tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20008924
Lý luận phê bình văn học
17.03.2011
Tư liệu
Mấy xu hướng chủ yếu trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại

Bài của Nguyễn Văn Dân.


Trong lịch sử văn học Việt Nam, tiểu thuyết – trong đó có tiểu thuyết lịch sử – được coi là một lực lượng nòng cốt. Đặc biệt là ở thời đương đại, tiểu thuyết lịch sử đã nhanh chóng chiếm vị trí quan trọng với những bộ tiểu thuyết cỡ lớn, đáp ứng được yêu cầu của thời đại là giáo dục lịch sử và góp phần giải quyết những vấn đề của hiện tại. 


Yêu cầu giáo dục lịch sử bằng tiểu thuyết xuất hiện là do sự thúc bách của thực tế đời sống. Nhất là từ ngày Đổi mới, trong bối cảnh giao lưu và hội nhập quốc tế, phim lịch sử nước ngoài thâm nhập ồ ạt vào Việt Nam. Trong khi đó chúng ta lại không phát triển được các loại hình nghệ thuật lịch sử mang tính xã hội hoá cao để phổ biến cho người dân trong nước và cho cả nước ngoài biết. Điều này dẫn đến việc người dân nước ta, nhất là lớp trẻ, có xu hướng thông thạo sử nước ngoài hơn sử Việt Nam.


Năm 1997, nhà văn Hoàng Quốc Hải đã trăn trở thổ lộ: “...dân tộc ta có một quá khứ dựng nước và giữ nước đầy nhọc nhằn và kiêu dũng, không thua kém một dân tộc nào, nhưng sao thế giới biết đến ta quá ít. Cũng bởi bộ môn tiểu thuyết lịch sử của ta chậm phát triển. Đến nỗi thanh thiếu niên của chúng ta rất thông thạo sử Tầu, sử ấn, sử Hy - La, sử Anh, sử Pháp, v.v...”. Trong khi đó họ lại không biết rõ các nhân vật lịch sử của nước nhà.[1] Điều này đã thôi thúc các nhà văn sáng tác tiểu thuyết lịch sử để giáo dục lịch sử cho người dân Việt Nam, đặc biệt là lớp trẻ.


Ngoài ra, tiểu thuyết lịch sử còn có mục đích là mượn lịch sử để bàn về hiện tại. Lịch sử giống như một kho kinh nghiệm cho con người của thời đại ngày nay. Vì thế tiểu thuyết lịch sử đang nhận được sự quan tâm của nhiều nhà văn hơn bất cứ giai đoạn nào trong lịch sử văn học Việt Nam.


Quả thực, giai đoạn đương đại của nước ta đang chứng kiến sự xuất hiện của một loạt tiểu thuyết lịch sử có tiếng vang, trong đó có tác phẩm được tặng giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết lần thứ nhất 1998-2000 của Hội Nhà văn Việt Nam (Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, trao giải năm 2000); giải thưởng “Bùi Xuân Phái – vì tình yêu Hà Nội” lần thứ nhất (2008) của Quỹ Bùi Xuân Phái (bộ tứ tiểu thuyết triều Trần của Hoàng Quốc Hải [đến lần tái bản 2010 được bổ sung thêm hai tập]); giải thưởng hạng A cuộc thi tiểu thuyết lần ba 2006-2009 của Hội Nhà văn VN (Hội thề của Nguyễn Quang Thân, trao giải năm 2010). Có thể nói tiểu thuyết lịch sử đang lên ngôi.


Nhìn tổng thể bức tranh tiểu thuyết lịch sử trong nền văn học Việt Nam đương đại, và xét theo góc độ mục đích và quan niệm nghệ thuật của nhà văn, chúng tôi nhận thấy có ba xu hướng rõ nét trong tiểu thuyết lịch sử như sau.


Tiểu thuyết lịch sử chương hồi khách quan…


Nằm trong vùng văn hoá - văn học Đông á, tiểu thuyết lịch sử nước ta ban đầu cũng chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết lịch sử chương hồi Trung Quốc. Trong Hoàng Lê nhất thống chí, cách kể chuyện cũng lặp lại văn phong của La Quán Trung (Trung Quốc). Trong cuốn tiểu thuyết này, mở đầu mỗi hồi đều có hai câu văn đối ngẫu tóm lược tinh thần nội dung của hồi đó. Ngoài ra, nhóm tác giả thường dùng những mẫu lời dẫn như “Lại nói...”, “Một hôm...” để chuyển đoạn. Kết thúc mỗi hồi đều có câu kết mở: “Muốn biết việc tới thế nào? Hãy xem hồi sau phân giải”.


Đến thời đương đại, một số nhà văn vẫn viết tiểu thuyết lịch sử theo cấu trúc chương hồi. Điển hình là nhà văn Ngô Văn Phú, một tác giả say sưa viết tiểu thuyết lịch sử. Mặc dù ông không đặt ra các “hồi” mà gọi là “chương”, cũng không lặp lại các câu mở đầu đối ngẫu và các mẫu lời dẫn và lời kết mở như tiểu thuyết chương hồi cổ điển, nhưng lối kể chuyện của ông vẫn mang phong cách tiểu thuyết chương hồi. Theo phong cách này, sự việc và hiện tượng lịch sử tự mình dẫn dắt câu chuyện ở ngôi thứ ba, không có sự can thiệp của tác giả.


Đặc biệt gần đây có bộ tiểu thuyết Tây Sơn bi hùng truyện của Lê Đình Danh (2006). Nó đặc biệt vì tác giả đã tuân thủ khá nghiêm ngặt mô hình tiểu thuyết lịch sử chương hồi. Lê Đình Danh đã lặp lại cách viết của La Quán Trung nhưng có biến tấu đôi chút. Giống như Ngô Văn Phú, tác giả cũng chỉ đặt ra các “chương” chứ không gọi là “hồi”. Tuy nhiên ở đầu mỗi chương, tác giả vẫn đặt hai câu văn đối ngẫu như tiểu thuyết chương hồi cổ điển. Tác giả cũng sử dụng lối chuyển đoạn của tiểu thuyết chương hồi cổ điển, nhưng có thay đổi một chút cho có sắc thái riêng, ví dụ như tác giả thường sử dụng cụm từ mào đầu: “Nói về...”, “Một hôm...” để chuyển tiếp sang sự kiện khác. 


Nhìn chung, mặc dù việc tái hiện lịch sử vẫn tuân thủ cái nhìn chủ quan của người viết, nhưng các tác giả trong xu hướng này đã cố gắng thực hiện nhiệm vụ tái hiện tuần tự các sự kiện lịch sử một cách khách quan, không có sự can thiệp trực tiếp của người viết. Các tác giả để cho các sự kiện và nhân vật tự thể hiện bối cảnh, tinh thần và ý nghĩa của thời đại theo diễn biến tuyến tính của thời gian thực tế. Trong suốt cuốn tiểu thuyết chỉ có giọng văn kể chuyện ở ngôi thứ ba và các đoạn đối thoại giữa các nhân vật. Cuốn tiểu thuyết diễn ra như một bộ phim lịch đại. Sức hấp dẫn của nó nằm ở các sự kiện và hành động của nhân vật chứ không phải ở yếu tố bình luận ngoại đề của tác giả. Vì thế ý nghĩa giáo dục lịch sử của tiểu thuyết chương hồi nghiêng về tính thụ động, hoàn toàn phó mặc cho sự tiếp nhận của độc giả. Chính vì không dành cho tác giả một vai trò luận bàn, cho nên kiểu viết cổ điển này có vẻ ít hấp dẫn các tác giả hiện đại.


2. Tiểu thuyết lịch sử giáo huấn


Cách kể chuyện thụ động của tiểu thuyết chương hồi khách quan không thoả mãn được mục đích giáo dục lịch sử và giáo huấn cho cuộc sống của ngày hôm nay. Vì thế, đa số các tác giả ngày nay muốn cải tiến cách viết đó. Thay cho cách viết thuần tuý khách quan như tiểu thuyết lịch sử chương hồi, một số tác giả đã lựa chọn một lối viết kể chuyện giáo huấn mang tính sư phạm chủ động. Trong xu hướng này, Hoàng Quốc Hải là một đại diện tiêu biểu, với bộ sáu tiểu thuyết Bão táp triều Trần (1987 – 2010), và bộ tứ tiểu thuyết Tám triều vua Lý (2010).


Trong tiểu thuyết lịch sử của mình, Hoàng Quốc Hải dành khá nhiều đoạn để bộc bạch những lời có tính giáo huấn về nhân tình, thế thái, về nhân cách, về đạo làm người, đạo nhân nghĩa và về vai trò lịch sử của dân tộc. Chẳng hạn trong Huyền Trân công chúa, ông đã xây dựng hình tượng vua Trần Nhân Tôn như là một đấng minh quân mẫu mực. Ông đặt vào miệng nhà vua những lời giáo huấn như thể ông muốn gửi gắm những suy tư của chính mình: “Ta không chấp nhận việc tiến về phương nam! Ngươi thử nghĩ xem, nếu bây giờ người Nguyên cũng đặt chuyện tiến xuống phía Nam, tiến vào Đại Việt thì sao? Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân [Điều gì mình không muốn thì đừng bắt người khác muốn]. Người nhân nghĩa không thể vô cớ cất quân đi xâm lấn bờ cõi người khác.” ở một chỗ khác, nhà văn để cho vua Nhân Tôn phát biểu: “...các người phải nhớ điều ta dặn: “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác...”


Những đoạn giáo huấn như thế xuất hiện rất nhiều trong tiểu thuyết của Hoàng Quốc Hải. Với chủ trương giáo huấn, lẽ dĩ nhiên trong tác phẩm của ông, cái lý trí sẽ lấn át tình cảm, nhiều khi dẫn đến việc diễn tả suy nghĩ và hành động của nhân vật một cách đơn giản. Ví dụ điển hình cho cách làm này là đoạn diễn tả Huyền Trân đồng ý nhận lời lấy vua Chiêm Thành Chế Mân trước gợi ý của vua cha Nhân Tôn. Trước một vấn đề hệ trọng của cả đời người con gái mà tác giả cho nàng suy nghĩ một cách đầy lý trí và quá đơn giản để đi đến quyết định chấp thuận chỉ trong vòng hơn nửa trang sách. Trong suy nghĩ của mình, Huyền Trân đã tự nguyện nhận làm sứ giả cứu tinh cho vận mệnh đất nước mà không hề băn khoăn đến số phận của cá nhân mình. Tác giả đã để cho nhân vật lập luận theo lý trí chứ không băn khoăn day dứt về tâm lý. Có thể nói, các nhân vật trong tiểu thuyết của Hoàng Quốc Hải mang nặng dấu ấn quan điểm “dùng văn để dạy sử” của nhà văn.


Chính vì vậy mà trong cuộc toạ đàm về tiểu thuyết triều Trần của Hoàng Quốc Hải do báo Văn nghệ kết hợp với Nxb. Phụ nữ tổ chức tại Hà Nội ngày 18-10-2003, các đại biểu tham dự đều nhấn mạnh ý nghĩa giáo dục của tiểu thuyết lịch sử của nhà văn, ghi nhận “phong cách sử thi truyền thống, với văn phong dễ đọc, phục vụ đại chúng. Tuy nhiên chính vì thế mà trong cuộc toạ đàm cũng có ý kiến cho rằng việc lệ thuộc gò bó vào sự thật lịch sử đã làm cho nghệ thuật hư cấu của Hoàng Quốc Hải bị hạn chế, (...) từ đó làm cho hiệu quả nghệ thuật chưa thoả mãn được người đọc”.[2] Ta thấy nhà văn vẫn triển khai câu chuyện trong khung cảnh thời gian tuyến tính của lối viết chương hồi truyền thống. Có nghĩa là, trong việc cải tiến lối viết của tiểu thuyết lịch sử chương hồi, tiểu thuyết lịch sử giáo huấn vẫn chưa có sự bứt phá về nghệ thuật.


Dù sao, trước tình hình “đói sử” như Hoàng Quốc Hải đã nói về người dân nước ta hiện nay, thì việc ông thực hiện “văn chương hoá lịch sử” theo tinh thần giáo huấn đã là một đóng góp lớn cho xã hội và cho thể loại tiểu thuyết lịch sử. Tiểu thuyết của ông đã tái hiện những giai đoạn lịch sử dài của dân tộc, truyền đạt được cái “tinh thần của lịch sử” như lời của nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà văn VN, kết luận cuộc toạ đàm. Có thể nói, tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quốc Hải đến với bạn đọc như những bộ phim lịch sử hấp dẫn cho đại chúng nhân dân. Đó chính là thành công của một nhà văn đầy tâm huyết với lịch sử dân tộc.


3. Tiểu thuyết lịch sử luận giải


Trong cuộc toạ đàm nói trên, ý kiến nhận xét về sự hạn chế của nghệ thuật hư cấu và của hiệu quả nghệ thuật của Hoàng Quốc Hải chính là do hai nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và Nguyễn Quang Thân đưa ra, cả hai đều là những người đã được nhận giải thưởng lớn trong các cuộc thi tiểu thuyết gần đây của Hội Nhà văn Việt Nam. Nguyễn Xuân Khánh tuyên bố tiểu thuyết lịch sử phải đi sâu khai thác các yếu tố như luận đề, tâm lý. Nguyễn Quan Thân nhấn mạnh sự tự do phóng khoáng của trực giác. Thực tế, mặc dù cùng có mục đích cải tiến cách viết của tiểu thuyết chương hồi, nhưng họ không lựa chọn cách viết sư phạm của Hoàng Quốc Hải, mà lựa chọn những giai đoạn và sự kiện lịch sử “có vấn đề” để khai thác và luận giải. Vì thế ta có thể nói đến một xu hướng thứ ba là tiểu thuyết lịch sử luận giải mà Nguyễn Xuân Khánh và Nguyễn Quang Thân là đại diện.


Hồ Quý Ly là một nhân vật “có vấn đề” trong lịch sử Việt Nam. Hiện đang có những ý kiến nhận định khác nhau về nhân vật này. Theo tôi, cái “luận đề” [chữ dùng của Nguyễn Xuân Khánh] xuyên suốt tác phẩm Hồ Quý Ly chính là luận đề về ý nghĩa “thời thế” của nhân vật này trong thời đại suy tàn của nhà Trần, khi mà số phận của triều Trần đã không còn cho phép nó đảm đương trọng trách của lịch sử. Trong tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh, cái luận đề đó xuất hiện giống như một chủ đề quán xuyến và luôn trở đi trở lại trong các cuộc nghị bàn của các nhân vật lịch sử. Có thể nói, Nguyễn Xuân Khánh đã kể lại các sự kiện lịch sử để luận giải thế sự. Trong tác phẩm của mình, nhà văn chủ yếu kể mà ít tả cảnh, tả người. Nhân vật không được thể hiện bằng hình ảnh mà bằng ý nghĩ, tư tưởng. Đọc suốt cả cuốn tiểu thuyết ta không hình dung được các nhân vật chính có bộ mặt và hình dáng như thế nào, mà ta chỉ thấy hiện lên rõ nét tư tưởng của mỗi người. Để phù hợp với chủ trương luận giải lịch sử, Nguyễn Xuân Khánh không mô tả sự kiện theo trình tự thời gian tuyến tính như Hoàng Quốc Hải, mà thực hiện việc triển khai một thời gian đa chiều, hiện tại đan xen quá khứ. Bằng cách đó, vấn đề cần luận giải được nhìn nhận từ nhiều góc độ và cung bậc khác nhau. Từ đó, tác phẩm của nhà văn diễn ra không giống một bộ phim như tiểu thuyết của Hoàng Quốc Hải, mà nó mở ra như bản giao hưởng chương hồi với một chủ đề quán xuyến lặp đi lặp lại. Trong ngôn ngữ âm nhạc thế giới, người ta gọi đó là “leitmotiv” [laitmôtíp].


Trong khi đó Nguyễn Quang Thân cũng lựa chọn những nhân vật “có vấn đề” của triều đại nhà Lê, đặc biệt là Nguyễn Trãi, để viết Hội thề. ở đây, cái “leitmotiv” được lựa chọn là sự xung đột giữa quyền lực võ biền với trí thức mà đại diện là Nguyễn Trãi. Sự trở đi trở lại của chủ đề chính này cũng diễn ra trong thời gian đa chiều như trong Hồ Quý Ly. Chứ chủ đề chính của tác phẩm không phải là sự tương phản giữa tình yêu của Lê Lợi và của Nguyễn Trãi với tình yêu của hai tên tướng Ngô như có người nhận xét. (Thực tế, cái gọi là “mối tình” của viên hàng tướng Thái Phúc và của viên bại tướng Vương Thông chỉ hiện ra rất mờ nhạt, Nguyễn Quang Thân chỉ nhắc đến nó ba lần: một lần cho Thái Phúc, hai lần cho Vương Thông. Mà đúng ra nó chỉ giống như tình dục hơn là tình yêu. Không đáng phải bàn!) Còn cái chủ đề chính kia mới thực sự làm Nguyễn Quang Thân trăn trở, cái trăn trở nhằm tôn vinh tài trí của bậc trí thức Nguyễn Trãi, sự tài trí đã giúp dân ta giành chiến thắng cuối cùng trong hoà bình mà bớt được hoạ binh đao. Chỉ có điều, không biết nhà văn có phóng đại cái mâu thuẫn đó không, và liệu có phần nào bất công với giới võ tướng nhà Lê? Chẳng lẽ với những thành tích và mất mát sau mười năm kháng chiến chống quân Minh, giới võ tướng nhà Lê lại xấu xa đến thế? Còn lời lẽ của Nguyễn Trãi trong Hội thề cũng có vẻ quá nhún nhường trước kẻ thù. Trong các trước tác được lưu giữ của Nguyễn Trãi, chúng tôi thấy ông tỏ ra kiêu hùng hơn thế nhiều.


Có thể nói, xu hướng thứ ba này có vẻ phù hợp với tầm đón nhận của công chúng thời hiện đại. Có lẽ chính vì thế mà cả hai cuốn tiểu thuyết lịch sử nói trên đều nhận được sự đánh giá cao của ban giám khảo cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam.


Cuối cùng chúng tôi muốn nói rằng: hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử xuất phát từ quan niệm nghệ thuật của nhà văn. Do đó cũng không nên tuyệt đối hoá nó để đánh giá thành công nghệ thuật của nhà văn. Có nhà văn chủ trương trung thành với lịch sử, có nhà văn đề cao sự sáng tạo hư cấu. Vì thế thành công nghệ thuật cần phải được đánh giá một cách toàn diện từ nhiều góc độ chứ không phải chỉ căn cứ vào nghệ thuật hư cấu.


 


Hà Nội, Tết Tân Mão


NVD.


 


Nguồn: Văn nghệ, số 11, ngày 12-3-2011. Bài này đã được viết xong trong mấy ngày Tết Tân Mão, gửi Báo Văn nghệ từ ngày 8-2-2011 theo đường email. Trong bản này tác giả có bổ sung thêm từ “khách quan” vào tiêu đề của mục 1 cho rõ nghĩa,


Bản điện tử: phongdiep.net


-----


[1] Hoàng Quốc Hải, bài “Tựa” (viết năm 1997) trong: HQH, Bão táp cung đình, Nxb. Phụ nữ, H., 2003, tr. 9-10.


[1] P.V., “Toạ đàm về bộ tiểu thuyết triều Trần của nhà văn Hoàng Quốc Hải”, Văn nghệ, số 43, 25-10-2003, tr. 6. 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ thiên tài Joseph Brodsky: những cái may trong cái rủi - Keith Gessen 20.07.2017
Joseph Brosky: Về thơ & đời - Joseph Brodsky 20.07.2017
Kinh Thánh: Tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại - Nguyễn Hải Hoành 16.07.2017
Thế giới xô lệch – Đọc tiểu thuyết đương đại tiếng Việt bằng triết học nhận thức - Lê Thanh Hải 13.07.2017
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao - Hà Thị Hoài Phương 09.07.2017
Đôi lời về Vecte và nỗi đau của chàng - Quang Chiến 07.07.2017
Huyền thoại Faust - Triệu Thanh Đàm 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (3) - Phan Quang 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (2) - Phan Quang 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (1) - Phan Quang 06.07.2017
xem thêm »