tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21070778
21.03.2011
Nguyễn Hồng Lam
Huyền thoại trên cao nguyên đá


 


KỲ I: NHỮNG CUỘC THIÊN DI


Chúng tôi có mặt tại Đồng Văn vào cận tết Tân Mão, đúng vào những ngày đầu tiên của đợt rét đậm, rét hại kéo dài cả tháng. Buổi sáng sớm, nhiệt độ vào khoảng 7-80C. Rét buốt, dường như không chỉ du khách lười ra đường mà ngay cả đến đá bản địa cũng chẳng muốn cựa mình. Núi đá trập trùng với những triền dốc hình thành nên những cổng trời nổi tiếng Quản Bạ, Cắn Tỷ, Mã Pí Lèng,... cũng im phăng phắc như đang vùi trong giấc ngủ đông dằng dặc. Sâu hun hút dưới chân Mã Pí Lèng (nghĩa là đèo “pín” ngựa), đoạn từ Đồng Văn xuyên sang Mèo Vạc, sông Nho Quế cũng bất động một vệt sáng bạc, chỉ hiện ra mờ  mờ sau lớp sương dày vừa bị những tia  nắng hiếm hoi cuối mùa đông xé rách.


 


Tuy đã là di sản, là thành viên của mạng lưới công viên địa chất toàn cầu, miền đá Đồng Văn vẫn "ngủ yên", theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Chưa có thêm bất kỳ một hoạt động xây dựng, khai thác nào xứng tầm và song hành cùng danh hiệu "di sản địa chất thế giới". Ngay cả cổng chào hay panô, bảng hiệu cũng chỉ mới được dựng thêm dè dặt vài  ba cái ở đầu mỗi huyện lị. Vật liệu xây dựng thô sơ, không giấu giếm ý nghĩa tạm bợ, tượng trưng, sẵn sàng để được tháo dỡ, thay thế  bất kỳ  lúc nào...


 


Thật may mắn, chuyến ngược Hà Giang tôi được đồng hành cùng ông Mã Ngọc Giang, Giám đốc Ban quản lý dự án Công viên Địa chất cao nguyên đá Đồng Văn và Tiến sĩ Mai Thanh Sơn của Viện Phát triển bền vững vùng Trung Bộ, thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Là nhà quản lý, ông Giang nắm số liệu dân cư, địa hình, loại hình di sản và chủ trương bảo tồn, khai thác Công viên Địa chất cao nguyên đá Đồng Văn trong lòng bàn tay.


 


Tiến sĩ Mai Thanh Sơn, nickname "sonhmong" thì lại là người đã có nhiều công trình nhân học - dân tộc học nghiên cứu về lịch sử, văn hóa của một số dân tộc vùng Bắc và Tây Bắc, nhất là với người Mông, quần thể chủ nhân đông đảo nhất của vùng cao nguyên đá. Những thắc mắc của tôi vì thế đã không mất nhiều thời gian để tìm câu trả lời.


 


Ông Mã Ngọc Giang cho biết, từ nay đến hết tháng 6/2011, nhiệm vụ của BQL Dự án là  hoàn tất hồ sơ để phục vụ cho công tác thẩm định theo yêu cầu của GGN. Có tất cả hơn 100 di sản, trong đó có trên 10 di sản quốc tế cực kỳ quý hiếm như hẻm núi Mã Pí Lèng, núi đồi Quản Bạ, hóa thạch cổ sinh, voọc mũi hếch, cây thông đỏ, cây 7 lá 1 hoa... cần được nghiên cứu, đánh giá, thẩm định tỉ mỉ trước khi "chạm tay" vào. Sớm nhất cũng phải đến đầu năm 2012, những dự án tác động đầu tiên, cả vật chất lẫn tinh thần vào cao nguyên đá mới bắt đầu, tránh kiểu can thiệp "xây không bằng phá" đã từng xảy ra một cách đáng tiếc đối với không ít miền di sản khác.


 


Ôm hết mỏm cực Bắc Việt Nam, miền đất di sản Cao nguyên đá Đồng Văn trải rộng trên một khu vực 2.352km2 gồm 4 huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh và Quản Bạ. Trước khi chia tách vào năm 1962, cả 4 huyện này được gọi chung là cao nguyên Đồng Văn. Dân số hiện tại của vùng công viên địa chất vào khoảng 250.000 người, trong đó người Mông đông nhất, chiếm khoảng 77%. Văn hóa Mông, tập quán người Mông... do đó cũng in dấu đậm nét nhất trên vùng đất này. Ngoài ra còn có thêm 16 dân tộc khác như Tày, Dao, Nùng, Lô Lô, Giáy, La Chí, Pà Thẻn, Cờ Lao, Kinh... quần tụ hợp thành một đại gia đình các dân tộc sống rải rác trong 224 làng bản khắp cao nguyên đầy những triền đá.


 


Cột cờ Lũng Cú nằm trên đỉnh núi Rồng, có độ cao trên 1.700m so với mực nước biển. Cách đó chỉ chừng 200m đường chim bay là điểm cực Bắc của đất Việt, nằm giữa lòng sông Nho Quế, ranh giới tự nhiên phân chia cương thổ 2 nước Việt - Trung. Ngay tên gọi của điểm địa đầu cũng đã chứng tỏ  mảnh đất này là nơi sinh sống từ rất lâu đời của nhiều dân tộc khác nhau. Chữ Lũng Cú được giải thích là từ đọc trại của nhiều âm Hán Việt khác nhau, gồm Lùng Cư, Long Cổ, Long Cư, Long Cú... với nhiều ý nghĩa khác nhau như Đất Trồng Ngô, Sừng Rồng, Trống Rồng, Mắt Rồng, hay vùng Đất Rồng, tùy theo quan niệm và cách phát âm của các dân tộc sống quanh đó. Cột cờ đầu tiên được Lý Thường Kiệt dựng nên bằng nguyên một gốc samu lớn đem về từ Quảng Tây (Trung Quốc) sau khi hạ thành Ung Châu trên đất Tống, năm 1076.


 


Dưới chân cột cờ có một bản người Lô Lô lâu đời, tiếng địa phương gọi là Lô Lô Chải (bản người Lô Lô). Đến giữa tháng 1/2011, Lô Lô Chải vẫn chỉ có 96 nóc nhà, 492 nhân khẩu. Ít ỏi, nhưng những người Lô Lô này cùng với một bản người Pu Péo nhỏ khác bên kia núi Rồng lại là những chủ nhân đầu tiên của cao nguyên đá, tổ tiên họ là những người có mặt sớm nhất và có công khai phá đầu tiên miền đất Đồng Văn, trước cả thời điểm Lý Thường Kiệt dựng cột cờ Lũng Cú.


 


Bản Lô Lô này còn giữ 2 báu vật là cặp "khà dừ" (trống đồng), một trống đực, 1 trống mái có niên đại từ thế kỷ XIV. Ngày thường, trống được chôn xuống đất, khi có tang ma hay lễ lạt lớn mới được đào lên, chọn đàn ông đã yên bề gia thất, hội đủ tiêu chuẩn thủ trống. Từ cặp trống đồng này, người Lô Lô Chải có thêm một cách giải thích, rằng Lũng Cú là cách đọc âm của từ Long Cổ, nghĩa là Trống Rồng!


 


Đồng chủ nhân của cao nguyên đá Đồng Văn, người Tày là dân tộc có kho tàng phonklore (văn hóa dân gian) rất phong phú. Bên cạnh những nét tương đồng trong quan niệm, tín ngưỡng... với các dân tộc  láng giềng, kho tàng sử thi, thần thoại, truyện cổ tích, dân ca, tục ngữ Tày còn hàm chứa rất nhiều nét tương đồng văn hóa lúa nước với các tác phẩm truyền miệng cùng thể loại của người Kinh ở miền xuôi. Tuy nhiên, chỉ có người Dao là sắc dân cổ ở Đồng Văn có văn tự riêng, một kiểu chữ Nôm Dao dùng ký tự chữ Hán ghi cách đọc âm tiếng Dao như kiểu chữ Nôm của người Việt miền xuôi.


 


Người Mông được ghi nhận đến muộn hơn, mãi cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII mới có mặt tại Đồng Văn. Về nguồn gốc, tuy còn rất nhiều tranh cãi, song các nhà dân tộc học hầu như đều đồng ý rằng, người Mông Việt Nam nói chung và người Mông cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang) nói riêng là một đại tộc tách ra từ liên minh bộ lạc Cửu Lê sinh sống tập trung ở vùng Kinh Châu - Giang Hoài (nay thuộc tỉnh Hồ Nam và một phần tỉnh Quý Châu, Trung Quốc). Liên minh bộ lạc này hình thành trên cơ sở sự thống nhất các bộ lạc Miêu - Dao cổ có lịch sử khoảng 5.000 năm.


Cột cờ Lũng Cú nhìn từ Lô Lô Chải.


Đèo Mã Pí Lèng từ Đồng Văn qua Mèo Vạc.


Suốt một tiến trình lịch sử dài dằng dặc, trong sự giao thoa, khi tương tác, khi chống đối với đại tộc Hán, liên minh bộ lạc Miêu - Dao đã có những biến động chia tách lớn cả về hai mặt địa lý và xã hội. Sau hàng thiên niên kỷ, địa bàn sinh sống của người Cửu Lê đã ngày một bị dồn sâu xuống phía tây nam khu vực địa bàn của người Hán, tập trung chủ yếu ở vùng Cao nguyên Vân - Quý (Vân Nam - Quý Châu). Trong quá trình thiên di, xã hội Cửu Lê cũng biến động dữ dội nhiều đợt, vừa phân rã, vừa phát triển thành các tộc Tam Miêu, Kinh Man, Kinh Sở, Vũ Lăng Man và cuối cùng phân hóa thành các tộc Miêu - Dao như ngày nay.


 


Tiến sĩ Mai Thanh Sơn cho rằng: "Cho đến nay, chưa ai có thể đưa ra một giả định có tính thuyết phục về thời gian cũng như trình tự phân hóa của các hệ phái Miêu". Kết quả của chuỗi phân hóa này lại tiếp tục hình thành nên hàng loạt sắc dân Mông mang các đặc điểm vừa mang nét tương đồng, vừa có sự khu biệt, gọi bằng những cái tên Mông Đỏ, Mông Đen, Mông Xanh, Mông Hoa, Mông Trắng... Quá trình phân tách diễn ra chủ yếu trong thời Minh - Thanh. Như vậy, về nguồn gốc, trước khi xuất hiện và cùng chung sống trên cao nguyên Đồng Văn, hai dân tộc Mông và Dao đã có quan hệ rất gần về nguồn cội.


 


Để lý giải nguyên nhân thiên di của người Mông vào Việt Nam, hầu hết các nhà nghiên cứu đều dựa vào những biến động xã hội ở khu vực Nam và Tây Nam Trung Quốc giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVII trở về sau. Tuy nhiên, về mốc thời gian lẫn nguyên nhân lịch sử, các giả thiết đều mang những điểm "chỏi" nhau cơ bản và gay gắt. Giả thiết được xem là hợp lý nhất, được nhiều nhà nghiên cứu cả Trung lẫn Việt đồng tình nhất có khuynh hướng gom quá trình thiên di này thành 4 đợt có quy mô lớn.


 


Đợt thứ nhất diễn ra vào mạt kỳ nhà Minh, giữa thế kỷ XVII. Trong hai năm 1658-1659, quân Thanh lần lượt đánh chiếm Quý Dương (Quý Châu) và Côn Minh (Vân Nam), đuổi Vua Minh Vĩnh Lịch chạy sang Myanmar. Hơn 2.000 người Mông thuộc 4 dòng họ là Vù, Hạng, Lý, Giàng - vì tránh loạn lạc - đã từ Quý Châu, Tứ Xuyên, Quảng Tây, Vân Nam di cư đến vùng núi Việt Nam, gần biên giới Việt - Trung.


 


Đợt thứ hai diễn ra vào nửa sau thế kỷ XVIII, theo Tiến sĩ Mai Thanh Sơn thì có thể sau thất bại của cuộc "khởi nghĩa Càn Gia" (1795 - 1796), đi thẳng từ Từ Quý Châu, xuống cao nguyên Đồng Văn. Đợt thứ ba vào nửa cuối thế kỷ XIX, thời các triều vua Hàm Phong, Đồng Trị nhà Thanh, thủ lĩnh của các dòng họ Lý, Dương, Vù và Vàng dẫn đầu các đoàn người Mông từ Quý Châu, Tứ Xuyên, Quảng Tây, Vân Nam chia làm 3 đường trong vòng 5 năm (một đường qua Quảng Tây, hai đường qua Vân Nam) tiến xuống vùng núi rộng lớn thuộc cả Đông và Tây Bắc Việt Nam.


 


Đợt di cư thứ tư - đợt lớn nhất - diễn ra sau cuộc chiến tranh Nha phiến của Trung Quốc (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX). Hơn 1 vạn người Mông chia làm nhiều đoàn theo nhiều con đường khác nhau tiến vào khu vực miền núi ở cả phía Đông và phía Tây Bắc Việt Nam, trong đó có các huyện vùng cao nguyên Đồng Văn. Một bộ trong họ chỉ lấy Bắc và Tây Bắc nước ta làm điểm dừng chân, rồi tiếp tục di cư sang Đông và và Đông Bắc Lào, sau đó sang Đông Bắc Thái Lan.


 


Còn có một nguyên nhân xã hội khác bắt nguồn từ tập quán canh tác "đao canh hỏa chủng" (tức phát - đốt - chọc - trỉa). Đất đai canh tác bị thu hẹp và giảm độ phì, tình trạng "nhân mãn" xảy ra, người Mông từ phương Bắc lại di cư thành từng đợt lẻ tẻ theo từng nhóm nhỏ lùi dần về phương Nam. Tiến trình này xảy ra liên tục trong nhiều thế kỷ.


 


Bất đồng trong cách kiến giải về nguyên nhân và mốc thời gian, nhưng hầu hết các kết quả nghiên cứu lẫn tài liệu điền giả đều có xu hướng thống nhất rằng nguồn gốc người Mông cao nguyên Đồng Văn khởi phát từ cao nguyên Vân - Quý, đông nhất là từ Quý Châu. Nhiều bản làng Mông Hà Giang vẫn còn truyền tụng câu hát: "Quý Châu là quê hương yêu dấu của đồng bào Mông ta. Vì người Mông ta đói rách, vì dân Mông ta không có chữ, thua kiện người Hán nên phải mất nương, vì người Mông ta không có chữ nên phải dời quê".


 


Gia phả chép bằng chữ Hán của Giàng, họ Vàng ở Đồng Văn, Mèo Vạc cũng khẳng định tổ tiên họ sang Việt Nam đã được 16-17 đời, khoảng trên dưới 300 năm. Nơi đến đầu tiên được xác định là các xã thuộc huyện Mèo Vạc hiện nay. Trong dân ca được lưu truyền trong cộng đồng Mông nhiều nơi trên thế giới, kể cả ở Pháp, Mỹ, Thái Lan có một đoạn rất phổ biến kể về nơi phát tích: "Con cá ở dưới nước/ Chim bay ở trên trời/ Chúng ta sống ở vùng cao/ Con chim có tổ, Người Mông ta cũng có quê hương/ Quê hương ta là Mèo Vạc...".


 


Không nghi ngờ gì nữa, Mèo Vạc, rồi toàn vùng cao nguyên đá Đồng Văn, ngoài di sản địa chất tự nhiên còn  mang trong lòng nó cả một di sản nhân học - dân tộc học đồ sộ. Đó sẽ là một di sản điểm nhấn, một mục tiêu nghiên cứu quan trọng và hấp dẫn đối với giới khoa học và những người  thích khám phá trên toàn trái đất


 


Huyền thoại trên cao nguyên đá: Thuốc phiện và quyền lực


So với lịch sử hình thành địa chất từ 5 triệu đến 500 triệu năm thì lịch sử con người - xã hội của cao nguyên đá Đồng Văn, từ thuở sơ khai hàng ngàn năm cho đến những đợt thiên di gần hơn cách đây vài ba trăm năm chỉ là một sát - na thời gian. Trong khoảnh chớp mắt ấy của vũ trụ, những va đập, tranh chấp của con người cũng kinh khủng không kém gì những vận động tạo sơn - những vụ đụng chạm cỡ hành tinh, của tự nhiên.


Hiện nay là 77%, nhưng trước Cách mạng tháng Tám 1945, người Mông chiếm tới 88% toàn vùng Cao nguyên Đồng Văn. Trong cơ cấu nhân học, người Mông đích thực là một đại tộc trong  một siêu tộc, nhân số tổng cộng lên đến gần 10 triệu người. Bất hạnh thay, những biến cố thời Trung cổ đã đẩy họ ngày một rời xa ra khỏi miền phát tích, trở thành một dân tộc ly tán khắp nơi trên thế giới. Bài ca thiên di của một dân tộc hàng  ngàn năm đi tìm đất sống tiếp tục được người Mông cất lên ở những vùng đất phên dậu, nơi luôn xảy ra tranh chấp cương thổ giữa các quốc gia. Ngày nay, đó là khu vực biên giới phía bắc của các nước Đông Nam Á.


 


Dựa lưng vào những rặng đá cao chót  vót và hiểm trở, mỗi đoàn dân thiên di - thường là theo dòng họ - chiếm cứ một khoảng trời riêng, tự cai quản với các thủ lĩnh cai trị của riêng từng vùng. Tranh chấp, xung đột... nổ ra không ít, nhưng ít nhất, ở cực Bắc (và cả nhiều nơi khác ở Đông - Tây Bắc) Việt Nam, đoàn ly dân ấy cũng đã tìm được một  không gian sinh tồn cùng các sắc dân khác để viết tiếp những chương mới bi tráng cho dân tộc mình. Không có chữ viết, những biến cố lịch sử hàng trăm năm của người Mông trên cao nguyên đá đã bị bụi thời gian phủ lấp trong quên lãng. Ký ức lịch sử  miền Đồng Văn vì thế chỉ còn đọng lại trong một khoảng thời gian khá mới mẻ, từ khi thực dân Pháp chiếm đóng được Hà Giang vào năm 1887.


 


Tuy xây dựng được 3 đồn binh Bạch Đích, Yên Minh và Đường Thượng nhưng thực dân Pháp vẫn phải công nhận  và dựa vào tầng lớp thổ ty, địa chủ phong kiến các dân tộc ở địa phương để thiết lập một bộ máy thống trị theo bậc thang xã - tổng - châu - tỉnh. Quyền lực thực dân vẫn buộc phải chấp nhận chế độ "quân sự quản chế", nghĩa là  mỗi dân tộc, dòng họ đều có quyền thiết lập một đạo binh riêng, bảo vệ địa bàn và quyền  lợi của thủ lĩnh dòng tộc kiêm chúa đất. Toàn miền Đồng Văn được chia thành 4 khu vực chính.


 


Khu vực phía bắc (huyện Mèo Vạc ngày nay) do thổ ty Dương Tụ Nghĩa (tiếng Mông đọc Dương là Giàng) cai quản. Đoạn giữa (nay là huyện Đồng Văn) do thổ ty Nguyễn Chánh Quay quản lý. Khúc kế tiếp từ Sà Phìn đến Phố Bảng do thổ ty Vương Chính Đức chiếm cứ. Phần phía nam, thuộc huyện Yên Minh ngày nay do hai thổ ty Nguyễn Chánh Tư và Nguyễn Doãn Quý (người Kinh) thống trị.


 


Với sách lược "chia để trị", ở mỗi dân tộc, thực dân Pháp lại công nhận sự tồn tại của một bộ máy cai trị riêng. Người Mông phân quyền từ trên xuống có Tổng giáp - Mã phài - Séo phài. Vùng các dân tộc Tày, Dao, Giáy, Kinh có Chánh tổng - Lý trưởng - Trưởng thôn - Kỳ mục. Vùng  người Thái  do Bang tá  đứng  đầu. Trong 3 đồn binh được thiết lập giai đoạn đầu, đồn Đường Thượng do một thổ ty người Thái - Bang tá Đào Văn Ất - chỉ huy, đặt dưới sự chỉ đạo quân sự toàn vùng của một viên quan ba người Pháp.


 


Đấu tranh vũ trang chống Pháp vẫn nổ ra liên tục. Trong 3 năm (1903 -1905), quan binh Pháp đã nhiều lần phải điêu đứng bởi liên tục bị các toán quân khởi nghĩa do thủ lĩnh người Mông Sùng Mí Chảng chỉ huy tập kích. Nghĩa quân lấy núi Tù Sán làm căn cứ. Đáng tiếc, khởi nghĩa Sùng Mí Chảng không có điều kiện liên kết rộng rãi với thủ lĩnh dân tộc của các nơi khác trong vùng, lại thiếu chặt chẽ trong tổ chức nên đã bị Pháp cài người, mua chuộc, phá hoại làm tan rã.


 


Phía Mèo Vạc, thổ ty Dương Tụ Nghĩa không giấu giếm ý đồ thâu tóm quyền lực Mông và bành trướng sự thống trị lên toàn vùng cao nguyên đá. Ông tự xưng là "Vua Mèo", thuê thợ từ châu Vân Sơn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc sang dựng cho mình một tòa lâu đài bằng đá khối và gỗ quý ở xã Sủng Chà. Tỏ rõ năng lực lãnh đạo của  một ông vua (tự xưng) trong việc giải quyết những khó khăn trong đời sống của "thần dân", đồng thời tìm cơ hội phát triển cho xứ sở đang cai quản, Dương Tụ Nghĩa đã cho mời thầy phong thủy Tàu sang Sủng Chà nhắm tìm nơi xây hồ trữ nước, trồng sen, thả cá trên đá núi.


 


Nhờ khéo nhắm địa thế, dù không có nước mạch, hồ treo Sủng Chà vẫn quanh năm đầy ắp khoảng 10.000m3 nước, nhờ tích tụ và giữ lại được nước mưa. Ý tưởng, sự nghiệp cùng danh vị "Vua Mèo" của ông được con trai là Dương Trung Nhân tiếp tục phát huy và khuếch trương.


 


Ngày nay, dinh thự đá của "Vua Mèo" Mèo Vạc đã bị phá hủy, nhưng hồ treo của nhà họ Dương thì vẫn còn. Toàn huyện Mèo Vạc đã xây dựng  thêm 9 hồ chứa nước lớn gấp hàng chục lần hồ cũ của họ Dương, trong đó có cả hồ Sủng Chà đã được mở rộng. Có thể xem "Vua Mèo" Dương Tụ Nghĩa là "nhà thủy lợi học" đầu tiên trên cao nguyên đá, người đầu tiên có sáng kiến xây hồ treo trữ nước.


 


Được Pháp công nhận nhưng khi tìm cách mở rộng quyền lực ra toàn cao nguyên đá, họ Dương Mèo Vạc đã vấp phải một trở lực lớn từ dòng họ Vương (Vàng) ở Đồng Văn.


 


Sau một thời gian chống nhà Thanh và cùng nhân dân Việt Nam đánh Pháp, Lưu Vĩnh Phúc thu quân Cờ Đen về bên kia biên giới Việt - Trung. Tàn quân Cờ Đen ở lại Hà Giang do Hà Quốc Trường chỉ huy, tuy vẫn phản Thanh, kháng Pháp nhưng đã biến chất thành một đám giặc cỏ, liên tục sát hại  hàng loạt thủ lĩnh các dân tộc thiểu số, nhằm độc chiếm Hà Giang, nuôi ý đồ hùng cứ vùng rẻo cao Hà Giang kéo dài qua tận bên kia sông Nho Quế thuộc Châu Vân Sơn (Vân Nam, Trung Quốc), lập tiểu quốc riêng để xưng bá. Pháp - Thanh đã nhiều lần hợp binh tiễu trừ nhưng vẫn không diệt được đám thảo khấu Cờ Đen, ngược lại còn phải chịu nhiều tổn thất.


 


Vương Chính Đức, tên thật theo tiếng Mông là Vàng Dúng Lùng sinh năm 1865 ở làng Pá Tró (làng Con Gấu), xã Sà Phìn (nay thuộc huyện Đồng Văn). Thông minh, rất giỏi thổi khèn Mông, ở tuổi 30, Vàng Dúng Lùng được người Mông Sà Phìn, Phó bảng bầu lên làm thủ lĩnh thay cho thủ lĩnh Vàng Dí Tủa không may đột tử vì... bội thực.


 


Vàng Dúng Lùng đã đưa nghĩa quân Mông vào rừng rậm, núi cao lập nên các đội "nghĩa binh hươu nai" đương đầu với giặc Cờ Đen. Đến năm 1900, đạo giặc cỏ Pháp phục không được, Thanh hàng không xong đã bị "nghĩa binh hươu nai" tiêu diệt. Hà Quốc Trường bị chặt đầu. Giành Đồng Văn vào tay người Mông, Vàng Dúng Lùng tiếp tục chỉ huy nghĩa binh kháng Pháp và chống lại âm mưu lấn chiếm của nhà Thanh.


Dinh thự nhà Vương Chính Đức trở thành di tích đón khách tham quan. 


Đá kê cột nhà và họa tiết trang trí đầu đao đều mang hình quả anh túc.


Trong 9 năm trời, “nghĩa binh hươu nai” dựa vào núi đá hiểm trở, đèo dốc cheo leo đã liên tục bẻ gãy tất cả các đợt tấn công lên Đồng Văn của các đạo binh Pháp. Đến năm 1909, Pháp điều một đạo quân hỗn hợp lớn từ Bảo Lạc (Cao Bằng) sang, phối hợp với các đạo địa phương binh khố xanh Tày - Thái tấn công Đồng Văn. Trận chiến khốc liệt, Vàng Dúng Lùng thua trận, buộc phải nhường Đồng Văn cho Pháp đóng đồn.


 


Lại rút vào rừng, ông tiếp tục mộ binh đánh Pháp. Sau 4 năm ròng rã, đến tháng 10/1913, Vàng Dúng Lùng đã giành thắng lợi vang dội. Pháp phải ký Hòa ước Pháp - Mèo với nhiều điều khoản có lợi cho người Mèo. Đó là Pháp  phải triệt thoái quân đội khỏi Đồng Văn, gồm cả các đội quân lê dương lẫn các đội quân bản địa do Pháp chỉ huy, trả Đồng Văn lại cho người Mông cai quản bằng chế độ tự trị, dưới quyền một đại lý Pháp và một bộ máy hành chính có tính chất đại diện của triều đình nhà Nguyễn. Muốn thu mua thuốc phiện, các đại lý thuốc phiện Pháp phải tăng giá lên 5 lần, từ 2 hào lên 1 đồng cho mỗi lạng (tính theo đơn vị cân vàng). Hòa ước này được ký bởi một bên là tướng Pháp Jenera  Pecneucin và bên kia là Vàng Dúng Lùng, ký tên theo chữ Hán là Vương Chính Đức.


 


 


Thật ra, khi ký một hòa ước tưởng chừng như đầy bất lợi như thế, chính quyền thực dân Pháp đã nhằm đến việc đạt được tình thế có lợi lớn hơn. Kéo dài  giao tranh, Pháp khó có thể giành  thắng lợi tuyệt  đối trước đội quân thông thạo địa hình do Vương Chính Đức lãnh đạo, biết tận dụng tối đa địa hình hiểm trở để kháng chiến  lâu dài. Trong khi đó, không lập lại được trật tự, Pháp sẽ mất một khoản lợi  to lớn từ thuốc phiện.


 


Từ  năm 1897, sau khi nhậm chức, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã xác định thuốc phiện là quốc sách, là nguồn thu lớn nhất cho ngân sách thuộc địa của nhà nước bảo hộ. Tại Sài Gòn, chính quyền đã cho xây hẳn một nhà máy chuyên nấu thuốc phiện. Lãi thu được từ thuốc phiện chiếm tới 1/3 tổng thu nhập của toàn Đông Dương. Với năng lực cung cấp khoảng 20 tấn thuốc phiện/năm, Đồng Văn có khả  năng thay thế một lượng thuốc phiện lớn phải nhập về từ vùng vịnh Bengal (Ấn Độ)  từ Công ty Đông Ấn. Quyền lợi kinh tế buộc chính quyền thuộc địa phải hy sinh, cắt giảm quyền lực quân sự.


 


Thắng lợi, uy tín của Vương Chính Đức đã cao hơn hẳn, đánh bạt ảnh hưởng quyền lực của Dương Tụ Nghĩa và sau này là con trai kế vị Dương Trung Nhân, giúp họ Vương gần như độc chiếm nguồn lợi thuốc phiện của toàn xứ Đồng Văn. Nguồn lợi này lớn đến mức, Vương Chính Đức dám bỏ ra 150.000 đồng bạc trắng, thuê thợ từ Quảng Tây, Trung Quốc về Sà Phìn xây một tòa lâu đài đồ sộ có cả thảy 64 phòng bằng đá khối  và gỗ samu. Cả đá, gỗ và ngói lợp cũng đều được mua từ Quảng Tây chuyển sang. Mất 8 năm, công trình  mới hoàn tất, Vương Chính Đức lại cho đặt  120 gốc samu khác từ Quảng Tây đem về  trồng thành một vạt rừng bao quanh dinh thự.


Đoạn cuối cùng của tòa dinh, ông cho xây dựng 2 buồng kho, tường bằng  đá phiến, mặt ngoài dày 1,4m, mặt trong dày 0,8m, bảo đảm đạn súng cối hay bộc phá cũng không thể phá. Phía trên 2 nhà kho là hệ thống công sự, lỗ châu mai, vọng gác. Một kho cất giữ vàng, bạc, châu báu, cửa duy nhất đi thông sang nhà bà vợ hai. Kho kia chỉ để cất trữ thuốc phiện, thông cửa và giao chìa khóa cho bà vợ cả.


 


Trong “Tuần lễ vàng” do Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phát động, Vương Chí Sình (tên tiếng Mông là Vàng Seo Lử, sinh năm 1885), con trai và là người kế vị Vương Chính Đức còn cho  người mang về Hà Nội 22 vạn đồng bạc trắng và 9kg vàng  để ủng hộ chính phủ Cụ Hồ.


 


Trong khu dinh thự họ Vương, tất cả các phiến đá kê cột nhà đều được tiện, gọt thành hình quả thuốc phiện. Sau khi mài nhẵn, chúng đều được dùng những đồng bạc trắng (piastre) đánh cho bóng loáng, biến màu đá trắng thành màu đồng thau, gần như màu quả thuốc phiện đã phơi khô.  Họa tiết trang trí trên đầu đao kèo nhà cũng được tiện hình quả thuốc phiện. Một cách ám chỉ,  cả  nền móng quyền lực lẫn mục đích, khuynh hướng phát triển của nhà họ Vương, của người Mông và toàn cao nguyên đá Đồng Văn đều  được đặt trên quả anh túc.


 


Năm 1928, Vua Khải Định đã ban cho Vương Chính Đức một bức hoành phi đại tự có 4 chữ "Biên chinh khả phong" cùng thẻ bài  và mũ  mão đại thần, chính thức công nhận quyền lực của họ Vương  nơi biên ải. Kể từ đây, người Mông  Đồng Văn gọi ông  là Chính Vương, xem ông  như "Vua Mèo" thực thụ. Danh vọng nhà họ Dương ở Mèo Vạc  bị lu mờ dần. Xích mích  giữa hai nhà đã dẫn đến nhiều cuộc xung đột, kể cả xung đột vũ trang.


 


Đến năm 1953, "Vua Mèo" tự phong đất Mèo Vạc thất thế trước "Vua Mèo" được suy tôn ở Đồng Văn, phải đưa cả gia đình về Hà Nội, sau đó theo Pháp di cư vào Nam, cuối cùng  sang Mỹ định cư tại bang Minnesota, chấm  dứt vai trò lịch sử một dòng cự tộc người Mông đối với lịch sử Cao nguyên đá. Dương Trung Nhân mất  tại Mỹ vào năm 1984, thọ 82 tuổi.


"Vua Mèo" họ Vương tiếp tục ở lại Sà Phìn, đồng hành  cùng các biến cố của Đồng Văn, tiếp tục sản sinh ra những huyền thoại mới trong thời đại của những con người "tận trung báo quốc, bất thụ nô lệ"!


 


Huyền thoại trên cao nguyên đá: Sống chết với Đồng Văn


Ông Vương Chính Đức cùng vợ ba và con trai út Vương Chí Chư.


Ký hòa ước với Pháp, nhận sắc phong của triều đình nhà Nguyễn, Vương Chính Đức đã gần như độc bá quyền lực khắp châu Đồng Văn. Khi xây dinh thự họ Vương tại Sà Phìn, ông đã tỏ rõ ý chí quần hiền tụ sĩ của mình bằng cách cho ngoã lên trước cổng vào dinh một đôi câu đối: "Gia quý hiền nhân xuất nhập/ Môn phong lưu khách vãng lai" (Nhà quý hiền, người vào ra/ Cửa phong lưu, khách lui tới). Dưới chân bờ rào đá trước dinh là một khoảng sân rất rộng, đủ chỗ để buộc hàng trăm cỗ ngựa.


Mọi hoạt động xử lý công việc cai trị Đồng Văn, đón tiếp khách khứa bốn phương lẫn sinh hoạt của "Vua Mèo" Vương Chính Đức và ba bà vợ đều diễn ra trong dinh thự nằm lẫn giữa rừng sa mộc này. Tiếp khách hoặc xử án, Vương Chính Đức đều ngồi tại dãy nhà ngang cuối cùng, nơi cao nhất, an toàn nhất trong khu dinh nếu có tấn công từ bên ngoài vào. "Vua Mèo" ngồi ghế kê trên thềm cao, tội nhân bị buộc quỳ trên sàn ở gian trước, cách chỗ "Vua" ngồi một khoảng sân, khoảng cách đủ làm nhụt chí kẻ có tội đang bị trói nghiến, nếu kẻ đó có ý đồ manh động.


 


Hai hầm tầng trệt ở hai bên tả hữu chỗ "Vua Mèo" ngồi chính là nơi đặt hai kho chứa vàng bạc và thuốc phiện. Khách quen, có hiểu biết một chút sẽ không quá khó để nhận ra dụng ý của Vương Chính Đức. Mọi sắp xếp, xây dựng, trang trí, bố trí trong dinh thự đều chứng tỏ chủ nhân của nó mang một ám thị sâu sắc  về ý nghĩa biểu trưng và sự cân đối, đối xứng. Dưới tán những gốc sa mộc vững chãi kia, quyền sinh sát một mình ông thâu tóm.


 


Sà Phìn là trung tâm quyền lực của người Mông Đồng Văn, nhưng ngoại trừ dinh thự nhà Vương, ở xung quanh thời đó vẫn không hề có bản làng của thứ dân nào cả. Một thứ quyền uy tối thượng và biệt lập. Thủ phủ thật sự của Đồng Văn thực tế đóng ở Phố Bảng, cách Sà Phìn 13km đường đèo. Trước khi Hòa ước Pháp - Mèo (được ký tháng 10/1913), đường vào Phố Bảng rất hẹp, chỉ đủ chỗ cho đoàn ngựa thồ xếp hàng một lên đèo xuống dốc. Hòa ước ký xong, người Mông nhất mực từ chối đi phu, đi làm xâu, người Pháp phải thuê người Hán ở khu Tổng Cản, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc đối diện với Phố Bảng sang bạt núi, mở rộng đường. Sau đó, họ lại thuê người Khách (người Hẹ ở Quảng Đông, Trung Quốc) qua đẽo đá xây nên đồn Phó Bảng, thiết lập sự chiếm đóng và cai quản.


 


Phố Bảng là cửa ngõ của mọi giao thương trên miền Đồng Văn. Nằm ở độ cao lưng chừng trời, lại toàn đá và đá, đất canh tác ở Đồng Văn rất hiếm. Trồng ngô, đậu hay rau cải trong những kẹt đất hiếm hoi giữa các hốc đá, năng suất cực thấp, hầu như không đủ để nuôi sống người dân bản địa. Ngược lại, thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết ở đây lại hết sức thích hợp với cây anh túc. Mỗi ha trồng anh túc thu được từ 1,5-2kg thuốc phiện mỗi vụ, trồng vài ba hécta, tiền bán thuốc phiện đủ để cho một gia đình người Mông sống cả năm. Thời gian còn lại tha hồ cho họ múa khèn, uống rượu, đám trai tráng tha hồ tập cưỡi ngựa, phóng lao và bày trò chơi chiến trận.


 


Đường về xuôi khó khăn, thuốc phiện Đồng Văn thường được bán sang Trung Quốc đổi thành ngựa to, lừa tốt, vải lanh từ Vân Nam, muối, gạo đường... từ Quảng Tây và quay trở lại Đồng Văn, tất tật đều qua ngả Phố Bảng. Để khóa chặt cửa ngõ mậu dịch tự do và dòng chảy thuốc phiện sang Trung Quốc, Pháp phải cố sống cố chết giành cho được quyền quản lý Phố Bảng và mở đường về miền hạ Hà Giang, từ đó về xuôi nhằm tận thu thuốc phiện tiêu thụ nội địa.


 


Ý đồ của Pháp, thương nhân Hoa Hán phát hiện ra ngay. Làm đường, xây đồn Phố Bảng xong, cả người Hán Vân Nam lẫn người Hẹ Quảng Đông đều không chịu về nước mà tìm cách ở lại Phố Bảng chiếm đất lập phố, buôn bán tấp nập (cho đến tận ngày nay). Không lâu sau, Phố Bảng đã khá sầm uất, buôn bán nhộn nhịp, được mệnh danh là Hồng Công thứ hai trên cao nguyên đá.


(còn tiếp)


N.H.L.


Bài đã đăng An ninh Thế giới 5 kỳ, tháng 3-2011


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »