hoa màu phụ hay rau cải có thể thành công được nếu được trồng vào đầu mùa mưa và lấy phân xanh của các đầm đắp lên gốc. Nếu định cư có tổ chưc nên gầy rừng dương liễu cản gió và cung cấp củi khô (Casuarina equise tyfolia).


3.3 Sinh Vật:


Chung quanh các đảo có vô số cá. Nhưng vấn đề khó khăn là đáy biển đầy san hô nên lưới giả cào đều rách. Vấn đề thật nan giải. Động vật nhiều nhất ở đây là chim bể, nhất là hàng trăm ngàn chim hải âu. Chim về đây đẻ trứng to như trứng vít, vỏ mỏng, màu ngà có điểm đen, tuy nhiên có mùi tanh.


Động vật thường thấy nữa là con vít, giống như con rùa, ban đêm bò lên đụn cát đẻ trứng. Những sinh vật này là nguồn cung cấp thực phẩm tươi cho cư dân, nếu có. Hồi thời pháp thuộc, hàng năm người hải nam đến đây xin bắt vít rồi đem về xứ bán vít còn sống.


(1) Nam Sâm tên la tinh "BOERHAAVIA REPEUS" là một loài cỏ phần dưới trườn trên đất, ngọn cất đầu lên. Lá có mấy miến xoan tròn dài. Chùm mang tụ tán 3 hoa.


IV-TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ KHẢ NĂNG NHÂN SINH HÓA MÔT TRƯỜNG QUANH ĐẢO


Như đã trình bày ở trên nguồn lợi to nhất ở đây là phân chim. Theo tài liệu của nha khoáng chất (bộ kinh tế) thì số dự trữ phosphate như sau:


§ Trên đảo hoàng sa, có từ 560.000-1.000.000 tấn.


§ Trên đảo hữu nhật có lối 1.400.000 tấn


§ Trên đảo quang ảnh, có từ 700 đến 1.200.000 tấn


§ Trên đảo duy mộng có từ 600.000 đến 1.000.000 tấn


Nghĩa là dư dùng cho nhu cầu VNCH trong vòng 25 năm. Trước thế chiến có nhiều công ty nhật khai thác tài nguyên này.


Nam sâm, lá phủ mặt đất, củ ở bên dưới, tuy không tốt cho bằng âm cao ly, nhưng vẫn có thể sử dụng được. Rất tiếc là chưa có ai đầu tư cung cấp dược liệu này.


Chung quanh đảo còn có nhiều loại rong bể. Một vài loại có thể sử dụng như phân xanh bón cây, một số khác có thể khai thác như rau câu, một dược liệu mà cũng là món ăn dân tộc hàng ngày của một số dân tộc Đông Nam Á. Nguồn lợi này có thể đưa đến hình thức xuất cảng được. Có hải tảo mệnh danh là "EUCHEHA" dùng làm nguyên liệu cho kĩ nghệ sản xuất mỹ phẩm (kem thoa mặt).


Vấn đề quan trọng được nêu ra là nhóm quần đảo này có khả năng tiếp nhận dân cư hay không ? Đó là vấn đề mà chúng tôi đã từng nghiên cứu.


Trong tập điều nghiên cho CICV chúng tôi đã khẳng định rằng, yếu tố giới hạn sự định cư ở đây là sự thiếu nước và mễ cốc. Thực ra tuy 2 vần đề nhưng chỉ là một, vì thiếu nước cho canh tác, thiếu nước cho dân dùng trong mùa khô. Giải quyết vấn đề nước là giải quyết vấ đề định cư giới hạn.


Thực ra nếu canh tác thành công trong màu mưa thì lại thiếu nước tưới trong mùa khô. Nhưng ngày trong mùa mưa, các yếu tố bất thường cũng giới hạn thu hoạch, ví dụ như: bão, sóng thần, v.v…Hệ thống giếng ở đây còn thô sơ không đủ nước cho nhu cầu vào tháng thứ 3 của mùa khô. Thêm vào đó nước không ngọt hoàn toàn vào mùa khô, mà lờ lợ. Do đó trong bảng điều nghiên chúng tôi đã đề nghị xây một hệ thống trữ nước ngầm, tránh bốc hơi, đủ cho một nhu cầu tương đối đầy đủ.


Hệ thống bồn ngầm trữ nước mưa mà chúng tôi xin trình bày sau đây rất phức tạp ở vùng u minh, nơi mà nước mặn thâm nhập thường xuyên. Cư dân ở đây sử dụng các gò nổi hay sân chim làm hồ trữ nước.


Đầu tiên chúng ta đào một số bồn trữ nước nơi thấp nhất của một địa diện nghiên. Đáy bồn gồm những bậc như bậc thang để dễ dàng cho sự lắng tụ chất cặn (xin xem hình). Phần chính yếu nhất là diện tích thu nước, chúng ta phải hy sinh một diện tich quan trọng đất cao, nên đầm cho nghiêng về phía bồn trữ rồi tráng xi măng nếu có thể. Diện tích càng lớn rộng, nước thu được càng nhiều. Để tránh trầm thổ và bốc hơi, đáy bồn cũng như bên trên đều lát xi măng hay đổ dalle.


Nước chảy đùa vào bồn theo độ nghiêng của các địa thế đã dọn và theo đường. Mưa càng rơi, mục nước càng lên cao vượt qua con lươn để đổ vào hồ 2, nơi đó nước tương đương trong. Khi lấy nước người ta chỉ cần gỡ nắp dalle ở hồ này.


Nếu tính trung bình, mỗi người ngày sử dụng 401 lít nước ngọt (ăn, uống, tắm, v.v…) và nếu định cư ở mỗi đảo độ 5 gia đình hay một trung đội 30 người, thì nhu cầu hàng ngày là 1,3m nước. Nếu tính thêm nhu cầu cho rau cải thì phải thêm 1,8m khối nữa. Như vậy hàng ngày sử dụng hết 3,1m khối. Sự nghiên cứu thủy học, khí hậu và địa thủy cho thấy trong năm chỉ có 2 tháng giêng thường bị cạn nước . Trong 2 tháng cuối mùa khô này thì giếng chỉ cung cấp độ 30lít nước/ ngày mà thôi. Như vậy trong 2 tháng cuối mùa khô chúng ta chỉ cần một khối lượng nước như sau :


1m3 x 3,1 x 30 x 2 = 186m3


Như vậy ở mỗi đảo chỉ cần độ 5 bồn trữ nước cỡ 40m khối là đủ.


Tổng kết:


Chúng ta vừa nhìn khái quát về quần đảo Hoàng Sa, một vùng đất vẫn luôn luôn là của dân Việt. Các hải đảo này diện tích nhỏ hẹp, không có nơi trú ẩn cho thuyền bè, đất đai khai thác khó khăn, vấn đề nước ngọt trở ngại vô cùng. Nhưng các khó khăn ấy có thể khắc phục bằng sức người, phá lạch, xây đê cho tàu lui tới dễ dàng, gia tăng mối liên lạc giữa hải đảo và đất liền, tích cực hơn nữa trong việc khai thác những phosphate, nhờ đó mà củng cố chủ quyền của chúng ta. Tuy rằng vấn đề ngày nay không còn thời gian tính nữa vì Trung Quốc đã chiếm cứ, nhưng chúng ta cũng cần xét rõ thực chất của vấn đề như thế nào ?


Xin thưa ngay, cuộc cưỡng chiếm Hoàng Sa lồng trong khung cảnh của cuộc tranh chấp Nga - Hoa. Sách lược cổ truyền của Trung Quốc là xem Đông hải như của mình. Sách lược nghìn đời của Nga là tìm đường ra biển cả. Ngày nay Nga còn đang đi về Ấn Độ Dương, nơi Nga có vài căn cứ tàu ngầm. Hạm đội đông phương căn cứ ở hải sâm uy muốn ra Ấn Độ Dương phải mượn đường nước đông hải, và giữa đường thì gặp… Hoàng Sa. Thực ra ý kiến lập căn cứ tàu ngầm ở vùng này không có gì mới lạ, vì người Nhật và người Pháp đều có nghĩ đến lúc đệ II thế chiến. Hoàng Sa không quan trọng với một quốc gia có hải quân mạnh, đang làm bá chủ mặt bể như Hoa Kì chẳng hạn, nhưng cứ điểm này lại quan yếu với một lực lượng hải quân trung bình, muốn đem sách lược du kích chiến áp dụng trên mặt đại dương.


(1) Đảo Hữu Nhật: Danh xưng hòn đảo có tên quốc tế là Robert, một số tài liệu có tên quốc tế là Cam Tuyền. Theo lời một số dân địa phương vùng Quãng Ngãi thì họ vẫn gọi là Hữu Nhật. Tra cứu sử sách, ta thấy có lẽ do tên phạm Hữu Nhật mà người Việt Nam đã đặt tên đảo để kỉ niệm viên suất đội thủy quân vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) đã được triều đình Việt Nam sai đem binh thuyền đi ra Hoàng Sa trông nom việc đo đạc vẽ thành bản đồ vùng đảo này. Cf. Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ II kỷ, quyển 165.


(2) Đảo Quang Ảnh: Danh xưng hòn đảo có tên quốc tế là Money trên các bản đồ Âu Mỹ. Người Tàu gọi là Vĩnh Lạc. Có lẽ cũng do tên Phạm Quang Ảnh mà người Việt Nam đã đặt tên đảo để kỉ niệm người chỉ huy đội Hoàng Sa được vua Gia Long cử đi thăm dò đường biển tới Hoàng Sa vào năm 1815. Cf. Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ I kỷ, quyển 60.


(3) Theo ông Trần Văn Mạnh, trưởng ty khí tượng Tuy Hòa trong bức thư ông gửi cho tổng thống VNCH, để cung cấp tài liệu về chủ quyền của 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa


(1) Các đảo Quang Ảnh (Money), Quang Hòa, Duy Mộng đã đi vào lịch sử khi các toán biệt hải của ta đuổi quân Trung Cộng (17-01-74), nhưng trong các ngày sau Hải Lục Không Quân Trung Cộng uy hiếp nặng và chiếm cứ cả quần đảo. Trên đảo hữu Nhật chúng ta có một bia chủ quyền ghi ngày 5-12-63 của TQLC, và một miếu nhỏ có ghi ngày 24-11-63


 


Sơn Hồng Đức


Nguồn: Tập san SỬ ĐịA số 29. http://nguyenxuandien.blogspot.com/2010/03/hoang-sa-mua-nang-nao.html

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những điều nên biết về Chiến tranh thế giới II - Nhiều tác giả 22.06.2017
Ngày 22/06/1944: F.D. Roosevelt ký Đạo luật G.I. - Tư liệu sưu tầm 22.06.2017
Stonehenge - Bãi đá cổ ở Anh Quốc - Tư liệu 20.06.2017
Tam cương, Ngũ thường - Tư liệu sưu tầm 20.06.2017
Ông Vũ Khoan viết về cố Thứ trưởng Trần Quang Cơ - Vũ Khoan 20.06.2017
Thời kỳ vàng son mới của Ba Lan - Gunter Verheugen 20.06.2017
Tập Cận Bình muốn gì? - Graham Allison 20.06.2017
Helmut Kohl viết về sự kiện sụp đổ Bức tường Berlin - Helmut Kohl 19.06.2017
Đặng Tiểu Bình giúp tạo nên một Trung Quốc tham nhũng như thế nào? - Tư liệu 18.06.2017
Con ác quỷ IS và số phận của Assad - Nhiều tác giả 16.06.2017
xem thêm »