tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21070781
22.03.2011
Nguyễn Hồng Lam
Truyện ký Người của giang hồ (1): Sơn Vương


Đề từ về một thế giới của tội ác và sự hỗn loạn


Bạn đọc thân mến!


Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu có bạn đọc nào đó đón nhận cuốn sách này - không như mong muốn của tác giả - với một thái độ thờ ơ, thậm chí là xa lánh. Cũng phải thôi, đa phần độc giả đều là những người lương thiện - như tôi, như bạn - khó có thể bắt họ phải cảm thấy “say mê” khi mà suốt hàng trăm trang sách, những khuôn mặt hiện ra đều là biểu tượng của cái ác, sự điên rồ, liều lĩnh, những hành động được mô tả đều là tội lỗi, gắn liền với những chết chóc, thù hằn và được thể hiện bằng những cuộc tranh giành, đâm chém, thanh trừng lẫn nhau một cách tàn bạo. Tuy nhiên, đó là điều không thể tránh khỏi chứ hoàn toàn không phải là mục đích của tác giả khi đặt bút viết cuốn sách này.


Loài người, trong đó có xã hội mà chúng ta đang sống, tiến dần về phía tương lai văn minh và phát triển với niềm tin “nhân chi sơ tính bản thiện” thì đồng thời loài người cũng phải oằn lưng gánh trĩu và luôn phập phù, cảnh giác với dục vọng “nhân chi sơ tính bản ác”, cố nhiên, cũng nảy sinh trong một bộ phận khác của đời sống xã hội. Cho dù chúng ta ghê sợ, xa lánh và luôn tìm cách chống lại thì cũng phải thừa nhận: cái ác luôn tồn tại, loại trừ hay chối bỏ nó hoàn toàn chỉ là một ước mơ đẹp đẽ nhưng hết sức ngây thơ. Để phấn đấu cho điều đó, không còn cách nào khác, việc đầu tiên là phải nhận diện được cái ác, hiểu về nó một cách tường tận và không ảo tưởng.


Thoạt kỳ thủy, hai tiếng “giang hồ” được dùng để định danh một lớp người phiêu bạt, lấy việc hành hiệp trượng nghĩa, giúp kẻ yếu người cô giành lại sự công bằng làm mục đích; lấy phô diễn tài năng, hơn thua cao thấp - chủ yếu về sức mạnh võ nghệ - làm niềm vui... Với ý nghĩa đó, “giang hồ” được nhìn nhận như một lối sống, một loại tính cách, đẹp và mã thượng. Tuy nhiên, cái đẹp ấy chỉ còn tồn tại trong sách kiếm hiệp đa phần là hư cấu. Theo thời gian, hai tiếng “giang hồ” đã biến chất, tha hóa hẳn. Đến nay, nó chỉ còn lại như một khái niệm về tội lỗi và cái ác, “giang hồ” được hiểu như từ định danh về một thế giới gồm toàn những kẻ sống ngoài vòng pháp luật, kết bè kết đảng và thủ lợi bằng con đường phạm pháp.


Nhưng, việc phân tích các khái niệm không phải là trách nhiệm của chúng tôi. Đó là công việc của các nhà xã hội học. Với cuốn sách này, chúng tôi chỉ muốn khắc họa lại một cách chính xác những khuôn mặt cộm cán nhất của giang hồ miền Nam trong thế kỷ XX. Để bạn đọc tiện theo dõi và nhận diện rõ nét quá trình tha hóa của thế giới giang hồ, những khuôn mặt trong sách được sắp đặt theo đúng trình tự thời gian mà họ sống. Bắt đầu từ Sơn Vương Trương Văn Thoại từ những năm 1930, “người của giang hồ” dù sao vẫn còn giữ được những nét mã thượng, mục đích giang hồ còn đôi chút hướng thượng và trọng nghĩa, ít nhiều vẫn phảng phất đôi nét Từ Hải, Robin Hood - người của tự do. Trượt dài đến “thời hai tay ba đao” của những năm 60-70, “giang hồ” đã hoàn toàn biến chất, trở thành một thế giới ngự trị đầy rẫy những cái ác, ác từ suy nghĩ đến hành động, với những Đại Cathay, Sơn Đảo, Lâm Chín ngón, Điền Khắc Kim, Năm Vĩnh v.v... Từ xuất phát điểm là bạn của dân nghèo, giang hồ đã trở thành tai họa, nỗi ám ảnh đầy đe dọa của lương dân. Yếu tố vụ lợi đã làm tha hóa toàn bộ bản chất của một lớp người. Đến những Năm Cam, Hải “bánh”... cuối thế kỷ XX thì giang hồ đích thị chỉ còn lại những bộ mặt quỷ dữ. Đó là tập hợp những tên tội phạm, những kẻ đâm thuê chém mướn. Dù vậy, giới giang hồ vẫn có những đặc trưng riêng, luật lệ riêng. Khi nói đến giang hồ là nói đến những tên tội phạm - điều đó đúng, nhưng một tên cướp giật, một tên tội phạm móc túi, trộm vặt mà gọi là giang hồ thì chắc chắn là sai.


Cho dù qua mỗi thời kỳ, giới giang hồ mang một đặc điểm hoàn toàn khác nhau thì thế giới ấy vẫn chưa bao giờ biến mất hay đứt đoạn. Sơn Đảo của thời hỗn loạn thập niên 60-70 từng gặp gỡ, bái phục và là một bản sao không hoàn chỉnh của Sơn Vương - rất ngạo thế khinh đời thập niên 1930; Năm Cam, Hải “bánh” hung thần cuối thế kỷ chỉ là một  thứ “âm binh mất ma” học nghề từ những dân chơi trước giải phóng như Đại Cathay, Sơn Đảo và từng cạnh tranh với những đàn em của tên hung thần lề phố này như Huỳnh Tỳ, Lâm Chín ngón... Theo nghĩa đó, cái ác là một khối u ác tính di căn trong đời sống xã hội.


Nếu đầy đủ hơn khi nói về thế giới giang hồ, lẽ ra cuốn sách của chúng tôi phải thêm vào tối thiểu ba nhân vật nữa, đó là “cọp rừng Sác” Lê Văn Viễn những năm 40-60; là “Vua hắc đạo” Tín Mã Nàm những năm 60-70 và Năm Cam, trùm “xã hội đen” cuối thế kỷ.


Bảy Viễn không chỉ là một giang hồ nổi tiếng, ông ta còn là một nhân vật khuấy nên một phần lịch sử, từng tham gia kháng chiến chống Pháp rồi trở mặt đầu Tây, trở thành Thiếu tướng trong quân đội Liên hiệp Pháp, được Bảo Đại giao trách nhiệm cai quản an ninh toàn bộ khu vực Sài Gòn - Gia Định. Đã có không ít cuốn sách viết về nhân vật có tính cách phức tạp và cuộc đời sôi động, đầy bi kịch này. Dưới ngòi bút của nhà văn Nguyên Hùng, Bảy Viễn đã hai lần trở thành nhân vật trung tâm và là chất liệu để tác giả dựng nên hai cuốn sách dày cộm là “Người Bình Xuyên” và “Bảy Viễn - Thủ lĩnh Bình Xuyên”. Nếu không gọi là toàn bộ thì dưới ngòi bút chi tiết của nhà văn Nguyên Hùng, chân dung Lê Văn Viễn cũng đã hiện ra quá đầy đủ. Có viết lại, tư liệu của chúng tôi cũng không thể hơn, chỉ tổ mang tiếng “múa rìu qua mắt thợ”, trong khi xào nấu lại tư liệu lại là điều mà lòng tự trọng của người cầm bút không cho phép.


Ngược lại, với Tín Mã Nàm, trở ngại mà chúng tôi vấp phải là chưa thể thu thập đủ thông tin. Tên thật là Trần Hà Tư, đẳng cấp giang hồ là một Thầu Dậu (đầu gà), nổi tiếng với biệt danh Tín Mã Nàm (con ngựa điên), nhân vật này đã làm mưa làm gió suốt hai thập niên 60-70, thống lĩnh toàn bộ giới tội phạm người Hoa khu vực Chợ Lớn. Có nhiều thông tin cho rằng Tín Mã Nàm chính là kẻ giữ vai trò Hồng Trượng (tức cây gậy đỏ), kẻ đứng thứ hai, vai vế chỉ thua Hoàng Long (Rồng vàng), nắm toàn quyền chỉ huy an ninh trong tổ chức tội phạm Tam Hoàng Hội chi nhánh Sài Gòn - Chợ Lớn, quyền lực đen và mức độ tàn bạo của tên giang hồ này lớn hơn rất nhiều so với tầm hình dung của một người lương thiện. Thế nhưng dù đã gặp được một số người thân quen của hắn thì với đặc tính kín đáo cố hữu của người Hoa, chúng tôi vẫn không thể thu thập được gì chính xác hơn ngoài những câu chuyện truyền miệng đậm chất giai thoại, khó có thể tùy tiện gọi đó là sự thật. Vì thế, dù rất tiếc, một chân dung đầy đủ về nhân vật Tín Mã Nàm vẫn cứ là món nợ mà chúng tôi đành khất lại cùng bạn đọc.


Nhân vật thứ ba, Năm Cam, nếu xét về ảnh hưởng xấu thì thừa đủ để có thể cho vào sách. Tư liệu về y lại càng không thiếu khi đã có hàng ngàn trang báo phô bày trong suốt 2 năm đầu của thế kỷ XXI. Thế nhưng, trong mắt chúng tôi, Năm Cam dù là một tên tội phạm sừng sỏ, dù đầy tội ác nhưng vẫn không đáng được gọi là giang hồ. Điều duy nhất mà Năm Cam làm được, hơn đứt nhiều tên tội phạm khác, là đã mua chuộc được một bộ phận thoái hóa trong bộ máy công quyền ở nhiều cấp. Với thế mạnh này, từ một tên gá bạc nhãi ranh, Năm Cam đã ngoi dần lên trên từng nấc thang của quyền lực tội ác. Thế nhưng, trước sau Năm Cam vẫn bị giới giang hồ xem như một trùm xã hội đen sừng sỏ chứ không hề là một giang hồ có số. Lý do đơn giản, trên con đường ngoi lên, Năm Cam thiếu hẳn ba tiêu chuẩn: bản lĩnh cá nhân, cách chơi đúng luật (đen) và ân uy với đàn em... Xét về cấu trúc, trong giang hồ chỉ có quan hệ đàn anh - đàn em (được phân ngôi tùy theo đẳng cấp, trình độ, bản lĩnh chứ không theo tuổi tác), tuyệt nhiên không có quan hệ chủ - tớ. Với tham vọng biến thành “vua”, Năm Cam đã biến tất cả những kẻ dưới trướng thành đầy tớ khiến chúng chỉ sợ mà phục tùng chứ không nể trọng. Vì thế, Năm Cam chỉ đáng được xem như một tên trùm tội phạm kiểu xã hội đen mà không đáng được coi là “người của giang hồ”.


Ngoài ra, còn một loạt “tên tuổi lớn” khác của giang hồ mà chúng tôi chưa có dịp đề cập, hầu hết đều xuất thân từ Trung Hoa đại lục. Họ là những người có công lớn trong tiến trình hoằng duơng võ học có nguồn gốc Thiếu Lâm vào Việt Nam. Đó là Lương Vũ Tế, tức Nguyên Tế Công Đại sư, ông tổ của Vịnh Xuân quyền Việt Nam; là Trương Tòng Phú, hậu duệ đích tôn 16 đời của Thái cực Võ Đang Trương Tam Phong, Chưởng môn phái Võ Đang tại Chợ Lớn; là Đoàn Tâm ảnh vốn là một áp tiêu lừng danh trên đoạn đường từ núi Côn Luân (Trung Quốc) đến Hồng Kông, sau qua Việt Nam “phong kiếm qui ẩn” trở thành Đại lão võ sư Đoàn Tâm ảnh, Chưởng môn phái Thiếu Lâm Côn Luân (Thủ Đức); là Hạng Văn Giai, nguyên là thiếu tướng, Quân đoàn phó Quân đoàn Vân Nam ly khai của Quốc dân Đảng sau biến cố 1.10.1949, theo nhiều người trước ông từng là Biệt đội trưởng Biệt đội ám sát của Tưởng Giới Thạch, một trong những “tác giả kịch bản” của vụ ám sát Uông Tinh Vệ tại Hà Nội  nổi tiếng thập niên 1930...


Cuộc đời họ đầy sóng gió và bi kịch hẳn sẽ có sức hấp dẫn lớn đối với bạn đọc. Song, ghép chung chân dung họ với chân dung những tên “giang hồ tội phạm” tầm thường e là điều bất nhã và bất kính. Chúng tôi đành phải gác lại và hẹn bạn đọc ở một cuốn sách khác viết riêng về họ, cuốn Giang hồ võ lâm Việt Nam  mà chúng tôi đang thai nghén.


Theo nhận xét của chúng tôi, từ trước đến nay đã có không ít tác giả viết về giang hồ. Nhưng, do mục đích tiếp cận khác nhau nên các tác giả này đều chưa phản ánh đúng chân dung, bản chất và số phận của những kẻ được coi là “người của giang hồ” mà họ đề cập. Trước năm 1975 đã có hàng loạt nhà văn, đứng đầu là nhà văn nổi tiếng Duyên Anh đã cho ra đời hàng loạt cuốn tiểu thuyết thuộc loại “sách xúi con nít đập lộn”. Nhân vật chính của những cuốn sách này thường là những tên bụi đời, du đãng cộm cán sống ngoài lề phố và bất chấp luật lệ. Vì mục đích “vị nghệ thuật”, các nhà văn thế hệ này đã đẩy khoảng cách tâm lý đi quá xa, huyền thoại hóa các nhân vật giang hồ, xem tội lỗi, các trận thư hùng của chúng như những chiến tích. Chịu ảnh hưởng của văn học Phương Tây, kiểu Robin Hood của A. Dumas hay “Thân phận con người” của A.Malraux, những tác giả này đã quá say sưa đề cao chất anh hùng cá nhân của những tên du đãng mà quên mất bản chất đích thực, chúng đích thị là những tên tội phạm. Trong số đó, cuốn Điệu ru nước mắt của Duyên Anh tiêu biểu hơn cả, nhất là khi nó được chuyển thể thành phim Vết thù trên lưng ngựa hoang với bản nhạc nền cùng tên nổi tiếng một thời.


Sau Duyên Anh, một loạt ký giả miền Nam trước giải phóng vẫn mang nặng khuynh hướng huyền thoại hóa, tuy khai thác người thật, việc thật của một lớp giang hồ như Đại Cathay, Lâm Chín ngón, Sơn Đảo... song chủ yếu cũng chỉ khai thác kịch tính của những phi vụ, đẩy các hành động tội phạm của chúng thành một hình thức đối lập, biến những tên tội phạm thành lớp “dân chơi” và “đánh số” chúng theo chuẩn giang hồ chứ không theo những nấc thang đạo đức của xã hội. Chính chủ nghĩa hiện sinh giai đoạn thoái trào du nhập vào miền Nam, chính sự hỗn loạn của xã hội tiêu thụ sống gấp và chết gấp và ý thức phản kháng thời loạn đã tạo nên khuynh hướng này. Bản chất giang hồ có bị (hay được) hiểu sai thì cũng không có gì khó hiểu khi chính các ký giả - tác giả với nhân vật giang hồ của họ đều là bạn bè, quen biết nhau và học đòi nhau. Giữa người nghệ sĩ bế tắc và tên “dân chơi” đập phá ít nhiều cũng có một điểm chung, đó là ý thức bứt phá khỏi các ràng buộc, các định chế của một thứ luật pháp mà họ không tôn trọng; hoặc đơn giản hơn, một ham muốn tự định vị mình. Bằng cách đó, giang hồ được vẽ nên như một thế giới hỗn loạn trong một xã hội hỗn loạn của một thời đại cũng hỗn loạn nốt.


Sau năm 1975, suốt một thời gian dài, đề tài giang hồ, du đãng... hầu như bị quên lãng hoàn toàn trong văn chương, sách vở. May ra, độc giả chỉ còn biết đến các nhân vật của thế giới này trong những bài báo - một thể loại mà tự thân nó, khoảng cách tâm lý đã bị kéo lại quá gần, gần đến mức thiển cận. Nhân vật giang hồ được đề cập hầu như chỉ còn trong phạm vi những thông tin sơ khai của phép cân đối giữa tội lỗi và hình phạt. Không số phận, không tính cách, không được đặt trong phức hợp những bi kịch của cuộc sống, nhân vật giang hồ bị đánh đồng triệt để với hình ảnh tội phạm mà không ai thắc mắc gì đến điểm đặc thù của nó. Thậm chí đã có khi, trên mặt báo, người ta còn né tránh gọi tên những từ định tính như giang hồ, mafia, vì e ngại cách gọi đó sẽ... bôi đen xã hội.


Nói tóm lại, vì nhiều lý do khác nhau vẫn còn thiếu hẳn một cái nhìn đầy đủ, khách quan về một thế giới, một tập hợp người đã hiển nhiên tồn tại trong đời sống, nhất là đời sống ở các đô thị lớn. Vậy thì giang hồ là gì?


Lại một lần nữa, chúng tôi vẫn không muốn “lấn sân” phần việc của các nhà xã hội học. Chỉ xin trả lời vắn tắt: giang hồ là một loại tội phạm có tổ chức, chủ yếu hình thành qua việc xác định “lãnh địa” riêng để hoạt động tội phạm - một hình thức sơ khai của kiểu tội phạm mafia. Nôm na, tất cả mọi người sinh ra đều muốn vượt lên trên chính bản thân mình, luôn khao khát định vị mình trong cuộc đời. Nếu được giáo dục, học hành đầy đủ ở trường học, người ta sẽ trở thành những nhà chuyên môn có ích. Ngược lại, nếu “tốt nghiệp” trường đời, nhiều khả năng người ta sẽ hóa... giang hồ. Như vậy, giang hồ là một thứ “tay nghề cao”, những “nhà chuyên môn” của xã hội lề phố, đời sống lề phố. Nhìn ở một góc độ khác, khát vọng sống, mơ ước vươn lên là những phẩm chất hình thành nên khuynh hướng dấn thân trong mỗi cá nhân. Năng lực hành vi càng lớn, khát vọng dấn thân càng lớn. Đây là một thứ năng lực nội tại, chỉ tăng hay giảm chứ không lệ thuộc hoàn toàn vào tri thức được giáo dục. Khi khát vọng dấn thân tích trữ đủ lượng và bùng nổ thì mẫu người anh hùng cá nhân xuất hiện. Nếu được định hướng đúng, hướng thượng và hướng thiện, đủ chất tri thức, con người anh hùng cá nhân sẽ thăng hoa, thời loạn có thể trở thành nhà cách mạng, thời bình có thể trở thành khoa học gia, nghệ sĩ v.v... Dù không được, không muốn hay không có điều kiện học hành thì trong những cuộc đời tận đáy xã hội, máu anh hùng cá nhân vẫn cứ tồn tại. Được gắn với mục đích lệch lạc, tham vọng ngoi lên lệch lạc, tất yếu nó sẽ biến con người thành một thứ hư vô chủ nghĩa, thiên hẳn về đập phá, chà đạp lên các giá trị chuẩn mực về đạo đức, tinh thần và tác oai tác quái đối với đời sống xã hội. ở mức độ nhẹ hay phạm vi ảnh hưởng hẹp, con người của chủ nghĩa hư vô sẽ biến thành tầng lớp giang hồ, tìm cách thủ lợi bằng các hành vi chống lại luật pháp. Nếu gặp thời loạn, được hà hơi tiếp sức bằng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, bằng đức tin tôn giáo cực đoan, tất yếu chúng sẽ liên kết với nhau để trở thành những tập đoàn giang hồ quốc tế - cha đẻ của chủ nghĩa khủng bố, một vấn nạn đầy đe dọa nguy hiểm mang tính toàn cầu trong thế kỷ XXI.


Cần nói rõ như thế để thấy rằng, giang hồ là một tập hợp tội phạm nguy hiểm, có tổ chức chứ không phải hỗn hợp những hành động tội phạm manh động. Do đó, để tiêu diệt nó, không đơn giản chỉ là việc “chặt ngọn” với hình phạt thật nặng cho những kẻ phạm tội. Ngược lại, cần quan tâm giải quyết vấn nạn giang hồ ngay từ gốc, không để mầm mống tội phạm có điều kiện sinh sôi nảy nở rồi sau đó mới áp dụng hình phạt.


Cốt lõi hình thành, nuôi sống đội ngũ giang hồ, theo chúng tôi, là hai vấn đề có quan hệ hữu cơ: nạn cho vay lãi nặng và việc phân chia lãnh địa để hoạt động phạm tội. Con người, cho dù là người nghèo thì cũng không tránh khỏi những lúc phải đối diện với những biến cố như thiên tai, đau ốm, ma chay... nghĩa là ngay tức thời cần phải có một khoản tiền lớn để giải quyết. Đối với người dân lao động nghèo, đó là một vấn nạn. Tiền mặt: không có, nhà cửa vật dụng thế chấp để vay ngân hàng: không có, tín chấp: không thể. Đó chính là cơ hội tốt để các giác hút kinh khủng của đám cho vay lãi nặng thò ra. Bao nhiêu tiền cũng có, tất nhiên là với lãi suất cắt cổ. Lãi mẹ đẻ lãi con, những vòi bạch tuộc sẽ hút kiệt tất cả những gì người nghèo tích cóp và trói đời họ trong công nợ. Không trả ư: đã có “luật giang hồ”! Nguồn lợi nhuận này là những con số khổng lồ, đủ để nuôi sống cái gọi là giới giang hồ. Nó lớn đến mức việc tranh giành lãnh địa nhằm bảo kê, cho vay lãi nặng thường biến thành những cuộc “chiến tranh lề phố”. Dĩ nhiên, để chuẩn bị cho điều đó thì tất yếu, các băng đảng tội phạm phải hình thành. Đó là lý do vì sao, giới giang hồ quần tụ nhiều ở các khu vực bến cảng, bến tàu xe, các khu chợ đầu mối ở các đô thị lớn - những nơi tập trung đông đúc tầng lớp vô sản, dân lao động nghèo, làm thuê là nghề nghiệp chính. Đó cũng là lý do vì sao trong cuốn sách này xuất hiện thêm hai nhân vật Lý Long Thân (Đường đời trong lòng tay) và Lâm Huê Hồ (Huyền thoại về một gánh ve chai). Cả hai nhân vật này đều không đụng tay đến “dao thớt”, song với nghề cho vay nặng lãi, họ đích thị là những “ông trùm” của giới giang hồ. Đặc biệt là nhân vật Lý Long Thân, toàn bộ quá trình kinh doanh, làm giàu và ngoi lên đều quan hệ mật thiết với hoạt động của các băng đảng tội phạm thuộc giới giang hồ, theo một cách thức sặc mùi giang hồ.


Cuối cùng, để triệt để giải quyết vấn nạn giang hồ, chúng tôi nghĩ ngoài việc nâng cao đời sống nhân dân, tăng cường giáo dục... và nhiều mặt khác, cũng rất cần có một quỹ tín dụng cho người nghèo. Khi lâm vào bí bách, người nghèo - với sự xác nhận của chính quyền địa phương - có thể được vay một khoản nào đó, đủ để trang trải khó khăn đang vấp phải. Hãy tự tin rằng, người nghèo, dù nghèo thì vẫn không thiếu lòng tự trọng, đã vay ắt sẽ trả. Trong trường hợp xấu nhất, nhà nước có thể mất đi 10, 20, 100 triệu, thậm chí một tỉ đồng, nhưng chắc chắn xã hội sẽ bớt đi những danh sách tội phạm dài dằng dặc, khi mà vòi bạch tuộc hút máu dân nghèo của giới giang hồ đã mất chỗ bám. Lúc đó, đời sống của lương dân cũng sẽ bớt phập phù trước những đe dọa, khống chế của bọn tội phạm. ít nhất, chúng ta sẽ bớt đi được một phiên tòa như phiên tòa Năm Cam và đồng bọn với hơn 150 bị cáo mà  một phần ba  trong số đó là những tên giang hồ chuyên cho vay lãi nặng.


Toàn bộ gốc và ngọn của vấn đề, những huyền thoại và bi kịch số phận của “người trong giang hồ” chúng tôi muốn thể hiện qua cuốn sách này thông qua một số chân dung giang hồ cộm cán nhất, những kẻ đã từng được nhiều người biết đến với không ít giai thoại nửa thực nửa hư. Với tiêu chí đó, mục đích văn chương bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Hay hay dở, thích hay không còn tùy vào cách thẩm định của người đọc. Chúng tôi chỉ hy vọng, với những ai quan tâm đến vấn đề giang hồ, cuốn sách sẽ là một nguồn tư liệu ban đầu, một cái nhìn khách quan và gần gũi sự thật để bạn đọc có thể tham khảo.


Hầu hết nội dung chính của cuốn sách này đều đã được đăng tải trên mục “Tư liệu nhiều kỳ” của Báo An ninh thế giới. Vào sách, tác giả chỉ dụng công bổ sung tư liệu và thể hiện lại nó dưới dạng truyện để bạn đọc dễ theo dõi chứ tuyệt đối không có ý định trau chuốt văn chương. Vì thế, nếu những câu chuyện này có thể hấp dẫn được bạn đọc thì đó là do sự hấp dẫn được tạo bởi tự thân những bi kịch số phận của các nhân vật chứ không hề do tác giả cố ý sắp đặt hay dụ dẫn. Toàn bộ tư liệu được trình bày là kết quả thu gom, chắt lọc, kiểm chứng mà chúng tôi tiến hành trong khoảng 10 năm. Những gì thể hiện trong trang sách cũng chính là những gì đã diễn ra trong đời thực. Phần việc duy nhất mà chúng tôi làm là xếp đặt lại cho câu chuyện diễn ra đúng theo trình tự vốn dĩ nó có.


Dù không muốn, tác giả cũng tự biết khiếm khuyết là điều khó tránh.


Mong nhận được sự góp ý của độc giả.


 


Thành phố Hồ Chí Minh
tháng Mạnh Đông, năm Quý Mùi 2003


Nguyễn Hồng Lam


 


Quái kiệt Sơn Vương


Với 34 năm ngồi tù, trong đó có 32 năm khổ sai ở Côn Đảo, có lẽ Sơn Vương Trương Văn Thoại là người phải thụ án lâu nhất Việt Nam. Không chỉ có thế, ông còn là một nhà văn được hâm mộ, một tên cướp khét tiếng trượng nghĩa và hào hoa. Cách mạng tháng Tám thành công, ông trở thành Chủ tịch ủy ban hành chính Côn Đảo. Nhưng do những tham vọng phiêu lưu, ông tự biến mình thành lãnh chúa của cái gọi là “Đảo quốc Côn Lôn” để sau đó lại tiếp tục sống hàng chục năm sau song sắt, cho đến tận ngày sức tàn lực kiệt. Có thể nói, cuộc đời Sơn Vương là một lăng kính phản ánh khá trung thực và đậm nét về khí phách cang cường trọng nghĩa, yêu tự do, ý chí quật cường hào sảng của người nông dân Nam Bộ. Quan trọng hơn hết, ông là một nhân chứng sống của nhà tù Côn Đảo suốt hai thời Pháp thuộc và Mỹ - ngụy.


 


1


Kiếp phong sương ăn quán ngủ đình


 


Trước khi đổ ra cửa Tiểu, dòng chảy của sông Soài Rạp đột nhiên trở nên mạnh mẽ lạ thường. Từ nhiều đời, người dân làng Bình Nhị (Gò Công) vẫn tự hào bảo nhau: chính dư ba của trận Rạch Gầm - Soài Mút đại phá giặc Xiêm đã tiếp sức cho dòng sông tuôn ra biển lớn. Những câu chuyện truyền miệng hào hùng ấy đã hun đúc thêm cho những người nông dân xứ này một khí phách kiên cường, trượng nghĩa và trọng lẽ công bằng.


ở trong làng, điền chủ Trương Đình Cung Anh là một người danh giá, được trọng vọng. Tuy giàu và có học thức nhưng lòng ông vẫn luôn hướng về phía những người nông dân khốn khổ, luôn sẵn sàng giúp đỡ người nghèo và bênh vực kẻ yếu. Khi đã lớn tuổi, ông làm thêm nghề bốc thuốc Nam giúp dân chúng quanh vùng.


Năm 1909, người con trai thứ năm của vị điền chủ hào hiệp này chào đời. Lần đầu tiên nhìn thấy mặt con, điền chủ Trương Đình Cung Anh đã đứng lặng hồi lâu. Trán rộng, nhân trung sâu, mắt sâu, mũi khoằm, dáng dong dỏng, đứa bé mang tướng mạo một Kim Thánh Thán, hẳn sau này sẽ chọc trời khuấy nước nhưng có lẽ suốt đời lận đận. Ông đặt tên cho con là Trương Văn Thoại.


Ngày thôi nôi, trước vô số đồ chơi được bày trước mặt, cậu bé đã vồ lấy và nắm rất chắc hai tay hai món: một quản bút, một thanh gươm. Nét mặt vị điền chủ rạng lên nhưng ông vẫn không ngăn nổi một thoáng rùng mình lo lắng.


Đến tuổi cắp sách, Thoại tỏ ra thông minh, sức học hơn hẳn bạn bè cùng lớp. Nhưng, chỉ học hết chương trình Cours Supérieur (lớp Nhất tiểu học, khoảng lớp 5 hiện nay) đủ vốn tiếng Pháp để đọc sách Tây, cậu bé đã bỏ ngang, chuyển sang luyện võ và học thêm chữ Hán.


Thời gian còn lại, Truơng Văn Thoại vùi đầu vào sách, đọc toàn kiếm hiệp Tàu và tiểu thuyết Tây viết về những tên cướp nghĩa hiệp, từ Robin Hood của A. Dumas đến Carmen của Merimée. Đặc biệt, Truơng Văn Thoại cực kỳ say mê những cuốn sách của nhà văn bình dân Phú Đức với nhân vật Bách-xi-ma lái... “Khúc Dồi” phóng như bay đuổi theo Hoàng Ngọc ẩn đang cưỡi trên... “Điếu Xì Gà”. Những nhân vật nổi loạn trong sách vở và truyền thống hào sảng, bất khuất của quê hương đã thắp dần lên trong lòng cậu bé một ước mơ cháy bỏng về lẽ công bằng và con đường giúp dân bớt bị bóc lột, hà hiếp. Nhưng giữa khi nước mất, ách đô hộ của thực dân Pháp đè nặng, Thoại chưa đủ sức nhìn thấy con đường sáng, chỉ ngọn lửa tang bồng hồ thỉ trong lòng là ngày một cháy rực lên.


 


* * *


Cuối năm 1925, mới hơn 16 tuổi, Truơng Văn Thoại đã quyết chí bỏ làng lao theo tiếng gọi giang hồ. Anh thanh niên giàu nghĩa khí đã bỏ ra 6 năm trời lăn lộn khắp các ngọn núi Thị Vải, núi ông Trịnh, núi Mây Tào vùng Long Hải, Bà Rịa theo một đại lão sư mai danh ẩn tích học võ và học đạo. Năm 1931, vị Đại lão sư viên tịch, Thoại hạ sơn về Sài Gòn, sống lăn lóc cùng giới thợ thuyền khốn khổ. Anh ở trọ trên căn gác gỗ rộng chừng 20m2 của tiệm may Nam Chấn Hưng ở số 2 đường Lefebre (nay là đường Hồ Tùng Mậu, quận 1). Ông Tư Chiêu, chủ tiệm Nam Chấn Hưng vốn là bạn bè của ông Trương Đình Cung Anh, cha Thoại. Ngoài sách vở, tài sản của Thoại chỉ có thêm một chiếc bao kiểu lính thủy bằng vải kaki. Ban ngày, trải bao bên lề đường, Thoại hành nghề bán sách. Đêm, chắp thêm hai đoạn dây, bao kaki trở thành chiếc võng nóp cho kẻ giang hồ chợp mắt qua đêm.


Những năm đầu thập kỷ 30, lề đường De la Some (Hàm Nghi) được coi là nơi tập trung của đủ hạng người. Trên những tấm đệm bàng 7 tấc, một dãy thầy bói sắp hàng, kính râm che mắt, bộ bài cáu bẩn xếp ngay ngắn trước mặt. Bên cạnh đám thầy bói là các văn nhân, chủ báo, cũng bày “sản phẩm” của mình trên những vuông chiếu trải cạnh lề đường. Trong số những người bán báo đó, Trương Văn Thoại đặc biệt chú ý đến một người: Ông Nguyễn An Ninh, chủ bút tờ La Cloche Fêlée (Tiếng chuông rè) kiêm thủ lĩnh đảng Thanh niên cao vọng, hơn Thoại chẵn 10 tuổi. Cảm phục ý chí và sự nghiệp của Nguyễn An Ninh, Trương Văn Thoại đã dần dần bước vào nghiệp cầm bút, trở thành một cộng sự đắc lực của tờ La Cloche Fêlée và nhà cách mạng Nguyễn An Ninh. Theo chữ Hán, chữ “Thoại” được ghép bởi ba chữ Sơn, Vương và Nhi. Bút danh Sơn Vương được Thoại khai sinh từ đó. Ngoài ra, Thoại còn ký tên khác là Trương Vạn Năng, tự bộc lộ ý chí và tham vọng của mình.


Chẳng bao lâu, tên tuổi Sơn Vương đã khá nổi trong nghề cầm bút. Những bài báo của ông thổi vào công luận một dư âm lạ, đầy màu sắc bình dân và nỗi cảm thông sâu sắc tầng lớp bần cùng.


Khoảng những năm 1932-1933, Sơn Vương Trương Văn Thoại - mới 23 tuổi - đã danh nổi như cồn ở khắp Sài Gòn - Chợ Lớn và vùng lục tỉnh, chủ yếu nhờ những tác phẩm trung thiên tiểu thuyết đăng tải trên báo. Có thể xem Sơn Vương như một người tiên phong có công trong việc cách tân nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Vẫn là tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình, song tác phẩm của Sơn Vương đã có sự thay đổi tiến bộ lớn lao về mặt hình thức. Nhân vật tướng cướp nghĩa hiệp cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo của Sơn Vương đã đoạn tuyệt hẳn với thanh gươm lưng ngựa, thay vào đó là các trang công tử lái xe hơi như bay, bắn súng lục bằng cả hai tay và ném tạc đạn ùng oàng. Đáng kể nhất là ba cuốn: Luật rừng xanh, Chén cơm lạt, và Tướng cướp hào hoa.


Rất đông nhà văn, nhà báo thế hệ sau đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của Sơn Vương, cả về khí phách chống cường quyền, áp bức, ủng hộ dân nghèo lẫn lối hành văn bình dân trong sáng và giản dị. Nhưng ít ai biết rằng, tất cả những nhân vật tướng cướp nghĩa hiệp ấy đều chính là hiện thân của tác giả Sơn Vương. Thay vì tìm tư liệu để viết, Sơn Vương đã tự... tạo ra tư liệu. Trong hơn hai năm, từ 1931-1933, Sơn Vương đã đơn thương độc mã, gây ra hàng chục vụ cướp kinh thiên động địa nhằm vào các phú hộ, địa chủ gian ác khắp các vùng từ Đồng Nai đến Sài Gòn, Long An nhưng tung tích vẫn không hề bị lộ. Người ta chỉ thầm ngưỡng mộ một Sơn Vương - nhà văn - cao gầy dong dỏng nói năng nhỏ nhẹ, thường ngồi trọn buổi sáng bên lề đường với một bộ xá xẩu bằng lụa Tân Châu để bán sách của chính mình.


 


* * *


Giữa năm 1933, Sơn Vương dời địa điểm bán sách sang lề đường Charner (Nguyễn Huệ). Tại đó, ông gặp gỡ và kết nghĩa huynh đệ với một thanh niên tên là Nguyễn Phương Thảo, người sau này nổi danh với cái tên Trung tướng độc nhãn Nguyễn Bình - Tư lệnh các lực lượng quân sự Nam Bộ những năm đầu cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp (1945-1954).


Nguyễn Phương Thảo thua Sơn Vương 6 tuổi, quê ở Yên Phú, Hưng Yên. 17 tuổi, Thảo bỏ dở năm thứ hai trung học xuống Hải Phòng, đáp tàu Pélican của hãng Messagering để “hành phương Nam” lập nghiệp. Vốn khâm phục chất hảo hớn của người Nam Bộ, Thảo đã nhanh chóng làm quen và mê sách của Sơn Vương. Được một người thợ cùng chỗ trọ giới thiệu, anh đã nhanh chóng tìm được tác giả các cuốn truyện yêu thích. Sơn Vương cũng tỏ ra cảm kích trước ý chí giang hồ của người bạn nhỏ tuổi, đồng thời cũng muốn làm quen với một tính cách Bắc nguyên gốc nên tiếp Thảo khá nhiệt tình. Gặp Thảo, Sơn Vương khen:


- Người phương Bắc mến mộ trời Nam, hai mươi năm sau tất có thêm một tay hảo hớn.


Luôn miệng tấm tắc “kỳ ngộ! kỳ ngộ!”, Sơn Vương bỏ dở buổi bán sách kéo Nguyễn Phương Thảo sang một quán Chệt (quán ăn Tàu) ở đường Colonel Grimaud (Phạm Ngũ Lão) để đãi một chầu hủ tiếu xí quách. Đó là lần đầu tiên trong đời, anh thanh niên Nguyễn Phương Thảo biết đến vị cay của rượu. Nhưng Thảo chỉ uống ba ly con, phần còn lại một mình Sơn Vương từ từ nốc cạn.


Mới vào Nam, việc làm chưa có, Nguyễn Phương Thảo ngỏ ý nhờ Sơn Vương tìm giúp. Sau một hồi suy tính, Sơn Vương khuyên người bạn vong niên sang Đa Kao mở tiệm giặt là phục vụ cho đám công chức, thầy thông, thầy ký. Để có vốn cho Thảo mở tiệm, Sơn Vương quyết định đi... cướp, làm một vụ thật đậm...


Để xác định con mồi, Sơn Vương đã ôm chiếc bao lính thủy ra góc đường De la Some, chỗ đối diện Nhà băng Đông Dương ngồi bán sách suốt nhiều buổi. Cuối cùng thì một con mồi lớn cũng đã lọt vào tầm ngắm của Sơn Vương. Cứ vào sáng thứ Sáu của tuần đầu tiên mỗi tháng, René Gaillard, Giám đốc hãng cao su Mimot lại cùng một tài xế và một vệ sĩ phóng chiếc Peugeot đến Ngân hàng Đông Dương để lĩnh bạc về phát lương cho công nhân, số tiền mỗi kỳ lên đến 50.000 đồng. Theo tính toán, Sơn Vương quyết định sẽ chặn xe cướp vali tiền khi tên Giám đốc quay trở về. Ông quyết định rủ Nguyễn Phương Thảo đi theo để biểu diễn cho xem, nhưng lại tuyệt đối lại không nói một câu với “cậu bé” về kế hoạch đã định.


Đầu tháng 7 năm 1933, vụ cướp đã diễn ra đúng như kế hoạch. Sơn Vương “dụ dỗ” được Năm Đường, tài xế của một chủ Tây tham gia vào cuộc. Lợi dụng ông chủ và vợ con về Pháp nghỉ phép, Năm Đường đã “mượn” chiếc Clément Bayard của chủ và thay biển số theo Sơn Vương đi cướp. Xe chở Sơn Vương, Năm Đường và Nguyễn Phương Thảo chạy thẳng theo con đường đất đỏ dẫn về Tân Sơn Nhất (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám). Đến một chiếc cầu nhỏ ở Bà Quẹo, Năm Đường cho xe quay lại, dừng ngay trên cầu, vờ hư xe lúi húi sửa.


15 phút sau, chiếc Peugeot của René Gaillard đã xuất hiện từ xa, cuốn bụi đỏ bay theo mù trời. Đến nơi, thấy cầu bị kẹt, Gaillard tức tối nhảy xuống la hét om sòm. Sơn Vương đầu đội nón nỉ, mang bộ complet trắng, nhàn nhã như một công tử Bạc Liêu ôn tồn tiến lại, nói bằng tiếng Pháp:


- Xin lỗi ông, xe tôi bị panne, ông chờ cho chút xíu.


Đang bực, Gaillard quát:


- Muốn sửa, đẩy qua chỗ khác!


Quát chưa dứt câu, Gaillard đã trợn mắt, bởi Sơn Vương trả lời rất xấc xược:


- Được thôi, phiền ông lại đẩy đi!


Nhưng hắn chưa kịp chửi thề, một họng súng đen ngòm đã xuất hiện ngay trước mặt, kèm theo là tiếng Sơn Vương quát khẽ:


- Giơ tay lên!


Theo phản xạ, cả chủ lẫn tớ trong xe đều giơ tay quá đầu. Điềm nhiên, Sơn Vương tiến lại bên chiếc Peugeot giật lấy cặp tiền vứt vào xe mình cho Nguyễn Phương Thảo giữ. Ông còn tước luôn khẩu súng của tên vệ sĩ và quay lại nói với Gaillard mấy câu nhã nhặn:


- Phiền ông Giám đốc cho mượn đỡ một kỳ lương, tôi đang có việc cần xài.


Sơn Vương vừa nói, vừa vứt luôn khẩu súng trên tay vào xe của Gaillard và nhanh chân tót lên chiếc Clement Bayard giục Năm Đường chạy thẳng.


Sau vài phút hoàn hồn, René Gaillard kịp nhìn lại, mới phát hiện ra rằng khẩu súng mà Sơn Vương “kỷ niệm” chỉ là súng giả. Cáu tiết, hắn quát tài xế phóng xe đuổi theo. Nhưng tốc độ của chiếc Peugeot cũ kỹ không thể đua kịp tốc độ của chiếc Clément đời mới, máy rất mạnh. Đuổi đến Hòa Hưng thì địch thủ đã biến mất tăm dạng, Gaillard đành tiu nghỉu quay xe trở lại. Cách đó không xa lắm, Sơn Vương cũng xách cặp tiền kéo Nguyễn Phương Thảo đang há hốc ngạc nhiên bước xuống, giục Năm Đường đưa xe về rửa và thay biển số. Sơn Vương và Thảo bao nguyên một chiếc xe thổ mộ, giong thẳng về gác trọ phía Sài Gòn.


 


* * *


Vụ cướp táo tợn được đồn lan khắp Sài Gòn chỉ sau đúng một ngày. Dân nghèo được một phen hả dạ, bởi kẻ bị trừng trị là một “thằng Tây” khét tiếng tàn ác. Giới lục lâm Sài Gòn - Lục tỉnh cũng thầm khen tác giả vụ cướp - dù chẳng biết là ai - bạo gan và chơi rất bảnh, khiến tên chủ Tây vừa mất tiền vừa bẽ mặt. Nhưng với Sơn Vương, đó lại là tai họa và là vụ cướp cuối cùng trong cuộc đời ngang dọc.


René Gaillard - kẻ bị hại, vốn cũng xuất thân từ một tên cướp khét tiếng của đảo Corse và nước Pháp. Cùng với tên anh ruột là Charlles Gaillard, hắn đã gây ra hàng chục vụ cướp của giết người. Bị kết án chung thân khổ sai, hai anh em hắn đã tìm cách khoét vách ngục La Santé ở Paris và trốn sang Tân Thế Giới, tiếp tục gây tội ác. Được ít lâu, anh em Gaillard lại bị tóm cổ, thụ án khổ sai chung thân tại nhà ngục La Cayen - địa ngục trần gian của Pháp tại Nam Mỹ. Ngồi tù chưa ấm chỗ, chúng lại vượt ngục trốn vào Hoa Kỳ. Tại đó, René cùng anh tiến hành đánh cướp một xe chở bạc. Lần này, Charlles Gaillard bị bắn chết ngay tại trận. Còn lại một mình với một đống tiền, René Gaillard trốn sang Đông Dương, dùng số tiền ăn cướp được mua cổ phần của đồn điền cao su Terreves Rouges và nghiễm nhiên trở thành Giám đốc hãng cao su Mimot.


Tuy đã giã từ nghề thảo khấu nhưng trong huyết quản Gaillard, máu “đảo Corse” vẫn còn ngùn ngụt. Bị Sơn Vương cướp tiền và bỡn cợt, hắn không chịu nổi. Gaillard tuyên bố: Thưởng 5000 bạc Đông Dương - một phần mười số tiền bị cướp - cho bất cứ ai tìm ra tung tích thủ phạm. Lúc này, Bazin - tên mật thám khét tiếng tàn ác sau này - đang là một cò tập sự ở bót Catinat. Y xua hết mã tà, lính kín dưới quyền ra sức điều tra, lùng sục, quyết giật cho được món tiền 5000 đồng mà Gaillard đã rêu rao.


Vốn thông minh, cáo già, lại rành tâm lý người Việt, Bazin rất quan tâm đến những chi tiết tưởng như nhỏ nhặt. Y nhanh chóng nhận ra rằng, loại xe hơi Clément Bayard, cả Sài Gòn chỉ có không hơn 10 chiếc. Do đó, y liên tục gọi tài xế và chủ nhân của những chiếc xe hơi loại này lên làm “ăng kết”. Bị tra hỏi quá nhiều lần, Năm Đường biết chắc sẽ bị lật tẩy nên hoảng sợ đã ra đầu thú, nộp lại 10.000 đồng được chia sau vụ cướp đồng thời khai ra tên Sơn Vương. Ngày 16 tháng 8 năm 1933, Sơn Vương bị bắt.


Nhận được điện thoại của cò Bazin, tên giang hồ đảo Corse phóng xe tới bót Catinat ngay tức khắc. Được thưởng tiền, Bazin tỏ ra khá biết điều. Y bảo Gaillard:


- Giao nó cho ông một buổi, muốn làm gì thì tùy thích.


Cởi trần, xách roi gân bò vào phòng tra tấn, nơi Sơn Vương đang bị xích hai tay lên trần nhà, Gaillard nhìn đối thủ mảnh khảnh từ chân lên tới đầu và bảo:


- Mày cướp của tao năm vạn, tao tính rẻ, cứ một ngàn đồng tao lấy lại một roi. Mày tính chịu được mấy roi?


Không một chút sợ hãi, Sơn Vương cười và trả lời:


- Ông thích bao nhiêu cứ lấy bấy nhiêu. Bao nhiêu tôi cũng chịu, chỉ sợ ông mệt.


Điên tiết, Gaillard xông vào quật liên tiếp lên người Sơn Vương. Chỉ sau năm roi, chiếc áo lụa của Sơn Vương đã bị xé nát, rách tơi tả. Nhưng Gaillard vẫn không ngừng tay. Sơn Vương oằn oại gồng người vận khí chịu đòn nhưng không hề hé răng kêu rên nửa tiếng. Đến roi thứ 16, Gaillard đã quá mệt, mồ hôi vã ra như tắm. Thấy mình mẩy Sơn Vương đã nát bét, máu tuôn ra như suối, nhưng vẫn không nao núng, Gaillard bèn vứt roi, khen:


- Mày chịu đòn quá giỏi, tao thua. Số roi còn lại, tao cho mày nợ.


Khạc ra một bụm máu, Sơn Vương cười mà miệng sưng vêu, méo xệch:


- Khỏi, ông cứ lấy cho đủ. Nếu thiếu, tôi sẽ đi cướp của những thằng giàu như ông chứ chẳng cần phải vay nợ ai hết, ông nên đánh tiếp đi, kẻo tiếc.


Đến đó, René Gaillard chỉ còn biết phục sát đất. Hắn đổi giọng:


- Ông đúng là gan dạ hơn dân đảo Corse. Tôi kính phục ông. Số còn lại, coi như tôi xóa nợ cho ông hết.


Bỏ ra khỏi phòng, Gaillard nói với Bazin:


- Tao không kiện nữa, thả nó đi!


Bazin ngạc nhiên. Hắn bảo:


- Luật là luật, ông tha nhưng tôi không tha.


Không thuyết phục được Bazin, tên giang hồ đảo Corse tỏ ra khá áy náy với Sơn Vương. Hắn lại quay trở vào. Đứng trước mặt Sơn Vương, hắn hứa:


- Để tỏ lòng kính trọng ông, ngày mở phiên tòa, tôi sẽ không đến dự.


Và hắn đã giữ lời.


Một tháng sau, Sơn Vương bị Tòa tiểu hình kết án năm năm khổ sai và bị đày ra Côn Đảo.


2. 16 tháng 8 - ngày định mệnh


Đến Côn Đảo, Sơn Vương bị tống vào banh II, buồng giam tù thường án. Vụ cướp táo bạo của Sơn Vương khiến đám thường phạm nể phục, dù so với đa số bạn tù, ông ít tuổi hơn nhiều. Lẫn giữa đám đầu trộm đuôi cướp, Sơn Vương nổi trội hơn cả bởi là người có học, thuộc nhiều tích xưa chuyện cũ, lại giỏi tiếng Pháp. Vì vậy, mỗi lần có việc cần đề đạt gì với bọn gác ngục, cả buồng giam đều phải cậy đến Sơn Vương. Sau chưa đầy một tháng, Sơn Vương đã được coi như “sếp” buồng giam. ở các buồng bên cạnh, nhiều chính trị phạm - cả tù Cộng sản lẫn tù Quốc dân Đảng - cũng có nhiều người từng quen biết Sơn Vương trong thời gian viết báo, in sách, đôi người còn tỏ ý ngưỡng mộ. Thấy ông có uy tín với bạn tù, lại nói năng nhỏ nhẹ, cử chỉ đĩnh đạc, bọn gác ngục cũng tỏ ra vì nể.


Cuối năm 1933, giám thị Nguyễn Văn Liễn (Vệ Liễn) quyết định tổ chức một cuộc thi chữ đẹp tại tù Côn Đảo. Kết quả, Sơn Vương giành giải nhất, đẹp hơn cả chữ của các thư ký trên đảo cùng dự thi. Vệ Liễn bèn vận động chúa đảo cho ông ra làm thư ký giúp việc tại Ty Ngân khố của tỉnh đảo Côn Lôn. Kể từ đó, Sơn Vương không phải ngồi xà lim và làm khổ sai nữa. Ban ngày ông lo ghi chép giấy tờ ở Ty Ngân khố, buổi tối dạy bé Nguyễn Thị Kim Hoa, 9 tuổi, con gái Vệ Liễn học đến 9 giờ đêm. Sau đó, ông được cắp chiếu về ngủ cùng chỗ với các nhân viên của Ty Ngân khố.


Lúc mới ra đảo, ngoài Nguyễn An Ninh, Sơn Vương tỏ ra ngưỡng mộ các tù chính trị Quốc dân Đảng. Máu giang hồ của ông bị mê hoặc bởi gương trung liệt của Nguyễn Thái Học, và một số chiến công của đảng này. Nhưng dù ở tù, những người Quốc dân Đảng vẫn thẳng tay khủng bố những người bất đồng chính kiến với họ trong đường lối đấu tranh cách mạng. Trước mắt Sơn Vương, Quốc dân Đảng đã tiến hành một số vụ ám sát, khủng bố ngay tại Côn Đảo chủ yếu nhắm vào tù Cộng sản. Trong khi đó, những người tù Cộng sản, dù rất căm giận vẫn không hề tìm cách trả đũa. Ngược lại, họ vẫn đoàn kết, nhất trí, luôn tìm cách hòa giải những mối bất đồng, cố hàn gắn mối đoàn kết giữa tù Cộng sản và tù Quốc dân Đảng. Thần tượng cũ sụp đổ, lòng ngưỡng mộ của Sơn Vương dần dần dành hết cho số tù là đảng viên Cộng sản. Lợi dụng công việc ở Ty Ngân khố, ông thường tìm cách chuyển giấy, mực vào và giúp những người Cộng sản liên lạc với nhau.


Năm 1936, nền chính trị nước Pháp biến động mạnh. Nội các Léon Blum và phong trào Mặt trận bình dân lên nắm chính quyền, tiến hành hàng loạt cải cách dân chủ ở Đông Dương, trong đó có cả việc đặc xá tù chính trị. Tháng 7 năm 1936, một số tù nhân ở Côn Đảo được phóng thích. Sơn Vương cũng được xét trả về đất liền, tiếp tục thụ hình tại Hà Tiên.


Cạnh nhà tù ở Hà Tiên có một khu bungalow(*) dành cho các ông Tây bà đầm nghỉ mát. Một hôm, tên Giám đốc bungalow người Pháp bị mất 200 đồng. Nghi cho một anh bồi người Việt lấy cắp, hắn đã tự tay tra khảo anh dã man. Anh bồi không nhận bị tên Giám đốc tàn ác đốt đèn cầy và nhỏ sáp nóng vào mũi. Anh bồi chết, dân chúng kéo nhau biểu tình. Trong tù, Sơn Vương đã hô hào tù nhân đập phá khám và la ó dữ dội để ủng hộ. Vì vậy, chủ tỉnh Hà Tiên đã quyết định đày Sơn Vương ra đảo Phú Quốc.


Tội ác của thực dân Pháp đi đâu cũng gặp, tên Tây đoan (quan thuế) kiêm quận trưởng Phú Quốc đã nhiều lần tác oai tác quái ức hiếp dân trên đảo. Biết chuyện, Sơn Vương đã âm thầm thu nhập tài liệu và viết bài, bí mật gửi về cho một số tờ báo ở Sài Gòn. Các báo cử người ra điều tra và đăng bài lên án mạnh mẽ. Tên Tây Đoan khát máu bị đuổi đi nơi khác. Tháng 2 năm 1938, tên quận trưởng mới thay đã đưa trả Sơn Vương về lại Hà Tiên. Ông bị giam giữ thêm 6 tháng, đến ngày 16 tháng 8 năm 1938, trùng ngày trùng tháng với ngày bị bắt, Sơn Vương được thả.


 


* * *


Nhưng, hình như định mệnh đã trói chặt cuộc đời Sơn Vương với ngày 16 tháng 8. Đúng một năm sau, ngày 16 tháng 8 năm 1939, Sơn Vương lại bị tống vào tù. Lần này, ông bị bắt vì một lý do hết sức quái gở. Tại ghi-sê bán vé của một rạp chiếu bóng ở Chợ Lớn, Sơn Vương bị một gã người Việt hung hăng đạp giày đau điếng. Ông đẩy hắn ra, tên này lập tức nhảy vào đánh Sơn Vương. Cáu tiết, ông xô mạnh, tên gây sự bật ngửa ra sau ngã chỏng gọng. Rất không may, kẻ gây sự lại là... sếp mật thám của bót Polo (Chợ Lớn). Bẽ mặt, hắn móc ngay tu huýt cho lên miệng thổi một hồi. Mã tà, lính kín lập tức bu lại, còng Sơn Vương dẫn về.


Xuất thân là một võ sĩ đấm boxe (quyền Anh) có hạng, tên phó cò bót Polo cũng hung hăng không kém gì sếp chánh. Bất cứ ai mới bị bắt, hắn cũng đòi phải... đấu tay đôi. Thông thường, cuộc đấu chỉ dừng lại khi kẻ mới vào đã máu me bê bết và bất tỉnh nhân sự. Vì vậy, người ta gọi hắn bằng biệt danh Cọp Lửa.


Thấy Sơn Vương mảnh khảnh nhưng có vẻ ngang tàng, Cọp Lửa hất hàm hỏi cộc lốc:


- Biết võ không?


Sơn Vương cũng đáp cộc lốc:


- Chịu đòn được.


Cọp Lửa đòi đấu. Sơn Vương nhã nhặn từ chối:


- Đây là bót cò, đâu phải sàn boxe ở hội chợ? Nếu ông cò muốn, tôi đứng cho ông đấm.


Tên cò tức lắm, xông vào ngay. Sơn Vương không đánh trả, chỉ xuống tấn vận nội công chịu đòn. Đấm liên tục 10 phút, Sơn Vương vẫn không nhúc nhích, Cọp Lửa đành ôm hai tay buốt nhức lỉnh sang chỗ khác.


Ra tòa, Sơn Vương bị kết tội du đãng, bị đưa đi giam giữ tại căng Pursat (Campuchia). Nhờ giỏi ăn nói, Sơn Vương xin được một lưỡi cưa, cưa còng và trốn qua Thái Lan. Không bao lâu, ông lại bị bắt khi tìm cách về lại Sài Gòn. Lần này, ông bị kết án 10 năm tù vì tội vượt ngục, bị tống vào phòng 17 bót Catinat, nơi đặt máy chém. Đầu năm 1942, ông bị đày ra Côn Đảo lần thứ hai.


 


3. Những năm sôi động


Giai đoạn 1942-1946, quần đảo - nhà tù Côn Lôn xảy ra rất nhiều biến động. Đặc biệt, quyền cai trị liên tục bị thay đổi. Tháng 9 năm 1942, phát xít Nhật đã cho quân đổ bộ lên đảo lần đầu tiên, nhưng chúng chỉ ở lại ít hôm rồi rút. Ba năm sau, ngày 6.2.1945, tàu chiến Nhật đã chĩa đại bác vào quần đảo, yểm trợ cho một trung đội vũ trang đổ bộ lên, bất chấp sự phản đối của bọn Pháp trên đảo.


Đám lính Nhật đổ bộ tiến hành ngay việc khống chế đài vô tuyến điện và tịch thu toàn bộ radio của bọn Pháp, ra sức tìm cách tiếp xúc với tù nhân, tiếp tế, cung cấp thông tin và truyền bá thuyết Đại Đông á cho đám chính trị phạm thân Nhật. Không dám công khai ngăn cản lính Nhật, lính Pháp đã tìm cách di chuyển nơi làm việc của đám tù thân Nhật, ngăn không cho những cuộc tiếp xúc diễn ra. Bị chúng thẳng tay khủng bố, đánh đập dã man, những tù nhân thân Nhật đã bóng gió bắn tin đe dọa bọn giám thị người Pháp, đồng thời ấm ức chờ gió đổi chiều để có cơ hội trả thù.


Sáng ngày 9.3.1945, thêm hai tàu tuần duyên Nhật lừ lừ tiến vào Côn Đảo. Mặc cho đám lính Pháp ngơ ngác, bọn Nhật đã ngang nhiên chất lên bờ một số thiết bị, khí tài chiến tranh. Xong việc, hai chiếc tàu tuần duyên không những không rút lui, lại còn kê tất cả nòng pháo hướng thẳng vào đất liền. Đánh hơi thấy chuyện chẳng lành, đích thân Tyssery, giám đốc Nhà tù Côn Đảo đã đến trại Nhật, yêu cầu được giải thích. Tên sĩ quan chỉ huy Nhật Bản ngang nhiên trả lời:


- Chúng tôi đưa hàng lên để lắp đặt một trạm vô tuyến.


Đồng thời hắn ra lệnh:


- Mời ông Tyssery ở lại.


Thực chất bọn Nhật muốn giam lỏng Tyssery không cho quay về. Ngay đêm đó, không tốn một phát đạn, Nhật đã tước hết toàn bộ vũ khí của lính Pháp, chiếm giữ trại lính, dinh giám đốc, đài vô tuyến và toàn bộ vị trí phòng thủ trên đảo. Bốn ngày sau, giám đốc Tyssery và viên đại úy chỉ huy lính Pháp ở Côn Lôn được tàu chiến Nhật đưa về đất liền. Quyền cai quản nhà tù, Nhật giao cho phó giám thị Hilaire đồng thời giữ nguyên bộ máy giám thị Pháp - Việt như cũ.


Chỉ sau đó ít hôm, máy bay đồng minh đã tiến hành nhiều đợt oanh kích Côn Đảo. Bom đạn Mỹ đã đánh sập hải đăng hòn Bảy Cạnh, Nhà đèn, Sở lưới và một số cơ sở sản xuất trên đảo, giết chết hàng chục tù nhân đang lao động ở các khu vực này. Một số tù nhân đã lợi dụng lúc tình hình nhốn nháo, thoát ra khỏi vòng rào trại giam. Đám tù thân Nhật trong trại cũng bắt đầu trỗi lên phá phách, gây yêu sách.


Đòi hỏi của chúng đã được bọn Nhật đáp ứng bằng một hành động mị dân: trao quyền chúa đảo cho Lê Văn Trà -  nguyên thư ký của Tyssery, đồng thời tiến hành cái gọi là “lễ trao trả độc lập” và biến quần đảo Côn Lôn (tiếng Pháp: Poulo Condore) thành cái gọi là “Quốc gia tự do Nông dân huynh đệ quần đảo Côn Lôn (Etat libre agricole et fratemel d’ Archipel de Poulo Condore)”. Trong buổi lễ, Lê Văn Trà đã không tiếc lời ca ngợi công lao của quân đội Thiên Hoàng và Thống đốc Minoda. Sau đó, Trà đã công bố đạo dụ của Chính phủ Trần Trọng Kim về việc các chính trị phạm kể từ ngày này được Chính phủ Việt Nam trả lại tự do và được coi như mọi người khác trong nước. Nhưng thực chất, chỉ có 150 tù thân Nhật là được đi lại tự do và được phóng thích sau hai tuần. Những người khác, ngay sau buổi mít tinh đã bị xua trở lại, lại vào khám, tiếp tục bị giam giữ như cũ.


Ngay sau khi thoát cũi sổ lồng, bọn tù thân Nhật đã đi ngay vào cuộc trả thù những cai ngục Pháp - Việt. Chúng cũng thừa cơ hội khủng bố, hành hạ một số tù nhân Cộng sản, tù thường phạm dám công khai phản đối chúng. Để ủng hộ tù Cộng sản, Sơn Vương đã đứng ra vận động một số thường phạm, công khai âm mưu của bọn tù thân Nhật, đồng thời vạch mặt tuyên bố nếu đám này có hành động quá khích, họ sẽ đứng ra chống lại.


Giỏi ăn nói và có uy tín, Sơn Vương đã được khá đông thường phạm có lương tri ủng hộ. Do đó, bọn tù thân Nhật cũng chùn tay, không dám đối xử tàn ác với những bạn tù khác. Mũi nhọn khủng bố của chúng dồn hẳn sang hướng đám cai ngục cũ. Một số gác ngục hung hãn hồi trước như Toustou, Lantali, đã bị đánh trọng thương, phải vào nhà thương Côn Đảo điều trị. Sau này, được những người Cộng sản kiên trì thuyết phục, không ít người trong số họ đã ngả sang chủ trương liên minh giữa những người Cộng sản và các lực lượng dân chủ, tiến bộ chống phát xít, bình tĩnh đối phó với các hành động khiêu khích của đám tù thân Nhật đang được chính quyền bù nhìn dung túng.


Thấy uy tín của khối Đại Đông á đang bị rơi rụng dần, bọn Nhật trên đảo và chính quyền Lê Văn Trà bèn tìm cách đối phó bằng cách thực hiện một số cải cách dân chủ. 8 chiếc ghe bầu được gửi từ đất liền ra để rước đám tù thân Nhật thuộc các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Thiên Chúa giáo, Phật giáo về. Trên đảo, Trà cho mở lại trường tiểu học và ra tờ báo “Tiếng nói tự do”. Sợ tù Cộng sản sẽ biến tờ báo thành diễn đàn chống phát xít, Lê Văn Trà đã giao cho Sơn Vương phụ trách. Sau khi nhận chức chủ bút, Sơn Vương đã được đi lại khá tự do. Lấy lý do đảo đã được tự do, tù nhân cần và được quyền biết tin tức, Sơn Vương đã thuyết phục được Lê Văn Trà cho tù nhân được sửa lại một chiếc radio hỏng. Dù không muốn, song Lê Văn Trà cũng không thể phản đối.


Dưới sự chỉ huy của Tôn Đức Thắng - người lính thợ nổi tiếng từng kéo cờ phản chiến trên biển Hắc Hải trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất - một tốp thợ tù đã sửa chữa xong chiếc radio, sau đó sửa luôn được một chiếc canô hỏng. Qua sóng radio, tin cách mạng tháng Tám đã thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập đã khiến cả đảo hồ hởi reo mừng. Bọn gác ngục và bọn thân Nhật bắt đầu co vòi lại không dám lộng hành.


Tối ngày 16.9.1945, tàu Phú Quốc và 32 ghe bầu chở theo 10 tấn gạo tiếp tế của Cách mạng đã cặp bến Cỏ ống. Rạng sáng hôm sau, cờ đỏ sao vàng đã phất phới bay rực cầu tàu Côn Đảo. Tham tá Lê Văn Trà nộp con dấu của nhà tù cho chính quyền Cách mạng.


Sau một tuần lễ sửa chữa, đoàn tàu, thuyền lại quay mũi ra khơi. 1.800 chính trị phạm được giải thoát đưa về đất liền. Đến đầu tháng 12 năm 1945, ủy ban hành chính Nam Bộ lại gửi một đoàn ghe ra Côn Đảo rước tù do đồng chí Văn Cừ làm trưởng đoàn. Ngày 11.12.1945, dưới sự chứng kiến của phái đoàn Văn Cừ, Lê Văn Trà đã đứng ra tổ chức một cuộc bầu cử dân chủ trên đảo. 12 người trong đó có sáu giám thị, sáu tù nhân đã được bầu vào bộ máy chính quyền mới. Ngày 15 tháng 12, ủy ban hành chính mới của Côn Đảo chính thức được công bố, Sơn Vương Trương Văn Thoại chính thức trở thành Chủ tịch ủy ban.


ở cương vị mới mẻ này, Sơn Vương tỏ ra là một vị chủ tịch năng nổ và có khả năng lãnh đạo. Ngay sau khi nhậm chức, Sơn Vương đã sốt sắng bắt tay ngay vào việc tổ chức lại sản xuất, từ thu hoạch lúa, đánh bắt hải sản đến khai thác củi, đá, làm vệ sinh... Ông đã đề ra một số biện pháp khuyến khích lao động như chia một phần thành quả cho người làm ra sản phẩm. Mặt khác, việc lao động sản xuất dưới thời Sơn Vương lãnh đạo được coi như bắt buộc, cả các thành viên ủy ban lẫn các công chức, giám thị cũ cũng phải trực tiếp tham gia. Ông cũng tỏ ra kịp thời và chính xác khi xác định những việc cần làm cấp bách, giao đúng người đúng việc, từ tổ chức một tổ y tế vào núi tìm thuốc trị bệnh đến việc xuất toàn bộ vải vụn trong kho giao cho tổ phụ nữ may quần áo cộc cấp tốc để phát cho một số tù nhân thiếu thốn.


Giai đoạn đầu, uy tín của Sơn Vương khá cao. Khi phái đoàn Văn Cừ đón tù về đất liền, ông đã đồng ý ở lại, tiếp tục cùng chính quyền mới khôi phục cuộc sống và trật tự của đảo, dù trong lòng rất nôn nao mong được trở lại đất liền. Ngoài tinh thần trách nhiệm, việc đồng ý ở lại Côn Đảo của Sơn Vương có một phần níu kéo của một lý do khác: tình yêu. Người tạo ra sức hút mãnh liệt ấy là Lệ Hoa, tức Nguyễn Thị Kim Hoa, con gái của Vệ Liễn và là cô học trò nhỏ tại đảo của Sơn Vương từ hơn 10 năm trước.


 


* * *


Khi Sơn Vương bị đày ra Côn Đảo lần thứ 2 (1942), cô bé học trò 9 tuổi ngày xưa đã trở thành một thiếu nữ 18 tuổi, đẹp rực rỡ, được coi như hoa khôi của Côn Đảo. Có học thức, thích thơ ca, đặc biệt là ngâm vịnh Kiều, Lệ Hoa tỏ ra cảm phục tài năng của huyền thoại Sơn Vương. Lúc này Lệ Hoa cũng đang là một cô giáo tiểu học trên đảo. Cô thường bí mật đem những thắc mắc trong sách vở nhờ Sơn Vương giải thích giúp. Là người có chữ, từng đọc nhiều sách chữ Hán, đối với Sơn Vương, Lệ Hoa hội đủ cả tám tiêu chuẩn của một mỹ nhân, với “hoa diện” (mặt tươi như hoa), “nguyệt thần” (thần thái trong sáng như ánh trăng), “điểu thanh ngôn” (tiếng nói trong trẻo như chim hót), “liễu thái” (dáng dấp mềm mại như nhành liễu), “băng tuyết bì” (da trắng như tuyết), “ngọc cốt” (tinh thần kiên định như viên ngọc), “thu thủy tư” (tâm hồn tĩnh lặng như nước hồ thu) và “thi thư tiên” (có học thức, coi trọng chữ nghĩa). Choáng ngợp trước nhan sắc của cô, Sơn Vương cũng tỏ ra rất hào hứng khi được đáp ứng các thắc mắc. Tình thầy trò, chú cháu ngả dần thành tình yêu, dù Sơn Vương hơn Lệ Hoa 13 tuổi. Nhưng vì cuộc đời vẫn phải náu thân sau song sắt, chí lớn còn lưu nơi đảo vắng, Sơn Vương chỉ còn biết thổ lộ lòng mình qua mấy câu thơ nuối tiếc mà ông bí mật nhờ lính gác gửi tận tay ý trung nhân:


Ước gì kéo được thời gian


Cho tôi trẻ lại, cho nàng già hơn


Khi phụ trách tờ Tiếng nói tự do, Sơn Vương lại sáng tác một bài thơ dài có tựa Vịnh Hai Bà Trưng để thổ lộ lòng mình với Lệ Hoa. Sợ chưa đủ cho người đẹp hiểu thấu tâm tình, ông lại bỏ ra cả ngày trời, dùng chiếc bút máy hiệu Kaolo mang từ đất liền ra tỉ mẩn chép bài thơ dài hơn 400 chữ này lên mặt sau của vỏ một bao diêm và gửi cho Lệ Hoa. Quả nhiên, bức thư tình đọc bằng... kính lúp độc đáo ấy đã khiến trái tim cô hoa khôi chao đảo. Vài ngày sau, cô học trò xưa đã trả lời thầy giáo cũ bằng hai hàng chữ nắn nót:


Sa trường chí nhượng tài trai


Phòng xuân trỗi gót dặm ngoài có em.


Tình cảm đã trở nên sâu đậm, nhưng vẫn đang là một người tù, nên Sơn Vương đành nén lại, chờ đợi. Cuối cùng, ông cũng đã tìm được thời điểm. Khi trở thành Chủ tịch ủy ban hành chính Côn Đảo, Sơn Vương lập tức chỉ định ngay Lệ Hoa làm Hội trưởng Hội phụ nữ của đảo. Từ đây, người tù đã có thể công khai trò chuyện với người yêu mà không sợ sự ngăn cấm của ông bố Vệ Liễn - người gác ngục.


 


4. Đảo quốc Côn Lôn và những tham vọng phiêu lưu


Công bằng mà nói, trong thời gian nắm quyền lãnh đạo quần đảo Côn Lôn, Sơn Vương đã làm được khá nhiều điều tốt đẹp, góp phần ổn định cuộc sống và giữ gìn an ninh trật tự trên đảo. Nhưng đó chỉ là giai đoạn đầu, khi những người Cộng sản còn có mặt. Ngay sau khi phái đoàn Văn Cừ trở về đất liền, không còn ai kiềm giữ, bản chất lục lâm thảo khấu, anh hùng cá nhân trong con người Sơn Vương mới thật sự bộc lộ.


Đầu tiên, Sơn Vương cho sửa sang lại phần mộ của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh và tổ chức một lễ tế khá rình rang. Trước bàn thờ mới lập, khói hương nghi ngút, Sơn Vương tuyên bố:


- Từ nay, quần đảo Côn Lôn chính thức trở thành “Quốc gia trung lập dân chúng quần đảo An Ninh” (Etat neutre des Insulaire de L’ Archipel d’ An Ninh).


Đồng thời, ông tự xưng là... Quốc vương của “quốc gia” mới lập. Không ít người trên đảo tỏ ý không phục, Sơn Vương tìm cách giải thích bằng cách tung ra luận điệu:


- Tên tôi là Sơn Vương, có nghĩa là “Vương” của đảo Côn Sơn, mệnh ấy do trời định.


Giải thích xong, Sơn Vương tuyên bố:


- Bất cứ ai chống lại mệnh trời, người đó sẽ bị
trừng trị.


Chưa hết, dù các ban bệ trên đảo đều được thành lập bằng con đường bầu cử, nhưng Sơn Vương vẫn cố tình biến nó thành một thứ triều đình. Mỗi một buổi họp, Sơn Vương chễm chệ trên chiếc ghế bành kê ở thềm cao, bá quan văn võ xếp hai hàng ngồi thấp phía dưới. Trước khi muốn báo cáo, mọi người đều phải tiến ra giữa hai hàng người chắp tay trước mặt Sơn Vương và mở đầu bằng câu: “Thưa thủ lãnh..!”.


Sau ngày 15.12.1945, không còn người tù chính trị nào ở lại, cả đảo chỉ còn lại toàn thường phạm cũ, cho nên triều đình phường tuồng của Sơn Vương không bị ai phản đối. Nhưng, đám lưu manh cũng nhân cơ hội đó ngóc đầu dậy, hành hung sách nhiễu dân chúng trên đảo. Cảnh sát trưởng Nguyễn Thành út vốn xuất thân là một tên du thủ du thực, bị kết án 10 năm khổ sai, đã nhiều lần ngang nhiên vào nhà dân giở trò cướp bóc, trêu ghẹo phụ nữ. Biết chuyện, thay vì đưa út ra kỷ luật công minh, Sơn Vương lại có cách xử sự hết sức quái chiêu và đẫm chất giang hồ. Trước văn võ bá quan, ông thẳng tay giáng cho Nguyễn Thành út một tát tai và ném ra lời thách thức:


- Tôi với anh giao đấu tay đôi. Nếu thắng, anh muốn làm gì mặc sức. Nếu thua, tôi sẽ chặt một cánh tay để anh khỏi làm bậy.


Tự lượng sức không thắng nổi Sơn Vương, Nguyễn Thành út đã dập đầu lạy như tế sao, xin Sơn Vương tha tội. Từ đó, nạn cướp bóc, sách nhiễu dân chúng mới lắng xuống.


Trở thành “quốc vương” của quần đảo, Sơn Vương bắt đầu nghĩ đến việc thực hiện giấc mơ của ông:  cưới Lệ Hoa làm vợ. Ông đặt ra một bài vè tự ca ngợi mình, bắt trẻ con trên đảo hát, coi đó như “Quốc ca Côn Lôn quốc”. Trong đó có câu:


Lệ Hoa đệ nhất Côn Lôn quốc


Trương Vạn Năng tứ hải vô song...


Tình thâm của Sơn Vương, con gái người gác ngục không từ chối. Nhưng Vệ Liễn, cha cô thì vẫn khăng khăng cự tuyệt, không chịu gả con gái cho “tên tù kẻ cướp”. Thuyết phục mãi không được, Sơn Vương đành phải lập kế. Ông cho hàng loạt đàn em thảo đơn tố cáo tội ác của giám thị Nguyễn Văn Liễn đối với tù nhân của chế độ trước. Lá đơn tố cáo với hàng chục chữ ký được đệ trình lên cho “quốc vương” yêu cầu minh xét. Nắm cớ, Sơn Vương sai Cảnh sát trưởng Nguyễn Thành út bắt Vệ Liễn tống giam để “điều tra”.


Cha bị bắt, Lệ Hoa hoảng sợ, vào gặp Sơn Vương khóc lóc, năn nỉ xin thay cha chuộc tội. Chỉ đợi đến đó, Sơn Vương liền sai một tay Hội đồng dân biểu là Nguyễn Văn Đây (Hai Đây) vào khám gặp Vệ Liễn. Hai Đây vạch cho viên cựu giám thị rõ:


- Ông chỉ còn một con đường, gả cô Lệ Hoa cho Sơn Vương, nếu không sẽ chết. Nếu gả con gái, ông nghiễm nhiên đã là nhạc phụ của chúa đảo, tất nhiên không ai dám đụng đến ông, mọi tội lỗi xưa coi như xóa sạch.


Vệ Liễn suy nghĩ hồi lâu, sau đó xin được gặp con gái và đem toàn bộ thiệt hơn hỏi ý Lệ Hoa. Dù trong lòng cờ mở trống giong nhưng Lệ Hoa cũng vờ tỏ ra miễn cưỡng khi gật đầu, không quên kèm theo lệ chảy hai hàng. Cô muốn tỏ rõ một sự hy sinh đành nhận lời bán mình chuộc cha cho thật giống Thúy Kiều, dù trong tim cô không còn mơ ước nào lớn hơn là được làm vợ Sơn Vương.


Ngày 28.2.1946, đám cưới của Sơn Vương - Lệ Hoa được tổ chức. Lúc này, trên đảo còn lại 200 bao gạo, một phần ba trong đó đã mục nát. Sơn Vương cho xuất một phần số gạo mục này ra xay bột làm bánh hỏi, bún, bánh bò rễ tre, nấu rượu và cho bắt heo quay làm tiệc đãi khách. Để xứng đáng với địa vị một quốc vương, ông sai người dọn dẹp, quét vôi trang trí lại ngôi nhà của chúa đảo Hilaire để làm tổ ấm hạnh phúc đón dâu. Chiếc xe Jeep của chúa đảo cũng được sơn lại và kết hoa để làm xe rước dâu. Xe hoa chở cô dâu chú rể chạy lòng vòng khắp đảo suốt cả buổi sáng. Trẻ con trên đảo chạy theo la hét inh ỏi. Trên xe, Sơn Vương liên tục vẫy tay chào đám “thần dân”. Đến tận sáng hôm sau, mọi người vẫn tha hồ ăn uống và nhảy múa. Có lẽ, đây là đám cưới lớn nhất có một không hai ở Côn Đảo.


 


* * *


Khi quyết định tổ chức đám cưới linh đình, Sơn Vương đã gặp không ít lời dị nghị và phản đối. Đang say cả men tình lẫn men quyền lực, ông vẫn bất chấp. Ngay sau hôm hôn lễ, có một người là ông già Quýt đã công khai đứng ra chỉ trích Sơn Vương về hai tội: Thứ nhất, lạm dụng quyền hành để ép hôn Lệ Hoa. Thứ hai, tổ chức đám cưới quá thừa mứa và lãng phí, trong khi lương thực, thực phẩm trên đảo đã cạn kiệt. Đang ngây ngất, Sơn Vương đùng đùng nổi giận sai thủ hạ giết chết ông lão. Ngày 26.3.1946, xác ông già Quýt được phát hiện. Dân chúng trên đảo lập tức kéo nhau đến dinh chúa đảo, gào thét đòi truy tìm và trừng trị kẻ thủ ác. Lúc này, Sơn Vương mới bắt đầu nao núng, đành phải hứa tổ chức điều tra.


Do không được tiếp tế, Côn Đảo bắt đầu phải đối diện với nạn đói, thiếu thuốc men, nhu yếu phẩm nghiêm trọng. Bí thế, Sơn Vương vội cử người về đất liền xin viện trợ. Nhưng chờ mãi, đoàn sứ giả vẫn không quay trở lại. Túng quẫn, đám lưu manh lại bắt đầu lộng hành, tha hồ đào tường khoét vách, bắt cóc tống tiền không sao dẹp hết. Nhiều người dân trên đảo không chịu nổi đã liều lĩnh tự đóng ghe, bè trốn về đất liền. Không quản nổi trật tự, Sơn Vương bèn ban lệnh: ai tự ý bỏ trốn sẽ bị nhốt xà lim chín tháng. Vô ích. Số người bỏ trốn vẫn ngày một tăng. Trong khi đó, radio lại phát ra toàn tin xấu: Pháp đã tái chiếm Nam Kỳ, chiến tranh đã quay trở lại... Côn Đảo đã bị cô lập và viễn cảnh bị Pháp tái chiếm đã không còn xa xôi nữa.


Trong tình cảnh rối ren đó, Lệ Hoa tỏ ra sáng suốt hơn cả. Cô khuyên Sơn Vương: nên về đất liền tham gia kháng chiến hơn là ngồi bó tay chờ Pháp đến nộp mình.


Sơn Vương đồng ý. Ông thảo công văn gửi Chủ tịch ủy ban kháng chiến tỉnh Sóc Trăng Dương Kỳ Hiệp ngỏ ý muốn xin về kháng chiến, đồng thời nhờ ông chủ tịch tạo điều kiện cho sứ giả của Sơn Vương gặp phái đoàn Văn Cừ để bàn tính dọn đường về. Đoàn sứ giả gồm: Trần Phẩm - cựu tù nhân, mã tà 88 Đức và hai thành viên khác (một nam, một nữ) trong ủy ban hành chính Côn Đảo. Vào đất liền, hai tuần sau họ mới trở lại nhưng không bắt được liên lạc. Họ cho biết: trong đất liền, chiến tranh đã lan rộng, quân Pháp đã chiếm được nhiều nơi.


Nóng lòng và hoang mang, Sơn Vương tính nước manh động đánh bài... chuồn! Ngày 20.3.1946, ông cho hạ thủy một chiếc thuyền, dự định cùng Lệ Hoa và một số người tin cẩn bỏ trốn. Nhưng do thuyền đóng vội, vừa xuống nước đã bị sóng đẩy vào bờ đá và đánh vỡ tan nên dự định đã bất thành.


Biết không còn đường rút, ngày 25.3.1946, Sơn Vương đã tập trung dân chúng để nghe ông đọc một bài diễn văn xin nhường quyền cai trị lại cho những người Pháp trên đảo. Nhưng, những người Pháp có mặt đã không nhận. Ông lại phái thêm 3 người về đất liền đi sứ, yêu cầu Pháp tiếp tế lương thực cho Côn Lôn, đồng thời xin cho mình một bộ đồ, 1 súng lục, 1 nón nỉ và 1 xe đạp. Giấc mơ “định bá đồ vương” trong tuyệt vọng đã teo lại thành vài món đồ vặt vãnh, song Sơn Vương cũng không được toại nguyện. Thay vì trả lời, quân Pháp đã tống giam 3 sứ giả của Sơn Vương vào bót Catinat và phái tàu chiến ra tái chiếm Côn Đảo.


Ngày 8.4.1946, đại úy Gimbert chỉ huy ba chiến hạm chở 2 đại đội lính hỗn hợp gồm cả Pháp, Âu - Phi và lính bản xứ tiến vào Côn Đảo theo đường Bãi Nhà Thờ. Mờ sáng, nghe đại bác Pháp bắn lên bãi để dọn đường, Sơn Vương đã dẫn toàn bộ “triều đình” chờ sẵn ở bậc thềm trụ sở để nghênh tiếp. Nhưng, ông không còn đủ thời gian để đọc nốt bài diễn văn cuối cùng của đời mình. Theo lệnh của Gimbert, Sơn Vương và toàn bộ tù thường phạm còn lại (gồm 400 người) đã bị tống giam ngay tức khắc. Riêng Lệ Hoa và gia đình cô, Pháp vẫn cho tự do ở trên đảo.


 


* * *


Khi ba chiến hạm Pháp vừa tiến vào Bãi Nhà Thờ, một tên Việt gian là Đinh Công Thành đã bí mật lẻn ra Sở Muối cung cấp tin tức và dẫn đường cho quân Pháp đổ bộ. Sơn Vương bị tống ngục, tên Thành mượn gió bẻ măng, đứng ra tố cáo ông là phần tử nguy hiểm, cần phải canh gác cẩn thận. Vì vậy, Sơn Vương bị quân tái chiếm đối xử hết sức tàn tệ, suýt nữa bị đem ra hành hình tại chỗ. Nhờ có Lệ Hoa và giám thị Toustou đứng ra xin giúp, ông mới tránh được cái chết đã kề gang tấc.


Vào tù, Sơn Vương lại gặp thêm một đại nạn. Bị ông tát tai sỉ nhục dạo trước, tên lưu manh Nguyễn Thành út nung nấu chờ cơ hội trả thù. Hắn đã không ngần ngại bịa ra chuyện Sơn Vương đang giữ bản đồ kho báu của Gia Long giấu lại trên đảo khi chạy trốn quân Tây Sơn năm 1783. Tưởng thật, chúa đảo Gimbert và tên cò Pellier đã tra tấn Sơn Vương hết sức dã man để bắt ông khai nơi giấu bản đồ. Bị đánh đập quá đau, Sơn Vương đành nhận bừa là có kho báu và vẽ lại một tấm bản đồ ma. Vì tội đó, ông lại bị thêm hàng chục trận đòn dã man khác.


Năm 1947, Sơn Vương bị điệu về Sài Gòn để hầu tòa. Với hai tội danh mới là cưỡng hôn Lệ Hoa và giết ông già Quýt, Sơn Vương phải lĩnh thêm một án tù chung thân khổ sai. Sau đó, ông bị đưa ra lại Côn Đảo để thi hành án, trở thành tù nhân mang thẻ số 313C, giam tại hầm số 8, khu biệt lập, lao 2. Vào tù, ông viết thư cho vợ Vệ Liễn, yêu cầu bà thuyết phục chồng về Sài Gòn làm việc để Lệ Hoa có cơ hội tái giá, và quên hẳn mình. 6 tháng sau, Sơn Vương nhận được thư, một số nhu yếu phẩm và 2000 đồng do Lệ Hoa gửi người quen cầm vào. Sau đó, chim trời cá nước, cả hai bặt tin nhau cho đến tận cuối đời.


Sáu năm sau, ngày 8.8.1953, trong một buổi được ra ngoài lao động, Sơn Vương đã bất ngờ chạm trán với Nguyễn Thành út, kẻ đã vu oan giá họa cho ông trong chuyện “kho vàng”. Lúc này, út đã được bọn gác ngục cho làm “cặp rằng” để hành hạ tù nhân. Máu hận thù sôi lên đẩy Sơn Vương xông tới. Nắm chặt cổ áo tên chó săn đã vu oan giá họa cho mình, Sơn Vương bảo:


- Mày là con chó không đáng sống. Nhưng nếu bây giờ tao giết mày, người ta lại bảo là tao trả thù không quân tử. Thôi thì tao cho mày cơ hội cuối cùng, mày với tao quyết đấu. Muốn chơi bằng thứ vũ khí gì, mày hãy chọn đi.


Không còn đường trốn tránh, Sơn Vương vừa quay lưng, Nguyễn Thành út đã vớ ngay một khúc cây, từ phía sau nhắm thẳng đầu ông bổ xuống. Cú đánh lén không đạt mục đích. Chỉ một cú xoay người Sơn Vương đã tước được vũ khí của tên lưu manh mạt hạng. Thuận tay, ông giáng cho hắn một gậy nằm quay đơ. Vốn căm ghét tên “cặp rằng” tàn ác, các tù nhân khác đã không can thiệp để mặc cho Sơn Vương đập nát thây Nguyễn Thành út. Vì tội mới, Sơn Vương lại phải nhận thêm một án chung thân khổ sai nữa. Theo qui định, án chung thân hồi đó được tính là 32 năm. Tổng cộng, đời Sơn Vương đã 4 lần nhận án gồm 1 lần 5 năm, 1 lần 10 năm và hai án chung thân (32 năm). Tính tổng cộng, ông phải nhận mức án những 79 năm tù.


 


* * *


Mãi cho đến năm 1968, sau đúng 34 năm ngồi tù (từ 1933), Sơn Vương mới được ân xá. Trước đó, năm 1967, tờ Tin Sáng và một số tờ báo đối lập ở Sài Gòn đã liên tục đăng bài điều tra về chế độ hà khắc, phát xít của nhà tù Côn Đảo. Cũng trong năm này, liên minh Thiệu - Kỳ đã đắc cử Tổng thống và Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Để mị dân, Thiệu - Kỳ hứa sẽ tìm hiểu và cải thiện điều kiện sinh hoạt ở Côn Đảo. Biết Sơn Vương ngày xưa từng là một nhân vật khá có tiếng tăm, trong khi hiện tại gần 60 tuổi, đã sức tàn lực kiệt, không còn khả năng gây nguy hại cho bộ máy quyền lực Việt Nam Cộng hòa, Thiệu - Kỳ quyết định giải thoát cho Sơn Vương, hòng lấy lòng dân chúng. Ngày 18.11.1968, ông được phóng thích. Thiệu - Kỳ đã điều hẳn một chiếc trực thăng quân đội bay ra đảo đón ông về.


Trở lại đời thường, Sơn Vương được khá nhiều báo chí thời đó săn đón. Thiên phóng sự Sơn Vương - người tù thế kỷ mà ông cho đăng feilleuton trên một số báo chí chỉ khiến dư luận ồn ào được một thời gian ngắn. Chiến tranh đang ngày một khốc liệt, người dân miền Nam còn nhiều chuyện đáng để quan tâm hơn một số phận Sơn Vương.


Bị cuộc đời quên lãng, Sơn Vương lặng lẽ lui về sống ẩn dật ở một ngôi nhà nhỏ trong con hẻm ngoằn ngoèo, nay là nhà số 137/52 Nguyễn Cư Trinh, quận 1, Tp. Hồ Chí Minh. Tại đó, ông mưu sinh bằng nghề bốc thuốc Nam gia truyền. Căn nhà nhỏ có gác gỗ này do bà Phạm Thị Hoa - người vợ gá nghĩa lúc tuổi đã xế bóng - tậu cho ông. Năm 1978, Sơn Vương ly dị bà Hoa, tiếp tục gá nghĩa với Nguyễn Thị Tám, một người đàn bà thua ông 30 tuổi.


Thỉnh thoảng, một vài người khách, thường là các nhà văn, nhà nghiên cứu sử học, những người có quan tâm đến lịch sử nhà tù Côn Đảo có ghé đến ngôi nhà nhỏ thăm hỏi Sơn Vương. Thời gian còn lại, ông sống trong cô độc, không bạn bè, không gia đình và không cả hồi quang quá khứ. Mỗi lúc có khách, ông già Sơn Vương ngày thường sống âm thầm, lặng lẽ lại tỏ ra hoạt bát hẳn. Trong những lúc hồi tưởng lại thời quá vãng, Sơn Vương thường tỏ ý tiếc nuối bởi thời trai trẻ dọc ngang không gặp được cách mạng, không đem được tài năng nhiệt huyết cống hiến cho dân tộc. Ông thường ngửa mặt than:


- Vì máu anh hùng cá nhân, đời tôi vĩnh viễn chỉ còn lại là huyền sử quá gần tội lỗi, không còn dịp để bước vào chính sử như sở nguyện.


Những lúc như vậy, Sơn Vương thường để khách ngồi lại một mình bên bàn trà, chạy xuống bếp, xách lên một con dao yếm. Vén áo, phơi bụng và vận công, Sơn Vương mạnh tay chém dao bình bịch vào bụng, mặc cho khách trợn mắt, tái mặt vì kinh sợ và thầm phục. Sau đó, khẽ vuốt lại những đường lằn nổi đỏ trên khoang bụng, tay giang hồ tóc bạc lại nở một nụ cười buồn và tự huyễn hoặc mình, rằng:


- Bụng vẫn còn cứng!


Năm 1984, Sơn Vương trở lại quê nhà Gò Công và mất tại đó vào năm 1987.


 


5. Và cha và con và...


Giữa tháng 8 năm 1999, hơn 12 năm sau ngày Sơn Vương mất, bằng những tư liệu về ông thu thập trong nhiều năm, trên báo An ninh thế giới chúng tôi đã cho đăng một loạt tư liệu nhiều kỳ có tựa là: Quái kiệt Sơn Vương và 32 năm ngồi tù khổ sai Côn Đảo. Chưa thật đầy đủ, song loạt bài cũng đã cung cấp cho người đọc được những nét chính về một nhân vật giang hồ kỳ lạ và khá độc đáo, một hình ảnh mang đậm cá tính phóng khoáng, kiên cường của người Nam Bộ những thập niên đầu của thế kỷ XX. ít nhiều, loạt bài viết cũng có được khá đông đảo bạn đọc đón nhận với thái độ quan tâm thú vị. Một số bạn đọc sau đó còn nhiệt tình giúp chúng tôi tìm thêm tư liệu hình ảnh về nhân vật, hòng hoàn thiện thêm bức chân dung độc đáo và khá lãng mạn của một tay giang hồ quái kiệt.


Một tháng sau ngày loạt bài ra số đầu tiên, tại một căn nhà khang trang trên đường Tân Kỳ Tân Quý, quận Tân Bình, chúng tôi đã may mắn được tiếp xúc và trò chuyện với một bạn đọc hết sức đặc biệt và bất ngờ. Đó là một bà cụ chừng 70 tuổi, dáng vẻ khá lịch lãm, tự tin - phong cách thường gặp ở những tao nhân mặc khách. Trên khuôn mặt của cụ, tuổi tác vẫn chưa xóa hết được dấu vết của một người đàn bà có nhan sắc mặn mà, khi còn trẻ có thể được xem là mỏng mày hay hạt. Rót nước mời chúng tôi, bà cụ tự giới thiệu về mình:


- Tôi là Trương Ngọc Nữ, con gái của nhà văn Sơn Vương Trương Văn Thoại. Tôi vừa về từ Canada được đúng một ngày.


Lời giới thiệu khiến tôi giật mình. Quả thật, người đàn bà ngồi trước mặt tôi giống Sơn Vương như đúc. Cũng khuôn mặt nhỏ, thanh tú, cũng sống mũi cao, vầng trán rộng và đặc biệt là cái miệng với đôi môi luôn mím chặt... So với ảnh Sơn Vương lúc về già, bà Nữ không khác chút nào. Không thể nghi ngờ, song tôi hết sức phân vân, bởi trong quá trình tìm tư liệu về ông kéo dài suốt nhiều năm, tôi chỉ biết chắc một điều là Sơn Vương có khá nhiều vợ nhưng chưa bao giờ nghe ai nhắc đến chuyện tay lãng tử bạc đầu này có một người con. Mối băn khoăn vừa thoáng hiện ra đã lập tức được xua tan bởi dòng hồi ức tuôn như suối của bà Trương Ngọc Nữ...


 


* * *


Khoảng giữa năm 1930, khi vị Đại sư ẩn danh ở núi Ông Trịnh bắt đầu lâm trọng bệnh thì việc học võ và học đạo của Sơn Vương bắt đầu bị gián đoạn. Anh thường hay rời núi về Sài Gòn tìm thuốc cho thầy, sau đó tìm nơi ở trọ để tĩnh tâm bắt đầu theo đòi món nợ văn chương. Chỗ trọ đầu tiên của gã lãng tử là một xóm nhỏ ở xã Nhị Thành, huyện Hóc Môn. Tại đó, Sơn Vương đã trót phải lòng một cô hàng xén. Buổi sáng, cứ đúng giờ Sơn Vương dậy chạy thể dục, luyện công thì đầu xóm, cô thôn nữ cũng dậy sớm để dọn hàng. Thói quen giờ giấc đã xui họ gặp gỡ, phải lòng nhau và lén lút ăn ở với nhau. Trót đa mang một kiếp giang hồ rày đây mai đó, Sơn Vương không lưu lại lâu dài nơi xóm vắng. Ngày rời đi, Sơn Vương không hề chia tay với người yêu, cũng chẳng có lấy một lời thề hẹn hay nhắn nhủ. Thói mai quán chiều lều đã khiến Sơn Vương không hề biết rằng có một giọt máu của anh đang hoài thai trong lòng cô thôn nữ. Khi cô hàng xén trở dạ sinh được một bé gái kháu khỉnh thì Sơn Vương đã bặt tăm cá nước chim trời, không một lần lai hồ cố thổ. Một mình Sơn Vương vô tình nhưng cô thôn nữ thì không. Dù gã người tình không hề quay trở lại, cô vẫn lấy họ của anh để đặt cho con gái cái tên Trương Ngọc Nữ.


Ngọc Nữ càng lớn càng xinh đẹp, giống cha như đúc, được ăn học tử tế đàng hoàng. Sau này, qua lời mẹ kể, cô biết mình có một người cha phiêu bạt từ lâu nhưng hiện ở phương nào thì cô chịu chết. Ngoại trừ cái tên Trương Văn Thoại, cô không biết gì thêm về cha đẻ của mình.


Năm 17 tuổi, Ngọc Nữ bỏ nhà vào bưng theo kháng chiến. Nhờ có học thức, cô nhanh chóng trở thành thư ký của ủy ban Hành chính kháng chiến Nam Bộ, sau đó trở thành thư ký riêng của trung tướng độc nhãn Nguyễn Bình. Thời gian đầu, cô gái trẻ gọi vị tướng bằng chú, không hay biết chú Bình chính là người em kết nghĩa Nguyễn Phương Thảo thời trai trẻ của cha mình. Tướng Nguyễn Bình cũng không mảy may nghĩ đến việc cô thư ký trẻ trung xinh đẹp cạnh mình lại chính là giọt máu rơi của người anh kết nghĩa Sơn Vương. Thời kháng chiến, việc nước ngập đầu, không phải lúc nào người ta cũng có thời gian để nhận ra một mối duyên riêng tư kỳ ngộ, dù nó vẫn tồn tại ngay bên cạnh. Trong những lúc trò chuyện hiếm hoi, cả hai chú cháu cũng chưa bao giờ nhắc đến Sơn Vương.


Có thể coi cô gái Trương Ngọc Nữ là một hình mẫu của típ sinh viên học sinh Sài Gòn xếp bút nghiên theo kháng chiến, đến với cuộc đấu tranh của cả dân tộc bằng cả bầu nhiệt huyết lẫn sự ngây thơ lãng mạn. Sự khắc nghiệt của chiến tranh không hề làm giảm mà ngày một tăng sự kính phục hóa thành ngưỡng mộ trong lòng cô đối với Nguyễn Bình - vị tướng oai hùng và cũng rất hào hoa. Vì thế, trước những lời ngỏ ý gần xa của các anh Vệ quốc đoàn, cán bộ kháng chiến cùng cơ quan hay những người vì công tác thường có dịp ghé ngang khu bộ, cô gái trẻ vẫn không hề lay động. Tất cả tâm trí, tình cảm, cô dành hết để nghĩ về một người, không ai khác chính là vị tướng lớn hơn cô 15 tuổi. Dĩ nhiên, tướng Nguyễn Bình không khó gì mà không nhận ra tấm ân tình mà cô gái trẻ dành trọn cho ông. Trong thâm tâm, vị tướng cũng hết mực cảm mến, thường tỏ ra đặc biệt quan tâm chăm sóc cô nhân viên xinh đẹp. Không biết từ bao giờ, từ chú cháu, hai người đã đổi sang gọi anh, em trìu mến. Nhưng tất cả chỉ dừng lại ở mức độ đó, bởi tướng Nguyễn Bình lúc đó đã có gia đình.


Mối tình câm của cô học sinh thành thị bỏ nhà theo kháng chiến đang vào hồi vô vọng thì Ngọc Nữ nhận được hung tin: tướng Nguyễn Bình hy sinh khi trên đường ra Bắc công tác. Thương nhớ đã khiến lòng cô hóa đá. Từ đó, cô bỏ ngoài tai tất cả mọi lời ong bướm của không biết bao nhiều chàng trai ngưỡng mộ, chỉ khư khư giữ trong lòng mình một hình bóng Nguyễn Bình mà không hề thổ lộ cùng ai. Thỉnh thoảng, để nguôi ngoai thương nhớ, cô lại len lén bày ra một trò mê tín: cầu cơ. Cô tin rằng đó là cách duy nhất để cô có thể tự do được trò chuyện, thổ lộ tâm tình với vị tướng đã khuất mà cô hằng yêu trộm nhớ thầm. Nhiều năm trôi qua, gia tài quí nhất mà cô giữ khư khư - đến tận ngày nay - là cuốn sổ dày chép lại hàng trăm bài thơ - “biên bản” những lần trò chuyện bằng cách cầu cơ giữa cô với linh hồn đã khuất của tướng Nguyễn Bình. Không nói thì ai cũng biết, trong những bài thơ ấy, cô cứ mãi là một Trương Ngọc Nữ vĩnh viễn 17 tuổi.


 


* * *


Năm 1964, khi tuổi thanh xuân đã sắp trôi qua hết, cô mới chịu lập gia đình. Chồng sắp cưới của cô là một kỹ sư hàng không dân dụng làm việc tại phi trường Tân Sơn Nhất. Ngày cưới sắp đến thì báo chí Sài Gòn đua nhau đăng tin: Tội nhân chung thân cấm cố khổ sai Trương Văn Thoại, tức nhà văn kiêm tướng cướp Sơn Vương lừng lẫy một thời sẽ được đưa về Sài Gòn để làm nhân chứng cho một phiên tòa. Đến lúc này, người mẹ của Ngọc Nữ mới cho cô hay Sơn Vương chính là cha đẻ của cô. Chưa kịp mừng vì biết tin cha còn sống, lại biết thêm rằng ông từng là một nhà văn, Trương Ngọc Nữ đã cảm thấy choáng váng và xấu hổ khi phải nhìn nhận mình có một người cha là tên cướp lừng danh. Nhưng tình máu mủ thiêng liêng đã trở thành sự thôi thúc mãnh liệt và không thể cưỡng. Nhờ sự tháo vát của người chồng chưa cưới, Ngọc Nữ đã xin vào được tận buồng giam để lần đầu tiên được biết mặt cha. Tất cả chỉ hai lần gặp mặt, mỗi lần 30 phút. Nước mắt mừng tủi của cuộc hạnh ngộ trùng phùng không san bằng hết được khoảng cách giữa hai cha con. Trừ những người trong nhà, Ngọc Nữ không hề kể cho ai nghe về cuộc gặp gỡ. Trong nhà tù, dù rất muốn, họ vẫn không hề gọi nhau bằng hai tiếng cha, con, chỉ gọi nhau bằng chú, cháu. Sơn Vương xấu hổ không dám xưng cha bởi với con gái ông không hề có ơn dưỡng dục. Ngọc Nữ thì cố chấp không chịu thừa nhận một tướng cướp là cha.


Tình trạng dùng dằng này tiếp tục tái diễn khi Sơn Vương được trả tự do vào năm 1968. Ra tù, Sơn Vương không về sống chung với vợ con mà tiếp tục số phận ăn quán ngủ đình. Vợ cũ của ông, mẹ của Ngọc Nữ đã mất, giữa hai cha con mối ràng buộc máu mủ cũng không làm mặn nồng hơn những tình cảm trước ngày gặp mặt nhau. Đôi lúc, có viếng thăm hay vô tình gặp gỡ, hai cha con vẫn cương quyết giữ cách xưng hô chú, cháu. Sơn Vương thỉnh thoảng cũng có viết cho con gái mấy dòng thư, chủ yếu để giải thích chuyện này chuyện nọ hoặc bày tỏ sự nuối tiếc với con gái. Cũng có khi ông gửi cho con gái một vài bức ảnh của mình nhưng lời đề tặng ở mặt sau lại cố tình ghi chệch đi là “Tặng cháu Ngọc Nữ, theo yêu cầu của cháu” hoặc một lý do gì đó tương tự, cố xóa đi mọi vết tích có thể gúp nhận diện mối quan hệ cha con. Hầu như Ngọc Nữ chẳng bao giờ trả lời thư ông. Nhưng không hiểu sao, tất cả mọi lá thư ấy cô đều cất giữ rất kỹ càng. Có lẽ, dù có bộc lộ hay không thì tình cha con cũng là điều có thật và không thể chối bỏ.


Sau năm 1975, bà Trương Ngọc Nữ theo chồng sang định cư tại Toronto (Canada). Mối liên hệ giữa hai cha con xa cách dần dần. Thậm chí khi Sơn Vương mất cũng phải nhiều tháng sau bà mới biết tin...


Tại Canada, gia đình bà Trương Ngọc Nữ sống tương đối bình lặng nhưng thành đạt. ít nhiều một chút máu văn chương và nghiệp cầm bút của Sơn Vương vẫn còn được lưu truyền trong những hậu duệ của ông đang sinh sôi nảy nở ở xứ người. Một cô con gái bà Ngọc Nữ, tức cháu ngoại Sơn Vương hiện đang là chủ bút của tờ Sài Gòn Toronto, một tờ báo tiếng Việt xuất bản tại Canada. Chính vì mối quan tâm đối với lĩnh vực thông tin báo chí nên dù ở cách xa nửa vòng trái đất, gia đình bà Ngọc Nữ vẫn thường xuyên tiếp xúc được với không ít sách báo từ trong nước gửi sang. Nhờ đó, loạt bài viết của chúng tôi về quái kiệt Sơn Vương đã có dịp khuấy động một chuỗi hồi ức buồn trong tâm hồn họ. Theo lời của bà Trương Ngọc Nữ thì phải đến tận lúc đọc loạt bài viết của chúng tôi, bà mới hiểu rõ được thân thế của người cha đã khuất. Lần đầu tiên bà nhận ra rằng không chỉ là một tướng cướp mà danh xưng chỉ gợi lên một khái niệm tội lỗi hay một sự băng hoại về mặt nhân cách, người cha Sơn Vương của bà còn là một tay hảo hán thực thụ, coi thường và căm giận bạo lực áp bức, đầy lòng nhân ái với người nghèo. Những vụ cướp kinh thiên động địa của ông không phải chỉ để mưu cầu cho riêng bản thân một cuộc sống xa hoa mà hướng nhiều tới mục đích cứu giúp người khốn khó và trừng trị những kẻ nợ máu, làm giàu trên sự bần cùng và xương máu của nhân dân. Quan niệm, việc làm vị nghĩa của Sơn Vương có thể sai lầm về cách thức song rất đáng được trân trọng. Cũng chính vì những việc làm ấy nên ông mới phải giam thân hơn 30 năm trời phía sau song sắt nhà tù, cho nên mới không thể nuôi dạy con cho tròn đạo làm cha, kể cũng không thể trách. Hơn thế nữa, với một người cha như Sơn Vương, bà Ngọc Nữ tự thấy mình còn có thể tự hào, bởi người cha của bà đã ít nhiều dự phần vào lịch sử, hay nói đúng hơn, đã trở thành nhân chứng của một thời... Chưa hết, Sơn Vương còn là anh kết nghĩa của tướng Nguyễn Bình - người đàn ông mà hình bóng đã khắc sâu vào đáy trái tim bà. Chỉ riêng điều đó thôi, với bà Ngọc Nữ cũng đã là tất cả.


Đáng tiếc, hiểu ra thì đã muộn. Người cha mà trong đời bà chưa một lần được gọi tiếng cha đã hóa người thiên cổ, tất cả còn lại chỉ là những giọt nước mắt tiếc nuối.


Không chịu đựng được nỗi dày vò, ngay sau khi đọc xong loạt bài trên báo, bà Ngọc Nữ đã vội bay ngay về Việt Nam để tìm gặp cho bằng được chúng tôi. Qua một người cháu họ - chị Hạnh, nhân viên tín dụng của Ngân hàng Vietcombank - bà Ngọc Nữ đã nhất quyết mời cho bằng được tác giả bài báo tới nhà để bà có thể nói một tiếng cảm ơn, đồng thời để được chia sẻ niềm hạnh phúc được thừa nhận có cha, cho dù hạnh phúc ấy đến với bà đã quá muộn màng.


Dĩ nhiên, là một người cầm bút, không ai có thể thờ ơ với số phận nhân vật của mình. Tôi đã thật sự cảm thấy hạnh phúc khi được trao lại cho bà Ngọc Nữ toàn bộ những hiểu biết, hình ảnh... về Sơn Vương mà tôi đã thu thập được. Không ai xứng đáng giữ những kỉ niệm về một người cha hơn chính một người con. Với tôi, được làm dấu gạch nối cho cuộc chuyển giao đầy ý nghĩa này thật sự là một duyên hạnh ngộ vượt ngoài mong đợi của nghề cầm bút.


Bà Ngọc Nữ cũng không giấu được nỗi xúc động và những giọt nước mắt lăn dài. Lần giở cuốn sổ tay ố vàng chép đầy cả trăm bài thơ, những lần trò chuyện  trong tâm tưởng với vong linh tướng Nguyễn Bình, bà khoe với tôi cả một xấp hình ảnh, thư từ của Sơn Vương mà bà vẫn kẹp ở giữa, được cất giữ cẩn thận suốt mấy chục năm qua. Giữa bề bộn những trang giấy cũ đã đổi màu ấy, tôi nhìn thấy còn có những bản sao giấy chứng minh nhân dân, vài trang bản thảo, một số hình ảnh giấy tờ của Sơn Vương, dăm ba trang báo mà ông là tác giả được cắt rời, thậm chí còn có cả một bản sao tờ phán quyết ly hôn của ông với người vợ thứ ba nữa. Bất cứ thứ gì có liên quan đến người cha, bà Ngọc Nữ đều cóp nhặt, gìn giữ lại như những kỷ vật. Những trang giấy cũ kia với bà là cả một gia tài. Run run lần giở từng mảnh nhỏ, bà khóc.


Theo hiểu biết của tôi, đến tận lúc chết, hiện hữu trên khuôn mặt Sơn Vương vẫn là một ánh nhìn với bờ môi mím chặt đầy khinh bạc. Tin chắc rằng giờ đây, dưới suối vàng, bờ môi ấy sẽ nhoẻn thêm một nụ cười thật hiền lành, thật ấm áp - nụ cười của một người cha khi được nhận mặt con.


 


Vũng Tàu, tháng 9.1999


Tp. Hồ Chí Minh, tháng 9.2003


Nguồn: Người của giang hồ. Truyện ký của Nguyễn Hồng Lam. NXB Công an nhân dân, 2004, tái bản 2006.


www.trieuxuan.info



 



 



 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »