tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18474163
18.03.2011
Tư liệu
Huyền Trân công chúa và cuộc chiến tranh Đại Việt – Chiêm Thành

Link 3 bài cùng mạch tư liệu đáng quan tâm:


- http://trieuxuan.info/?pg=tks


- http://trieuxuan.info/?pg=tpdetail&catid=7&id=3511&fid=0


- http://trieuxuan.info/?pg=tpdetail&catid=11&id=5874&fid=0


 


Huyền Trân công chúa nhà Trần


Chồng Jaya Sinhavarman III, con trai: Hoàng tử Chế Đa Đa


Tước hiệu: Huyền Trân công chúa; Hoàng hậu Paramecvari


Triều đại nhà Trần


Thân phụ Trần Nhân Tông


Thân mẫu Bảo Thánh hoàng hậu Trần thị


Sinh 1287. Mất Mồng 9 tháng giêng năm Canh Thìn (1340)


Huyền Trân (1287 - 1340), công chúa đời nhà Trần, là con gái của vua Trần Nhân Tông và là em gái vua Trần Anh Tông. Năm 1306, Huyền Trân được gả cho vua Chiêm Thành (Champa) là Chế Mân (tiếng Phạn: Jaya Sinhavarman III) để đổi lấy hai châu Ô, Lý (từ đèo Hải Vân, Thừa Thiên đến phía bắc Quảng Trị ngày nay).


Bà sinh vào năm 1287[1] Vào năm 1293, vua Trần Nhân Tông thoái vị, hoàng thái tử Trần Thuyên lên nối ngôi ( tức là hoàng đế Trần Anh Tông ). Vua Trần Nhân Tông trở thành Thái thượng hoàng, lên tu ở núi Yên Tử. Năm 1301, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông nhận lời mời, du ngoạn vào Chiêm Thành, được vua Chiêm Thành là Chế Mân tiếp đãi nồng hậu, có ở lại trong cung điện Chiêm Thành gần 9 tháng. Khi ra về, Trần Nhân Tông có hứa gả con gái là Huyền Trân cho Chế Mân, mặc dù khi đó Chế Mân đã có chính thất là hoàng hậu Tapasi, người Java (Nam Dương ngày nay). Sau đó nhiều lần Chế Mân sai sứ sang hỏi về việc hôn lễ, nhưng triều thần nhà Trần phản đối, chỉ có Văn Túc Vương Đạo Tái và Nhập nội hành khiển Trần Khắc Chung chủ trương tán thành.


 


Năm 1306, Chế Mân dâng hai châu Ô, Rý (còn gọi là Lý) làm hồi môn, vua Trần Anh Tông đồng ý gả Huyền Trân cho Chế Mân. Huyền Trân về Chiêm Thành, được phong làm hoàng hậu Paramecvari [2]. Một năm sau đó, khi hoàng hậu người Đại Việt vừa sinh xong hoàng tử Chế Đa Đa, thì tháng 5 năm 1307, quốc vương Chế Mân băng hà. Thế tử Chiêm sai sứ sang Đại Việt báo tang. Theo tục nước Chiêm, khi vua chết hoàng hậu phải lên giàn hỏa để tuẫn tang[3]. Vua Trần Anh Tông biết tin, sai Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu Huyền Trân. Trần Khắc Chung bày kế thành công, cứu được Huyền Trân đưa xuống thuyền, đưa Huyền Trân về Đại Việt bằng đường biển. Cuộc hải hành này kéo dài tới một năm và theo Đại Việt Sử ký Toàn thư thì Trần Khắc Chung đã tư thông với công chúa.


 


Tháng 8 năm Mậu Thân (1308), Huyền Trân về đến Thăng Long. Theo di mệnh của Thượng hoàng Nhân Tông, công chúa đầu gia Phật giáo ở núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh) vào năm (1309), dưới sự ấn chứng của quốc sư Bảo Phát. Công chúa thọ Bồ tát giới và được ban pháp danh Hương Tràng [4]


 


Cuối năm Tân Hợi (1311), Hương Tràng cùng một thị nữ trước đây, bấy giờ đã qui y đến làng Hổ Sơn, huyện Thiên Bản (nay thuộc Nam Định), lập am dưới chân núi Hổ để tu hành. Sau đó, am tranh trở thành điện Phật, tức chùa Nộm Sơn hay còn gọi là Quảng Nghiêm Tự [5]


 


Bà mất ngày mồng 9 tháng giêng năm Canh Thìn (1340)[6]. Dân chúng quanh vùng thương tiếc và tôn bà là "Thần Mẫu" và lập đền thờ cạnh chùa Nộn Sơn. Ngày bà mất sau này hàng năm trở thành ngày lễ hội đền Huyền Trân trên núi Ngũ Phong ở Huế.


 


Các triều đại sau đều sắc phong bà là thần hộ quốc. Vua triều Nguyễn ban chiếu đền ơn công chúa "trong việc giữ nước giúp dân, có nhiều linh ứng", nâng bậc tăng là "Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần" [7] .


 


Tuy nhiên, một số người đời sau cho rằng câu chuyện này có phần thêu dệt, chuyện nêu lý do công chúa phải lên giàn hỏa chỉ là cớ do sách Việt sau này viết thêm. Theo tiến sĩ Po Dharma, công chúa Huyền Trân không thể hội đủ điều kiện để xin lên giàn hỏa vì nếu theo truyền thống Champa xưa, đây là một vinh dự và chỉ có bà hoàng hậu chính thức mới được phép hủy thân trên giàn hỏa với chồng của mình [8] [2]. Trong kinh điển theo đạo Bà La Môn đều không nhắc đến tục lệ này của người Champa, chưa chắc đã có tục lệ như thế. Cho dù có tục lệ đó đi nữa, thì việc hỏa táng phải tổ chức trong vòng 7 ngày sau khi chết, vì khí hậu nhiệt đới không cho phép bảo quản thi hài được lâu hơn, đến khi tin đưa về Đại Việt và dù Trần Khắc Chung có lên tàu sang ngay cũng không thể nào kịp, trong điều kiện giao thông thời đó [9]. Chuyện Trần Khắc Chung tư thông với Huyền Trân có thể là vì bị gièm pha, đồn thổi vì sự chênh lệch tuổi tác quá lớn và Trần Khắc Chung được tiếng đạo đức, trên tàu còn rất nhiều người khác cùng đi, như là An Phủ Sứ Đặng Vân (Đặng Thiệu), không dễ dàng hành động [10][11].


 


Sử thần Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử ký Toàn thư chê trách chuyện này:


Ngày xưa Hán Cao Hoàng vì nước Hung Nô nhiều lần làm khổ biên cương, mới lấy con gái nhà dân làm công chúa gả cho thiền vu. Kết hôn với người không cùng giống nòi, các tiên nho đã từng chê trách, song dụng ý là muốn binh yên, dân nghỉ, thì còn có thể nói được. Nguyên Đế thì vì Hô Hàn sang chầu, xin làm rể nhà Hán, nên lấy nàng Vương Tường mà ban cho, cũng là có cớ. Còn như Nhân Tông đem con gái gả cho chúa Chiêm Thành là nghĩa làm sao? Nói rằng nhân khi đi chơi đã trót hứa gả, sợ thất tín thì sao không đổi lại lệnh đó có được không? Vua giữ ngôi trời mà Thượng hoàng đã xuất gia rồi, vua đổi lại lệnh đó thì có khó gì, mà lại đem gả cho người xa không phải giống nòi để thực hiện lời hứa trước, rồi sau lại dùng mưu gian trá cướp về, thế thì tín ở đâu [12]


Theo nhà sử học Phạm Văn Sơn trong Việt sử toàn thư:


Duy việc Trần Khắc Chung lập mưu đưa Huyền Trân trở về nước sau khi Chiêm Vương qua đời, dù muốn sao ta cũng phải nhận là một việc bất tín đối với Chiêm Thành. Thì phản ứng của nước Chiêm là lẽ dĩ nhiên và chính đáng.


Còn người Việt đã thắng một canh bạc không lương thiện lắm lại còn ra bộ não nùng xót xa … [13].


Trích lưu bút của bà Trương Mỹ Hoa, nguyên phó Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam lưu tại điện thờ Huyền Trân Công Chúa, Huế: Có những vấn đề của phụ nữ phải được giải quyết từ Quốc gia, có những vấn đề của Quốc gia phải giải quyết từ người phụ nữ.


Huyền Trân trong thi ca nghệ thuật


Bia ký tại Điện thờ Huyền Trân Công Chúa, HuếCâu chuyện về Huyền Trân đã trở thành một đề tài trong thi ca, nghệ thuật.


 


Trong dân gian, có lẽ vì thời đó người Việt coi người Chăm là dân tộc thấp kém nên đã có câu:


 


Tiếc thay cây quế giữa rừng


Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo


Tương truyền là bài "Nước non ngàn dặm" theo điệu Nam Bình, có người cho rằng chính công chúa đã soạn ra trong lúc đi đường sang Chiêm quốc:


 


Nước non ngàn dặm ra đi...


Mối tình chi!


Mượn màu son phấn


Đền nợ Ô, Ly.


Xót thay vì,


Đương độ xuân thì.


Số lao đao hay là nợ duyên gì?...


Một số tác phẩm có nói đến Huyền Trân như:


 


Âm nhạc


Trường ca Con đường Cái Quan của Phạm Duy


Năm tê trong lúc sang Xuân


Tôi theo Công chúa Huyền Trân tôi lên đường


Đường máu xương đã lắm oán thương


Đổi sắc hương lấy cõi giang san


Tôi đi theo bước ái tình


Đi cho trăm họ được hòa bình ấm no


Đèo núi cao nghe gió vi vu


Thổi phấn son bay tới kinh đô....


Tiễn biệt Huyền Trân của Phạm Duy phổ thơ Đào Tiến Luyện


Huyền Trân Công chúa của nhạc sĩ Nguyễn Hiền


Nhớ của nhạc sĩ Châu Kỳ


Tình sử Huyền Trân của Nam Lộc


Sương gió Chiêm Thanh - cổ nhạc


Thơ


Công chúa Huyền Trân của Hoàng Cao Khải (?)


Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười,


Vốn đà không mất lại thêm lời,


Hai châu Ô Lý vuông ngàn dặm,


Một gái Huyền Trân của mấy mươi...!


Tiễn biệt Huyền Trân của Đào Tiến Luyện


Xem thêm: Chế Mân


Trần Khắc Chung


Ngọc Vạn


Ngọc Khoa


Công chúa An Tư


Chú thích


^ Đường Huyền Trân Công Chúa tại Huế


^ a b Công chúa Huyền Trân (Hoàng hậu Paramecvari) chỉ làm hoàng hậu thứ vì trước đó Chế Mân đã có một hoàng hậu người Chiêm -có con trai là Chế Chi, sau này kế vị Chế Mân- và một hoàng hậu khác là công chúa Tapasi, người Java


^ Tiến sĩ Po Dharma trong bài viết "Góp phần tìm hiểu lịch sử Champa" nêu nghi vấn về việc vua Chế Mân chết chỉ sau một năm chung sống, và Huyền Trân phải chạy trốn về Đại Việt. Theo ông, chỉ Hoàng hậu trưởng mới có quyền lên giàn hỏa thiêu theo chồng. Xem [1]


^ Lễ hội đền Huyền Trân: Khói hương quyện toả 


^ Khu di tích Huyền Trân


^ Vài nét về Huyền Trân Công Chúa (1287 – 1340)


^ Vọng niệm về Huyền Trân công chúa


^ Góp phần tìm hiểu lịch sử Champa


^ Hoàng hậu PARAMECVARI của Champa


^ Có hay không chuyện tư thông giữa Công Chúa Huyền Trân & Trần Khắc Chung


^ Chức An Phủ Sứ là những sứ thần đi phủ dụ vỗ về nước ngoài


^ Champa coi sự việc này là quốc nhục và các vua Champa kế tiếp đã từng dùng vũ lực, vào các năm 1311, 1312,1317-1318, 1326 và 1353, nhằm yêu cầu Đại Việt trao trả cho vương quốc này hai châu Ô Lý nhưng không thành công (sách Champaka số 1 – 1999)


^ Việt Sử Toàn Thư – Phạm Văn Sơn, trang 203.


 


Trần Khắc Chung


Trần Khắc Chung (?–1330) là một nhân vật lịch sử đời nhà Trần.


Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì Trần Khắc Chung tên thật là Đỗ Khắc Chung, người ở Giáp Sơn cùng quê với mẹ của vua Trần Hiến Tông. Em trai Trần Khắc Chung là Đỗ Thiên Hư, cũng là một người nổi tiếng đương thời từng được cử làm Sứ thần sang nhà Nguyên năm 1288.


 


Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai, Trần Khắc Chung có làm sứ giả, sang thương thuyết với Ô Mã Nhi. Nhờ công lớn trong cuộc kháng chiến đó, ông được vua ban quốc tính nên đổi là Trần Khắc Chung và được phong chức Đại Hành Khiển.


 


Qua bốn đời vua Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Khắc Chung nhiều chức vụ quan trọng: Đại hành khiển, Tể tướng, Thượng thư, Ngự Sử đại phu, Đại an phủ kinh sư, Quan nội hầu, Sư bảo.


 


Năm 1306, ông là cùng Văn Túc Vương Đạo Tái chủ chương tán thành gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành Chế Mân. Năm 1307, khi Chế Mân qua đời, theo lệnh vua Trần Anh Tông, Trần Khắc Chung vào Chiêm Thành cứu được Huyền Trân đưa về Thăng Long. Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì ông đã tư thông với công chúa trên đường về.


 


Trần Khắc Chung còn bị cho là đã xúi giục vua Trần Minh Tông giết hại Huệ Võ Vương Trần Quốc Chẩn.


 


Trích Đại Việt sử ký toàn thư:


Em Đỗ Khắc Chung là Đỗ Thiên Thư kiện nhau với người, tình lý đều trái. Người kia đón xa giá để kêu bày. Vua hỏi quan xử kiện. (Viên quan đó) Trả lời: "Án xử đã xong, nhưng hình như quan thoái thác không chịu chuẩn định đó thôi". Vua nói: "Đó là do sợ mà né tránh Khắc Chung đấy".


Ngày 12, giặc đánh vào Gia Lâm, Vũ Ninh, Đông Ngàn, bắt được quân của ta, thấy người nào cũng thích hai chữ "Sát Thát" bằng mực vào cánh tay, chúng tức lắm, giết hại rất nhiều. Rồi chúng đến Đông Bộ Đầu, dựng một lá cờ lớn. Vua muốn sai người dò xét tình hình giặc mà chưa tìm được ai. Chi hậu cục thủ Đỗ Khắc Chung tiến lên tâu rằng: "Thần hèn mọn bất tài, nhưng xin được đi". Vua mừng, nói rằng: "Ngờ đâu trong đám ngựa xe kéo xe muối lại có ngựa kỳ, ngựa ký như thế!" Rồi sai đem thư xin giảng hoà.


Ô Mã Nhi hỏi (Khắc Chung): "Quốc Vương ngươi vô lễ, sai người thích chữ "Sát Thát", khinh nhờn thiên binh, lỗi ấy to lắm". Khắc Chung đáp: "Chó nhà cắn người lạ không phải tại chủ nó. Vì lòng trung phẫn mà họ tự thích chữ thôi, Quốc Vương tôi không biết việc đó. Tôi là cận thần, tại sao lại không có?" Nói rồi giơ cánh tay cho xem. Ô Mã Nhi nói: "Đại quân từ xa tới, nước ngươi sao không quay giáo đến hội kiến, lại còn chống lệnh. Càng bọ ngựa cản bánh xe liệu sẽ ra sao?" Khắc Chung nói: "Hiền tướng không theo cái phương sách Hàn Tín bình nước Yên, đóng quân ở đầu biên giới, đưa thư tin trước, nếu không thông hiếu thì mới là có lỗi. Nay lại bức nhau, người ta nói thú cùng thì chống lại, chim cùng thì mổ lại, huống chi là người". Ô Mã Nhi nói: "Đại quân mượn đường để đi đánh Chiêm Thành, Quốc Vương ngươi nếu đến hội kiến thì trong cõi yên ổn, không bị xâm phạm mảy may. Nếu cứ chấp nê thì trong khoảnh khắc núi sông sẽ thành đất bằng, vua tôi sẽ thành cỏ nát".


Khắc Chung về rồi, Ô Mã Nhi bảo các tướng rằng: "Người này ở vào lúc bị uy hiếp mà lời lẽ tự nhiên, không hạ chủ nó xướng là Chích, không nịnh ta lên là Nghiêu, mà chỉ nói "Chó nhà cắn người"; giỏi ứng đối. Có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước nó còn có người giỏi, chưa dễ mưu tính được". Sai người đuổi theo Khắc Chung nhưng không kịp.


 


Có không ít người lầm lẫn Trần Khát Chân là Trần Khắc Chân!


Trần Khát Chân (1370-1399) là một danh tướng nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông thuộc dòng dõi Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, quê làng Hà Lăng, huyện Vĩnh Ninh (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa).


Ông sinh ngày Tân Sửu, tháng Chạp, năm Thiệu Khánh thứ nhất (1370).


Tháng 11 năm Kỷ Tỵ (1389), quân Chiêm Thành theo đường sông Hồng tiến đánh Thăng Long, Thượng hoàng Trần Nghệ Tông sai Trần Khát Chân đem quân Long Tiệp đi chặn giặc.


 


Ngày 23 tháng Giêng năm Canh Ngọ (1390), ông cho phục binh ở ngã ba sông Hải Triều và sông Nhị Hà. Được hàng tướng Chiêm Thành chỉ cho chiếc thuyền của vua Chiêm, ông tập trung hỏa pháo nhằm bắn vào thuyền Chế Bồng Nga. Thuyền vua Chiêm trúng đạn, Vua Chiêm Thành chết tại trận, quân Chiêm tan vỡ. Ông cho cắt đầu Chế Bồng Nga đem về Bình Than báo tin thắng trận. Sau chiến công này, ông được phong làm Long Tiệp Bổng thần Nội vệ Thượng tướng, tước Vũ tiết quan Nội hầu.


 


Năm 1399, Hồ Quý Ly càng ngày càng lộng quyền, giết Trần Thuận Tông và có ý chiếm đoạt nhà Trần. Ông cùng Thái bảo Trần Nguyên Hàng và một số vương hầu nhà Trần mưu sát Hồ Quý Ly trong hội thề ở núi Đốn Sơn[1]. Sự việc bị phát giác, ông và hơn 370 người liên quan bị giết và tịch thu gia sản. Tương truyền rằng khi sắp bị hành hình ông phẫn uất gào to ba tiếng vang dội Đốn Sơn và sau khi chết ba ngày sắc mặt vẫn như khi sống.


 


Các lực lượng chống đối bị trừ bỏ, năm sau Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần (1400).


Vinh danhHiện nay còn đền thờ ông ở làng Phương Nhai và vùng Kẻ Mơ (Sau này đến đời Hậu Lê, Kẻ Mơ được chia thành 2 xã là Hoàng Mai và Tương Mai. Xã Tương Mai nay là phường Tương Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Tại đây, có đình Tương Mai là nơi thờ cúng ông). Tên ông được đặt cho một phố nối giữa phố Đại Cồ Việt và phố Lò Đúc tại Hà Nội, và cho một trường trung học phổ thông tại huyện Vĩnh Lộc quê hương ông.


 


Người dân ở địa phương nơi đây không dùng từ chân mà thay bằng từ "cẳng" để tránh phạm tới tên của ông.


 


 


Chế Bồng Nga, Vua Chiêm Thành


Trị vì  1360 – 1390


 Tiền nhiệm Trà Hoa Bồ Đề


Kế nhiệm La Ngai (La Khai)


Hoàng tộc Vương triều thứ 12


Mất 23 tháng 1 năm 1390


Chế Bồng Nga (?- 23 tháng 1 năm 1390[1]), hay Che Bonguar, (tên thật là Po Binasor hay Po Bhinethuor) là tên hiệu của vị vua thứ 3 thuộc vương triều thứ 12 (tức là vị vua đời thứ 39) của nhà nước Chiêm Thành. Trong thời kỳ ông cầm quyền, nhà nước Chiêm Thành rất hùng mạnh, từng đem quân nhiều lần xâm phạm Đại Việt của nhà Trần. Ông bị giết năm 1390 khi đang đem quân tấn công Thăng Long lần thứ 4.


Năm 1360, vua Trà Hoa Bồ Đề (con rể vua Chế A Nan) qua đời, Chế Bồng Nga được triều thần tôn lên làm vua. Có người cho rằng Chế Bồng Nga là Po Binswar trong Biên Niên Sử Hoàng Gia Chăm (Rai Patao Cham, Vô Danh Thị, 1835). Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (1491), Chế Bồng Nga là một vị tướng tài, chỉ huy nhiều trận đánh vào lãnh thổ nhà Trần. Vừa lên ngôi, ông liền tổ chức lại quân đội, chuẩn bị chiến tranh với nhà Trần, khi đó đã suy yếu rất nhiều vì những ông vua hôn quân vô đạo như Trần Dụ Tông, nhằm tái chiếm những phần lãnh thổ đã từng nhượng cho nhà Trần (1306).


Từ năm 1360 đến 1390, quân đội Chiêm Thành đã nhiều lần tấn công vào lãnh thổ nhà Trần. Truyện cổ vùng Thanh Hóa, Nghệ An cho rằng con cháu của Chế Bồng Nga ở lại các vùng này và trở thành người Việt.


Từ 1371 đến 1383, quân đội Chiêm Thành đã 4 lần chiếm đóng Thăng Long và năm 1390, lúc đang tiến vào Thăng Long lần thứ tư, thì Chế Bồng Nga bị tử trận, chấm dứt một trang hùng sử.


 


Các lần tấn công Đại Việt: Sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục (gọi tắt là Cương mục) chép về những cuộc tấn công Đại Việt của Chế Bồng Nga (trong đó những cuộc tấn công từ năm 1366 trở về trước có quy mô nhỏ, là những cuộc cướp phá biên giới):


 


Năm 1361, tháng 3, Chiêm Thành vào cướp phủ Lâm Bình. Quan quân đánh bại được địch.


Năm 1365, tháng giêng, Chiêm Thành cướp bắt dân Hoá Châu.


Năm 1366,tháng 3, Chiêm Thành lấn cướp phủ Lâm Bình. Phạm A Song đánh phá được địch.


Năm 1371, tháng 3 nhuận. Chiêm Thành vào cướp kinh đô. Vua (Trần Nghệ Tông) chạy sang huyện Đông Ngàn. Người Chiêm bắt con trai, con gái, cướp bóc ngọc lụa, của cải, thiêu đốt cung điện, đồ thư và sổ sách. Kinh thành, vì thế, hết sạch sành sanh. Từ đấy, năm nào, Chiêm Thành cũng thường vào xâm lấn khuấy nhiễu; do đó biên giới mới xảy ra lắm việc.


Năm 1376, tháng 5. Chiêm Thành vào cướp Hóa Châu...Tháng 12, vua tự làm tướng, đi đánh Chiêm Thành."


Năm 1377 tháng 6. Chiêm Thành vào cướp kinh đô, mặc sức cướp bóc vơ vét.


Năm 1378, tháng 5, Chiêm Thành cướp kinh đô. Đỗ Tử Bình chống giữ, nhưng chống không nổi. Quân giặc xâm phạm kinh đô: cướp của, bắt người, rồi rút về.


Năm 1380 tháng 2, Chiêm Thành lấn cướp Nghệ An, Thanh Hóa. Tháng 5, Lê Quý Ly đánh bại được quân Chiêm. Chế Bồng Nga thua trận, trốn về.


Năm 1382 tháng 2, Chiêm Thành cướp Thanh Hóa. Quan quân đánh bại được giặc.


Năm 1383 tháng 6, Chiêm Thành cướp phủ Quảng Oai. Lê Mật Ôn đi chống giữ, nhưng bị thua. Thượng hoàng phải tránh sang Đông Ngàn. Quân Chiêm lại cướp phá Thăng Long.


Năm 1389 tháng 10, Chiêm Thành vào cướp Thanh Hóa. Sai Quý Ly đem quân đi chống cự. Bị thua, Quý Ly trốn về. Tháng 11. Quân Chiêm Thành xâm phạm đến Hoàng Giang. Trần Khát Chân đem quân chống cự. Ngày 23 tháng giêng năm 1390, Trần Khát Chân nhờ hàng tướng Chiêm Thành là Ba Lậu Kê chỉ cho thuyền vua Chiêm, chĩa hết hỏa pháo bắn vào. Chế Bồng Nga bị trúng đạn tử trận.


Nhà nước Chiêm Thành Hậu Chế Bồng Nga: Chế Bồng Nga chết, các vùng đất dưới ảnh hưởng Chiêm Thành đều được Lê Quý Ly (tức Hồ Quý Ly sau này) thu hồi. Lê Quý Ly đã tấn công vào vùng đất Cổ Lũy (Quảng Ngãi) ngày nay. Theo Biên Niên Sử Hoàng Gia Chăm (1835), Thủ đô Bal Angwei (Quảng Ngãi?) đã thất thủ vào năm 1397 và dân tị nạn đổ vào Bal Panrang (Phan Rang?). Sau trận chiến năm 1400 của vua Chu Đệ nhà Minh thì một bộ phận nhà nước Chiêm Thành được khôi phục (vương triều Đồ Bàn/Chà Bàn). Sau khi Lê Lợi đuổi quân Minh ra khỏi, vương triều Panrang cũng được khôi phục (1433). Sau khi Bal Sri Binay (Đồ Bàn/Chà Bàn) thất thủ, vương triều Panrang đã thừa kế vương quốc Chiêm Thành cho đến năm 1832.


 


Chiến tranh Việt – Chiêm 1367-1396 là cuộc chiến giữa nước Đại Việt thời hậu kỳ nhà Trần và nước Chiêm Thành phía Nam. Chiến tranh bùng nổ ác liệt nhất trong hơn 20 năm dưới thời vua Chế Bồng Nga của Chiêm Thành (1367 – 1390).


Nguyên nhân sâu xa của cuộc chiến giữa Đại Việt và Chiêm Thành, theo ý kiến của Trần Trọng Kim và Trần Xuân Sinh, bắt đầu từ cái chết của vua Chiêm là Chế Mân[1][2] năm 1307.


 


Đón Huyền Trân, bắt Chế Chí


Từ sau khi liên minh chống quân Nguyên Mông thắng lợi, quan hệ giữa Đại Việt và Chiêm Thành khá tốt đẹp. Nhà Trần gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân để đổi lấy châu Ô và châu Rí[3]. Nhà Trần đổi gọi hai đất này là Tân Bình và Thuận Hóa. Năm 1307, Chế Mân chết, theo tục lệ Chiêm Thành thì Huyền Trân phải hỏa táng chết theo. Vua Trần Anh Tông sai Đỗ Khắc Chung mượn tiếng thăm viếng và dùng kế đưa Huyền Trân về nước. Vì vậy vua Chiêm mới là Chế Chí không phục nhà Trần, có ý đòi lại đất Ô Rí đã dâng.


 


Năm 1311, Trần Anh Tông mang đại quân đi đánh Chiêm. Đến trại Câu Chiêm, Anh Tông dụ Chế Chí. Chế Chí biết mình thế yếu bèn theo đường biển ra hàng. Anh Tông tuy phong Chế Chí làm vương nhưng bắt về giam lỏng ở Gia Lâm, cho em Chí là Chế Đà A Bà Niêm làm tước hầu, trấn giữ nước Chiêm. Năm 1313, Chế Chí chết tại Gia Lâm. Các nhà nghiên cứu cho rằng từ việc nhà Trần cướp lại công chúa Huyền Trân và giam Chế Chí tới hết đời, Đại Việt và Chiêm Thành kết thù oán mãi đến sau này[4][5].


 


Hai lần can thiệp ngôi vua Chiêm


Sau khi Chế Đà A Bà Niêm mất năm 1318, Đại Việt can thiệp vào chính trường Chiêm Thành, đánh đuổi vua Chiêm là Chế Năng chống đối và lập một vị vua thần phục mình là Chế A Nan làm vương.


 


Năm 1342, Chế A Nan chết, con là Chế Mộ và con rể là Trà Hoa Bố Đế tranh nhau ngôi vua. Người Chiêm ủng hộ Bố Đế, năm 1352 Chế Mộ yếu thế phải chạy sang Đại Việt cầu cứu. Năm sau (1353), Trần Dụ Tông lại can thiệp vào ngôi vua Chiêm, cho quân đưa Chế Mộ về nước. Nhưng lần đó quân Trần bị quân Chiêm đánh bại phải rút về.


 


Chiêm Thành lấn cướp biên giới Đại Việt


Năm 1360, Trà Hoa Bố Đế chết, em là Chế Bồng Nga lên thay.


Vua Chiêm thấy quân đội nhà Trần không còn hùng mạnh như trước nên liên tục cướp phá biên giới Hóa châu của Đại Việt vào các năm: 1361, 1362, 1365, 1366. Dù các tướng biên giới nhà Trần đẩy lui được quân Chiêm nhưng các cuộc cướp phá không chấm dứt. Vì vậy Trần Dụ Tông quyết định khởi binh đi đánh Chiêm Thành.


 


Giao tranh 1367-1368: Năm 1367, Trần Dụ Tông cử Trần Thế Hưng làm Thống quân hành khiển đồng tri, Đỗ Tử Bình làm phó, mang quân đi đánh Chiêm Thành.


 


Tháng 4 âm lịch năm 1368, quân Trần tiến vào Chiêm Động (Quảng Nam). Quân Chiêm đặt phục binh, quân Trần rơi vào chỗ phục kích, bị thua trận. Trần Thế Hưng bị bắt, Đỗ Tử Bình chạy thoát, mang tàn quân chạy về nước.


 


Chiêm Thành thấy binh lực nhà Trần ngày càng sút kém, bèn sai Mục Bà Ma đi sứ sang đòi đất Hóa châu nhưng không thành.


 


Giao tranh 1371


Qua năm sau, Đại Việt có biến cố. Trần Dụ Tông mất, con là Nhật Lễ lên ngôi. Mẹ Nhật Lễ là vợ cũ của kép hát Dương Khương; Nhật Lễ giết mẹ Dụ Tông và muốn đổi sang họ Dương. Được hơn 1 năm (1370), Nhật Lễ bị hoàng tử Trần Phủ lật đổ giành ngôi, tức là vua Trần Nghệ Tông.


Mẹ Nhật Lễ chạy sang Chiêm Thành xin Chế Bồng Nga đánh Đại Việt trả thù.


Tháng 3 nhuận năm 1371, Chế Bồng Nga mang quân ra đánh. Quân Chiêm vượt biển đánh vào cửa Đại An[6], tiến thẳng vào kinh thành Thăng Long. Quân Chiêm vào đến Thái Tô, huyện Thọ Xương. Quân Trần chống cự không nổi. Trần Nghệ Tông phải đi thuyền qua sông chạy sang Đông Ngàn để tránh ở Cổ Pháp, làng Đình Bảng.


 


Ngày 27 tháng 3 nhuận, quân Chiêm tiến vào Thăng Long, cướp phá cung điện, bắt phụ nữ, lấy của cải ngọc lụa mang về. Kinh thành bị cướp sạch trơn.


 


Quân Chiêm rút về nước. Trần Nghệ Tông trở lại kinh đô, cho xây dựng sửa sang lại, dùng người tông thất đứng ra làm chứ không dùng sức dân[7].


 


Giao tranh 1376-1377: Trần Duệ Tông củng cố lực lượng. Trần Nghệ Tông lập em là Trần Kính làm thái tử và sang năm 1372 thì truyền ngôi vua lên làm thượng hoàng. Trần Kính trở thành vua Trần Duệ Tông.


 


Để trả thù việc Chiêm Thành đánh cướp kinh thành, Trần Duệ Tông ra sức xây dựng quân đội. Tháng tám năm 1374, ông cho dân đinh xung vào quân ngũ: hạng nhất xung vào Lan Đô, rồi đến hạng nhì, hạng ba. Năm 1375, Duệ Tông xuống chiếu chọn các quan viên, người nào có tài năng, luyện tập nghề võ, thông hiểu thao lược, thì không cứ là tông thất đều làm tướng coi quân, đồng thời cho ra khỏi quân ngũ những người lính già cả, ốm yếu, bệnh tật.


 


Năm 1376, vua Chiêm là Chế Bồng Nga lại mang quân xâm lấn. Duệ Tông sai Đỗ Tử Bình đi đánh. Chế Bồng Nga sợ hãi, xin dâng 10 mâm vàng tạ tội. Nhưng Tử Bình giấu vàng đi, lại tâu về triều rằng vua Chiêm kiêu ngạo không thần phục[8]. Duệ Tông nổi giận, quyết định thân chinh đi đánh. Các quan đại thần Lê Tích, Trương Đỗ can ngăn không nên thân chinh nhưng Duệ Tông không nghe, sai quân dân Thanh Hóa, Nghệ An, Diễn Châu tải 5 vạn thạch lương đến tích trữ ở Hóa châu và rước thượng hoàng Nghệ Tông đi duyệt binh ở sông Bạch Hạc.


 


Trận Đồ BànTháng 12 âm lịch (đầu năm 1377), Trần Duệ Tông cầm 12 vạn quân tiến vào đất Chiêm Thành. Vua Trần sai Lê Quý Ly (tức Hồ Quý Ly) đốc vận lương thảo đến cửa biển Di Luân (Quảng Bình) rồi dừng quân 1 tháng để luyện sĩ tốt. Người Tân Bình và Thuận Hóa bắt được nhiều người Chiêm mang nộp.


 


Tháng giêng năm 1377, quân Trần tiến đến Cầu Đá ở cửa Thi Nại (Quy Nhơn), đánh lấy đồn Thạch Kiều rồi tiến tới kinh thành Đồ Bàn nước Chiêm. Chế Bồng Nga lập đồn giữ ngoài thành, rồi cho người đến trá hàng, nói với Trần Duệ Tông rằng Chế Bồng Nga đã bỏ thành trốn.


 


Duệ Tông muốn tiến quân vào thành ngay, đại tướng Đỗ Lễ can ngăn mãi nhưng vua Trần không nghe, nói với quân sĩ rằng:


 


"Ta mình mặc giáp, tay cầm gươm, dãi gió dầm mưa, lội sông, trèo núi, vào sâu trong đất giặc, không một người nào dám chống lại đó là trời giúp. Huống chi nay vua giặc nghe tiếng bỏ trốn, không có lòng đánh lại. Cổ nhân nói “Dụng binh quý ở nhanh chóng”. Nay lại dùng dằng không tiến nhanh, thế là trời cho mà không lấy, để nó lại có mưu khác, thì hối không kịp?”


Duệ Tông thúc quân tiến vào thành. Quân Chiêm tứ phía phục binh đổ ra đánh, chia cắt quân Trần ra từng đoạn. Quân Đại Việt thua to, mười phần chết đến 7, 8 phần. Duệ Tông bị hãm trong vòng vây, bị trúng tên tử trận. Các tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Lạp Hòa, Hành khiển Phạm Huyền Linh cũng tử trận. Ngự Câu vương Trần Húc bị bắt đã đầu hàng Chế Bồng Nga, được gả con gái.


 


Đỗ Tử Bình trước đã vu cáo vua Chiêm, lúc đó lĩnh hậu quân không tới cứu ứng cho Duệ Tông. Lê Quý Ly cũng sợ hãi bỏ chạy. Tuy nhiên khi về kinh, Quý Ly không hề bị thượng hoàng Nghệ Tông trách cứ, còn Tử Bình chỉ bị đồ làm lính 1 năm, sau đó lại được cất nhắc lên chức vụ cao hơn trước.


 


Trận Đồ Bàn 1377 là thất bại lớn nhất của quân Trần trong các cuộc giao tranh với quân Chiêm. Thượng hoàng Trần Nghệ Tông thấy vua em vì việc nước bỏ mình, nên lập con trưởng của Duệ Tông là Trần Hiện lên ngôi, tức là Trần Phế Đế.


 


Chế Bồng Nga bắc tiến:Sau thất bại của đại quân Trần năm 1377, Chế Bồng Nga biết binh lực nhà Trần đã rất suy nhược nên liên tục phát binh Bắc tiến. Quân Trần bị thất thế trước sức tấn công từ phương Nam trong nhiều năm.


 


Đầu tháng 11 năm 1377, vua Chiêm lại theo đường biển tiến đánh Đại Việt. Thượng hoàng Nghệ Tông sai Trấn quốc tướng quân Sư Hiền ra giữ biển Đại An. Chế Bồng Nga thấy Đại An có phòng bị, bèn tiến vào cửa Thần Phù[9] và tiến vào Thăng Long lần thứ 2. Quân Trần không ngăn cản nổi. Quân Chiêm cướp phá kinh thành, đến ngày 12 tháng 11 thì rút lui qua cửa Đại An, bị gió bão chết đuối rất nhiều[10].


 


Tháng 5 năm 1378, Chế Bồng Nga đưa hàng vương Trần Húc về nước, đánh cướp Nghệ An. Tháng 6, quân Chiêm tiến vào cửa Đại Hoàng. Thượng hoàng Nghệ Tông phục chức cho Đỗ Tử Bình, sai ra chống giữ. Tử Bình đánh không lại, quân bị tan vỡ. Chế Bồng Nga tiến vào Thăng Long lần thứ 3, bắt người cướp của rồi rút về.


 


Năm 1380, vua Chiêm lại dụ dân Tân Bình và Thuận Hóa đi cướp phá Nghệ An và tiến lên Thanh Hóa. Thượng hoàng Nghệ Tông lại sai Lê Quý Ly lĩnh quân thủy và Đỗ Tử Bình dẫn quân bộ ra chống. Tới tháng 5, quân Chiêm không đánh được phải rút lui.


 


Tháng 2 năm 1382, quân Chiêm lại tiến đánh Thanh Hóa. Lê Quý Ly đóng đồn ở núi Long Đại[11], sai Nguyễn Đa Phương đóng cọc giữ cửa biển Thần Đầu. Quân Chiêm hai đường tiến đánh. Khi thủy quân Chiêm lại gần, Đa Phương không đợi lệnh Quý Ly, cho mở cọc cắm cừ, tiến ra giao chiến. Quân Chiêm trở tay không kịp, quân Trần dùng hỏa khí ném vào làm thuyền Chiêm bị cháy đắm gần hết. Quân Chiêm thua to, phải bỏ chạy vào rừng núi. Quân Trần vây núi 3 ngày, quân Chiêm nhiều người bị chết đói. Thủy quân Chiêm còn lại bỏ chạy về nước. Quân Trần đuổi theo đánh đến Nghệ An.


 


Sau hai lần đẩy lui được quân Chiêm, tháng 1 năm 1383, nhà Trần quyết định đi đánh Chiêm. Lê Quý Ly được giao lĩnh quân thủy Nam tiến, nhưng đến huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) gặp gió bão, thuyền bị vỡ, toàn quân phải rút về.


 


Tháng 6 năm 1383, Chế Bồng Nga lại dẫn quân đánh Đại Việt. Thăng Long kinh động. Thượng hoàng sai Lê Mật Ôn đem quân đi chống giữ. Mật Ôn bị quân Chiêm bắt sống. Thượng hoàng Nghệ Tông chạy qua sông Đông Ngàn để lánh giặc. Có người học trò là Nguyễn Mộng Hoa để cả áo mũ lội xuống nước kéo thuyền ngự lại, xin Nghệ Tông ở lại đánh giặc, nhưng thượng hoàng không nghe. Lòng quân nản, không chống được địch. Chế Bồng Nga tiến vào Thăng Long lần thứ 4 và cướp phá một trận nữa.


 


Tháng 10 năm 1389, Chế Bồng Nga lại đánh lên Thanh Hóa, tiến vào hương Cổ Vô. Nghệ Tông lại sai Quý Ly đi chống cự. Quân Chiêm đắp ngăn sông Bản Nha ở thượng lưu, quân Trần đóng cọc đối địch, giữ nhau 20 ngày. Quân Chiêm đặt phục binh, giả cách rút lui. Lê Quý Ly chọn những quân khỏe cho đuổi theo. Quân Trần nhổ cọc ra đánh, quân Chiêm phá đập nước. Quân bộ khỏe mạnh đã đi xa, quân thủy bị ngược dòng không tiến lên được. Kết quả quân Trần bị thua to, hàng trăm tướng tử trận[12]. Quý Ly để tỳ tướng Phạm Khả Vĩnh và Nguyễn Đa Phương ở lại cầm cự với giặc, còn mình thì trốn về Thăng Long.


 


Phạm Khả Vĩnh và Nguyễn Đa Phương chống giữ ở Ngu Giang, biết mình thế yếu, bèn dùng kế giương nhiều cờ xí để nghi binh mà rút lui. Quân Chiêm không dám đuổi theo. Quân Trần rút lui trọn vẹn không bị tổn thất.


 


Trở về kinh thành, Nguyễn Đa Phương công khai chê Quý Ly là bất tài. Quý Ly căm tức, nói với Nghệ Tông rằng trận thua này là do nghe lời Đa Phương. Nghệ Tông bèn cách chức Phương. Quý Ly lại bảo Nghệ Tông nên giết Phương vì sợ Phương đi hàng Chiêm. Nghệ Tông bèn ép Phương tự vẫn.


 


Trận Hải Triều (Sông Luộc) 1390


Sau khi Nguyễn Đa Phương và Phạm Khả Vĩnh rút về Thăng Long, tháng 11 năm 1389, Chế Bồng Nga thừa thắng tiến theo cửa Hoàng Giang thuộc Nam Xang (Hà Nam).


 


Trần Nghệ Tông sai đô tướng Trần Khát Chân ra chống giữ. Khát Chân khóc lạy lên đường, Nghệ Tông cũng khóc đưa tiễn. Điều này được các sử gia đánh giá rằng nhà Trần đã quá khiếp nhược trước sự uy hiếp của Chiêm Thành[13][14].


 


Trần Phế Đế bị thượng hoàng Nghệ Tông nghe lời gièm của Lê Quý Ly mà giết hại năm 1388. Nghệ Tông lập con nhỏ là Ngung lên ngôi, tức là Trần Thuận Tông. Em Phế Đế là Trần Nguyên Diệu mang các thủ hạ đi đầu hàng Chế Bồng Nga.


 


Trần Khát Chân đến Hoàng Giang xem xét địa thế, thấy không có chỗ nào đóng quân thuận lợi, bèn rút về đóng ở Hải Triều, tức sông Luộc[15].


 


Đầu năm 1390, Chế Bồng Nga và Trần Nguyên Diệu mang hơn 100 chiến thuyền đến Hải Triều đối đầu với Trần Khát Chân. Các thuyền khác của Chiêm Thành chưa kịp đến hội.


 


Có viên tướng Chiêm là Ba Lậu Kê bị tội với Chế Bồng Nga, sợ bị giết, bèn chạy trốn sang phía quân Trần, đầu hàng Trần Khát Chân. Ba Lậu Kê chỉ cho Khát Chân biết chiếc thuyền nào là chiến thuyền của Chế Bồng Nga. Trần Khát Chân sai các hỏa pháo tập trung chĩa vào chiến thuyền vua Chiêm mà bắn. Chế Bồng Nga bị trúng đạn tử trận. Người trong thuyền kêu khóc ầm ĩ.


 


Trần Nguyên Diệu thấy vua Chiêm chết, bèn cắt lấy đầu định trở về Đại Việt; hai tướng Đại Việt là Phạm Nhữ Lặc và Dương Ngang giết chết Nguyên Diệu, cướp lấy thủ cấp của Chế Bồng Nga nộp cho Trần Khát Chân. Khát Chân sai Lê Khắc Khiêm bỏ đầu vua Chiêm vào hòm, mang về dâng Trần Nghệ Tông ở Bình Than.


 


Quân Chiêm tan chạy. Tướng Chiêm là La Ngai thu thập tàn quân, hỏa táng xác Chế Bồng Nga, rồi men theo chân núi rút về. Quân Trần đuổi theo đánh, La Ngai dừng voi lại, tung ra nhiều tiền của để nhân lúc quân Trần mải nhặt đồ mà chạy thoát.


 


 


Về cơ bản, sau cái chết của Chế Bồng Nga, giữa Đại Việt và Chiêm Thành không còn những cuộc chiến quy mô.


 


Sang năm 1391, Lê Quý Ly và Hoàng Phụng Thế lại mang quân đến Hóa châu, tuần tiễu biên giới Chiêm Thành. Quân Chiêm đặt phục binh đánh tan quân Trần. Phụng Thế bị bắt, sau trốn được về. Lê Quý Ly sai chém 30 viên đại đội phó dưới quyền của Phụng Thế.


 


Năm 1396, Quý Ly đã hoàn toàn khống chế triều Trần, sai Trần Tùng đi đánh Chiêm Thành, giành được thắng lợi nhỏ, bắt được tướng Chiêm là Bố Đông và lui binh. Đây là cuộc giao tranh cuối cùng giữa quân Trần và quân Chiêm.


 


Sau cái chết của Chế Bồng Nga, thế nước Chiêm Thành suy yếu. Tướng La Ngai về nước tự lập làm vua. Các con Chế Bồng Nga là Chế Ma Nô Đà Nan và Chế Sơn Na bị La Ngai giành ngôi, yếu thế phải chạy sang đầu hàng Đại Việt. Chế Na Mô Đà Nan được phong làm Hiệu chính hầu và Chế Sơn Na được phong làm Á hầu.


 


Hai thổ hào trung thành với nhà Trần là Phạm Thế Căng và Phan Mãnh mang dân quy thuận triều đình trong lúc chiến loạn, được ban thưởng. Nhiều thổ hào ở Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa và các tướng từng theo Chiêm Thành đều bị hạ lệnh bắt để trị tội như Trần Nguyên Đĩnh, Trần Tông, Nguyễn Động, Nguyễn Doãn, Hoàng Khoa. Nguyên Đĩnh và Trần Tông nhảy xuống sông tự vẫn. Một gia nô của Trần Tông là Trần Khang trốn sang Lào, đổi tên là Thiêm Bình, đến thời nhà Hồ mạo xưng là con của Trần Nghệ Tông, chạy sang Trung Quốc cầu viện nhà Minh, là một nguyên nhân dẫn đến cuộc xâm lăng nước Việt của nhà Minh.


 


Chiến tranh giữa nhà Trần với Chiêm Thành chấm dứt. Sau nhiều năm giao tranh, cả hai bên đều bị tổn thất nặng nề. Chính sự nhà Trần lọt vào tay Lê Quý Ly và không đầy 10 năm sau thì Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Chiêm Thành sau vụ đòi lại đất không thành năm 1368 đã thực hiện nhiều cuộc Bắc tiến, nhưng cuối cùng vẫn không lấy lại được vùng đất đã hiến cho Đại Việt đổi lấy công chúa Huyền Trân năm 1306. Từ sau khi Chế Bồng Nga chết, nước Chiêm không còn vua giỏi, tiểu quốc này bước vào thời kỳ suy vong[16].


 


Tính trong cuộc chiến gần 30 năm, hai bên giao tranh tất cả 13 lần. Đại Việt Nam tiến 5 lần (1367, 1376-1377, 1383, 1391, 1396) thì chỉ có 1 lần thắng lợi nhỏ khi Chế Bồng Nga đã chết (1396), còn 4 lần đầu đều thất bại, trong đó nặng nề nhất là năm 1377 (năm 1383 ra quân không giao chiến). Chiêm Thành Bắc tiến tất cả 7 lần (1371, 1377, 1378, 1380, 1382, 1383, 1389-1390), trong đó thắng 5 lần (1371, 1377, 1378, 1383, 1389) - 4 lần tiến vào kinh thành Thăng Long của Đại Việt (1371, 1377, 1378, 1383), thất bại 3 lần (1380, 1382, 1390 – năm 1389-1390 thắng trước thua sau).


 


Cả hai bên đều có vua bị tử trận khi tiến vào lãnh thổ nước địch. Phía Đại Việt là Trần Duệ Tông năm 1377, phía Chiêm Thành là Chế Bồng Nga năm 1390.


 


Cả hai bên đều có những mâu thuẫn nội bộ trong thời gian chiến tranh và có người chạy sang phía địch quốc. Phía Đại Việt có mẹ Dương Nhật Lễ cùng các tông thất Trần Húc, Trần Nguyên Diệu và các thổ hào vùng biên; phía Chiêm Thành có tướng Ba Lậu Kê, Chế Ma Nô Đà Nan và Chế Sơn Na.


 


Theo nhìn nhận của các sử gia, nhà Trần thời Trần Dụ Tông trở đi đã suy nhược, không còn hùng mạnh như trước[17][18]. Ông vua duy nhất có hùng tâm thời kỳ này là Trần Duệ Tông có dũng nhưng thiếu mưu trí bị tử trận khiến khí thế quân Trần ngày càng suy kém[19].


 


Thượng hoàng Trần Nghệ Tông nhu nhược, chỉ biết mang Phế Đế chạy trốn và đem của cải đi chôn giấu vào núi khi quân Chiêm tấn công; về quân sự lại tin dùng mãi hai tướng bất tài là Lê Quý Ly và Đỗ Tử Bình; hai tướng này phạm tội nặng và để thua trận, hao tổn binh lực nhiều lần nhưng vẫn được trọng dụng. Điều đó khiến Chế Bồng Nga đánh ra Bắc, tiến vào Thăng Long “như vào chỗ không người”[20].


 


Về Chế Bồng Nga, nhiều ý kiến thừa nhận là một ông vua anh hùng ít có của Chiêm Thành. Nhưng theo Trần Xuân Sinh, vua Chiêm cũng chỉ có tài của tướng cướp dữ tợn. Chế Bồng Nga dùng binh đi chinh chiến liên miên nhiều năm khiến nhân lực Chiêm Thành bị tổn thất nặng. Không đòi lại đất đai bị mất để kiến thiết lại, bốn lần tiến vào Thăng Long, vua Chiêm chỉ cướp phá, vơ vét và vội vã rút về, không lần nào ở lâu. Chế Bồng Nga không phải ông vua anh hùng chấn hưng, mở mang đất nước[21].


 


Tham khảo:


Viện sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, NXB Khoa học xã hội


Viện sử học (1987), Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, NXB Khoa học xã hội


Trần Xuân Sinh (2006), Thuyết Trần, NXB Hải Phòng


Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục


Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, bản điện tử


________


^ Việt Nam sử lược, bản điện tử, tr 66


^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 312


^ Nam Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế hiện nay


^ Việt Nam sử lược, bản điện tử, tr 66


^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 312


^ Khoảng xã Quần Liêu, Nghĩa Hưng, Nam Định hiện nay


^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 363


^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 10


^ Cửa sông Chính Đại, Yên Mô, Ninh Bình.


^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 371


^ Tức núi Hàm Rồng, Đông Sơn, Thanh Hóa


^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 382


^ Việt Nam sử lược, bản điện tử, tr 72


^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 383


^ Thuộc huyện Hưng Nhân, Thái Bình, giáp với huyện Tiên Lữ, Hưng Yên


^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 386


^ Việt Nam sử lược, bản điện tử, tr 69, 71


^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 351


^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 368-369


^ Việt Nam sử lược, bản điện tử, tr 71


^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 385


http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Vi%E1%BB%87t-Chi%C3%AAm_1367-1396

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Việt Nam qua ghi chép người phương Tây: Phủ Võ vương qua mắt y sĩ phương Tây - Lê Nguyễn 27.03.2017
'Văn Thánh' đất Gia Định xưa giờ ở đâu? - Hồ Tường 27.03.2017
Sài Gòn cà phê chó mèo: 'một cún khác đã nghếch chân tè tiếp' - Tư liệu 26.03.2017
Không vỉa hè, những con đường bắt người Sài Gòn đi bộ 'phải phạm luật giao thông' - Nhiều tác giả 24.03.2017
Tôn Vũ (Tôn Tử) & Binh pháp Tôn Tử - Tư liệu 23.03.2017
Tôn Tẫn, Bàng Quyên - Tư liệu 23.03.2017
Danh nhân Đông Tây kim cổ (3) - Lương Văn Hồng 23.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc mão trang trí bằng 5 lượng vàng ròng - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc kính mắt châu Âu - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
Rao bán vỉa hè giá trăm triệu - Tư liệu 20.03.2017
xem thêm »