tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18432729
Lý luận phê bình văn học
09.03.2011
Tư liệu
Con đường từ kí, chí, truyện... đến tiểu thuyết

1.Về thuật ngữ tiểu thuyết


Từ tiểu thuyết là một từ ghép xuất hiện rất sớm trong  tiếng Hán. Lật các sách cổ của Trung Quốc ra đều có thể dễ dàng tìm thấy. Tuy nhiên ở mỗi thời kỳ, mỗi triều đại nó có hàm nghĩa khác nhau. Có không dưới năm cách giải thích rất phức tạp. Vì vậy nó không phải là từ tiểu thuyết mà chúng tôi muốn trao đổi ở đây, mà là một từ tiểu thuyếtcó tuổi đời ít hơn.


 


Mọi người đều biết, cách đây trên một thế kỷ, người phương Tây đã tràn sang phương Đông. Trong hành trang đi tìm chân trời mới của họ không chỉ có “Kinh Thánh” dùng để truyền dạy lời Chúa, mà còn có rất nhiều loại sách khác. Trong số những cuốn sách họ mang theo có những cuốn nội dung mô tả chuyện đời, chuyện thân phận con người bên trời Tây xa xôi của họ. Những cuốn sách ấy thực sự đã tạo ra sức hấp dẫn ngay từ đầu. Chúng vừa lạ lại vừa quen.


 


Họ gọi loại sách đó là “novel” hoặc “roman” và một vài từ khác nữa có hàm nghĩa gần giống. Thế là, người Nhật Bản, một dân tộc vốn rất nhanh nhạy trong viêc tiếp thu văn minh ngoại quốc, đã dùng từ shoosetsu vốn mượn từ tiếng Hán để dịch tên gọi loại sách “kể chuyện” ấy của người phương Tây.


 


Shoosetsu sau khi trở thành tên gọi của một thể loại sáng tác văn học thì nó đã trở về lại cái kho từ vựng tiếng Hán với tư cách là một danh từ mang tính thuật ngữ. (Đương nhiên nó có trong từ mục của Từ điển tiếng Hán hiện đại)


 


Người Trung Quốc sau đó đã dùng xiǎoshuō (tiểu thuyết) để chỉ một đại lọai, còn khi muốn chỉ tiểu loại thì họ thêm các định tố vào đằng trước: trường thiên tiểu thuyết, trung thiên tiểu thuyết, đoản thiên tiểu thuyết, vi hình tiểu thuyết, tiểu tiểu thuyết, hoặc võ hiệp tiểu thuyết, ngôn tình tiểu thuyết v.v. tùy theo việc phân tiểu loại dựa theo tiêu chí nào.


 


Tiếng Việt mượn từ xiǎoshuō của tiếng Hán để gọi một tiểu loại: tiểu thuyết. Còn lại thì gọi là truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn. Vì thế nên mới có chuyện người Trung Quốc gọi Lỗ Tấn là “tiểu thuyết gia” thì người Việt lại thấy khó hiểu, vì nhà văn này chỉ viết “truyện ngắn”, “truyện vừa”(AQ chính truyện) chứ không hề viết “tiểu thuyết” (theo cách gọi của người Việt)!


 


Sự xuất hiện thuật ngữ xiǎoshuō trong tiếng Hán, shoosetsu trong tiếng Nhật chính là sự ghi nhận về một thể loại sáng tác mang tính cách tân theo xu hướng phương Tây của các nhà văn Trung Quốc và Nhật Bản.


 


Ở Trung  Quốc, những người đi tiên phong trong trào lưu “cận đại hóa” này (cũng gọi là “hiện đại hóa”) phải kể đến Lỗ Tấn với tác phẩm tiêu biểu “Gào thét”, Lão Xá với “Lạc đà Tường tử”, Ba Kim với “Gia đình”, Mao Thuẫn với “Tý dạ” v.v.. Trong số đó Lỗ Tấn được xem là ngọn cờ đầu.


 


Cũng trong thời gian này, dấy lên phong trào dịch thuật và giới thiệu tác phẩm phương Tây, hăng hái nhất là những tác giả từng du học. Việc này thu hút cả những người “ngoại đạo”, chẳng hạn, Nghiêm Phục vốn dĩ chỉ là một thực tập sinh ngành hải quân ở Anh, thế mà vừa về nước ông đã lao vào dịch rất nhiều sách, đến mức qua kinh nghiệm có thể viết thành lí thuyết phiên dịch “tín, đạt, nhã” được dùng làm kim chỉ nam cho ngành dịch thuật Trung Quốc trong ngót trăm năm nay.


 


2. Những cột mốc trên con đường phát triển của tiểu thuyết Trung Quốc từ cổ đại đến thời kỳ “cận đại hóa”.


Lâu nay, theo cách nhìn nhận của các nhà lý luận phê bình Trung Quốc thì những tác phẩm mà trước đây quen gọi là “ký” (Tây du ký ), “chí” (Đông chu liệt quốc chí ), “truyện” (Thủy hử truyện), “diễn nghĩa”(Phong thần diễn nghĩa ), “từ thoại” (Kim bình mai từ  thoại), “kinh” (Sơn hải kinh) v.v. đều được xếp vào loại tiểu thuyết. Dường như đã có một chút dung hòa nào đó về mặt tiêu chí giữa Đông và Tây, giữa truyền thống và hiện đại.


 


Những tác phẩm tiêu biểu được chọn và giới thiệu sau đây sẽ ít nhiều giúp cho người đọc có được sự nhận diện chính xác và sự bình giá xứng đáng đối với quá trình phát triển của thể loại tiểu thuyết Trung Quốc trong bề dày lịch sử của nó.


 


“Sưu thần ký”–TẬP SÁCH MỞ ĐẦU CHO LOẠI TRUYỆN THẦN KỲ THỜI LỤC TRIỀU


(Can Bảo-không rõ năm sinh, năm mất)


“Sưu thần ký” cũng giống như những câu chuyện thần bí khác thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, có quan hệ mật thiết đến sự phát triển của văn học sau này, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến thể loại văn học dân gian và truyền kỳ ở thời Đường. Thời Tống Nguyên có rất nhiều câu chuyện bình dân với nền tảng sáng tác là những câu chuyện thần bí được tìm thấy trong “Sưu thần ký”. “Sưu thần ký” cũng đạt được thành tựu rất cao về nghệ thuật, có tác dụng về kế thừa cái cũ, sáng tạo cái mới trong lịch sử phát triển của tiểu thuyết. So với những tác phẩm cùng thể loại với nó trước đó, những câu chuyện của “Sưu thần ký” dài hơn, màu sắc tiểu thuyết thể hiện rõ nét hơn.


 


“Sơn hải kinh”–BỨC TRANH THIÊN NHIÊN ĐẦY VẺ LÃNG MẠN


 (Tác giả chưa được xác định)


“Sơn hải kinh” là bức tranh lãng mạn về địa lý, bút pháp văn học đã được sử dụng để miêu tả địa lý thời thượng cổ, chính vì vậy mà “Sơn hải kinh” còn được xem là một tác phẩm văn học.


 


“Sơn hải kinh” ghi lại rất nhiều câu chuyện truyền thuyết, thần thoại, những câu chuyện này là phôi thai ươm mầm cho sự sản sinh ra nền văn học Trung Quốc. Thông qua tác phẩm này, chúng ta có thể hiểu thêm về nguyện vọng lao động sáng tạo trong cuộc sống cũng như tinh thần đấu tranh anh dũng của tổ tiên người Hoa Hạ, đồng thời giúp chúng ta lý giải được những tác phẩm văn học đời sau. Từ sau tác phẩm này, những tác phẩm mang màu sắc thần thoại đã được lưu giữ lại rất nhiều qua mỗi triều đại.


 


“Thủy hử truyện”-KHÚC CA BI TRÁNG VỂ PHONG TRÀO NÔNG DÂN


(Thi Nại Am: 1296 - 1370)


“Thủy hử truyện” có một vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc,  trước tiên là vì giá trị tư tưởng lớn lao của nó. Tác giả đã lấy 108 vị anh hùng của Lương Sơn làm trọng điểm, lấy việc phát sinh, phát triển, cao trào, đến sự sa sút, thất bại của Lương Sơn làm trung tâm, trên nói đến vua chúa quan lại, dưới nói đến tá điền nông dân, từ kinh thành đến nông thôn, khai thác từng khía cạnh của cuộc sống xã hội, vạch ra sự đen tối của hiện thực xã hội, phản ánh mâu thuẫn giai cấp và cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt của một xã hội đang chuyển từ thịnh sang suy. Tác giả hết lòng ca ngợi cuộc đấu tranh chống lại cường hào ác bá của quần chúng nhân dân. Thông qua sự khác nhau về con đường dẫn đến Lương Sơn của các anh hùng hảo hán đã nói lên được tính sâu rộng của cuộc đấu tranh. Là bộ tiểu thuyết chương hồi đầu tiên của Trung Quốc được viết theo lối văn bạch thoại, “Thủy hử truyện” đã đạt được thành tựu cao về nghệ thuật. Toàn bộ tác phẩm có khoảng hơn 800 nhân vật có họ có tên, được tác giả dùng ngòi bút khắc họa, so sánh, miêu tả hành động v.v. vô cùng sinh động, khiến cho Lâm Xung, Lỗ Trí Thâm, Võ Tòng, Dương Chí v.v. trở thành những người anh hùng sống trong lòng mỗi người dân từ già đến trẻ, nhà nhà đều biết.


 


 “Tây du ký”–THẾ GIỚI THẦN TIÊN MA QUÁI MUÔN MÀU MUÔN VẺ


(Ngô Thừa Ân: 1500-1582)


Thông qua tám mươi mốt kiếp nạn trong quá trình thỉnh kinh của thầy trò Đường Tăng, “Tây du ký” đã phản ánh các mặt vấn đề của xã hội đương thời. Bộ tiểu thuyết này có cấu tứ mới mẻ, sức tưởng tượng mạnh mẽ; trong việc xây dựng hình tượng nhân vật thì tác giả sử dụng phương thức hợp nhất người, thần, thú thành một thể để sáng tạo ra những hình tượng nhân vật bất hủ như Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới. Toàn bộ tiểu thuyết được kết cấu chặt chẽ, phong phú mà không lộn xộn, ngôn ngữ hoạt bát sinh động xen lẫn với tục ngữ, phương ngôn, đầy màu sắc của cuộc sống. Bộ tiểu thuyết này trên phương diện chủ đề thì đã giảm bớt sắc thái tôn giáo vốn có, và làm phong phú nội dung hiện thực của tác phẩm, có cả đặc điểm thời đại và cả khuynh hướng dân chủ.


 


Sự ra đời của “Tây du ký” đã mở đầu, phát triển thêm hình thức mới của loại tiểu thuyết chương hồi trường thiên thần thánh ma quỷ; ngoài ra, sự kết hợp tài tình, khéo léo giữa phê bình với châm biếm, chế giễu một cách sắc sảo và có thiện ý trong toàn bộ tác phẩm đã trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của loại tiểu thuyết châm biếm đả kích. “Tây du ký” là đỉnh cao của loại tiểu thuyết trường thiên theo khuynh hướng chủ nghĩa lãng mạn thời cổ đại, và là một kiệt tác của nền văn học thế giới.


 


 “Tam quốc diễn nghĩa”–CÂU CHUYỆN ANH HÙNG CỦA THỜI ĐẠI ANH HÙNG


(La Quán Trung: 1330-1400)


“Tam quốc diễn nghĩa” là một bộ tiểu thuyết lịch sử trường thiên, là một trong bốn tác phẩm trứ danh của Trung Quốc, và cũng có thể nói rằng đây là tác phẩm đầu tiên của loại tiểu thuyết chương hồi trường thiên thời cổ đại Trung Quốc. Thành tựu nổi bật của “Tam quốc diễn nghĩa” về phương diện nghệ thuật là đã khắc họa một cách rõ ràng nhiều hình tượng nhân vật như Trương Phi, Quan Vũ, Triệu Vân, Chu Du, Lỗ Túc v.v.. “Tam quốc diễn nghĩa” viết về cuộc đấu tranh quân sự và chính trị, do đó, tác giả đã sử dụng những cấu tứ rất hùng vĩ để mô tả chiến tranh, dùng nhiều thủ pháp miêu tả hàng ngàn cuộc chiến lớn nhỏ, đưa người đọc đến với cảnh chiến trường đầy đao gươm tang tóc. Trong đó, việc miêu tả một cách trầm bổng, muôn hình vạn trạng, biến thiên lên xuống của những trận chiến ở Quan Độ, Xích Bích v.v.  khi đọc đến thật khiến lòng người rung động.


 


“Phong thần diễn nghĩa”–SỰ HỢP NHẤT GIỮA CON NGƯỜI VÀ THẦN THÁNH,  SỰ ĐỐI ĐẦU GIỮA CÁI THIỆN VÀ CÁI ÁC


(Hứa Trọng Lâm, thời Minh)


Thành tựu nghệ thuật đặc sắc nhất của “Phong thần diễn nghĩa” chính là sự tưởng tượng lạ kì, nó phát huy sở trường khoa trương óc tưởng tượng đặc biệt trong chuyện thần thoại, vẽ ra những hình tượng nhân vật lạ lùng như Lôi Chấn Dư có đôi cánh bên sườn, Na Tra có đến ba mươi sáu đầu, thuật xuyên đất của Thổ Hành Tôn, mắt Thiên Lý, tai Thuận Phong v.v., làm cho bộ tiểu thuyết mang màu sắc kỳ quái sặc sỡ, biến hóa muôn vẻ kì lạ khôn lường. Qua đó người đọc có thể cảm nhận được màu sắc chủ nghĩa lãng mạn đậm nét . Tác phẩm cũng có thành tựu đáng kể về mặt miêu tả nhân vật, khắc họa rất nhiều nhân vật với những nét tính cách rõ rệt như Dương Tiễn thông minh nhanh nhẹn và quả cảm, Văn Trọng trung thành ngay thẳng, Thân Công Báo xấu xa chuyên xúi giục hại người v.v..


 


“Đông Chu liệt quốc chí”–BỨC TRANH SINH ĐỘNG VỀ LÒNG NGƯỜI THỜI LOẠN


(Phùng Mộng Long: 1574-1645)


“Đông Chu liệt quốc chí” cũng như những sách sử khác đều viết về sự hưng vong, thành bại của quốc gia, tập trung nghiên cứu thảo luận mối quan hệ nhân quả của sự đổi thay, biến chuyển trong số kiếp thịnh suy và thành bại của con người, sự vật. Thông qua sự chìm nổi của số mệnh các nhân vật, tác giả muốn nói với người đọc rằng việc coi trọng đạo nghĩa, tin dùng người tài đức có thể là căn cứ cơ bản nhất để xem xét, phán đoán vận mệnh tương lai của một đất nước hay không, vì xưa nay, người được nhân dân ủng hộ là người có được thiên hạ. Đạo nghĩa là thuận theo ý trời, mà ý trời chính là lòng dân. Quan điểm chủ nghĩa nhân bản này có ý nghĩa rất tiến bộ. Trong “Đông Chu liệt quốc chí” còn có rất nhiều hình tượng nhân vật sinh động, không chỉ ca ngợi những vương hầu biết nghe lời phải, thưởng phạt phân minh, nhân từ độ lượng và những tướng lĩnh trung thành, dũng cảm mưu trí, mà còn tán dương những người hào hiệp thông minh gan dạ, hăng hái làm việc nghĩa. Đồng thời tác giả cũng tạo ra một số hình tượng đại diện tầng lớp thống trị ngu xuẩn, bạo ngược, hoang dâm vô sỉ như vua chúa, chư hầu v.v. và hình tượng những tên nịnh thần xấu xa vừa tham lam vừa nham hiểm, gian trá.


 


“Tam ngôn” - ĐỈNH CAO CỦA XU HƯỚNG VĂN HỌC THÔNG TỤC THỜI MINH


(Phùng Mộng Long: 1574-1645)


“Tam ngôn” là tập truyện ngắn bạch thoại có quy mô lớn nhất trong lịch sử văn học Trung Quốc. Đồng thời, trong tiến trình phát triển truyện ngắn bạch thoại, đây là viên ngọc quý đầu tiên xuất hiện trên bàn viết của nhà văn có được nhờ thành tựu nghệ thuật của những tác giả dân gian truyền miệng lại. Về mặt nghệ thuật sáng tác, một số tác phẩm xuất sắc trong “Tam ngôn” không những có nội dung hoàn chỉnh, tình tiết phức tạp, chi tiết phong phú, mà còn sử dụng rất nhiều thủ pháp nghệ thuật để khắc họa tính cách nhân vật. Nó đánh dấu sự hình thành phong cách và đặc điểm dân tộc trong truyện ngắn bạch thoại Trung Quốc. “Tam ngôn” là tác phẩm văn học của thời đại. Sự lưu hành của nó chẳng những có thể giúp rất nhiều những bản cũ ra đời từ thời Tống, Nguyên không bị quên lãng, trái lại nó có ảnh hưởng sâu rộng, thúc đẩy truyện ngắn bạch thoại phát triển và tỏa sáng.


 


“Nhị Phách”–BỨC TRANH PHÙ PHIẾM VỀ XÃ HỘI THỜI MINH


(Lăng Mông Sơ: 1580-1644)


Những câu chuyện trong “Nhị phách” có các tình tiết rất sinh động và lối hành văn trôi chảy. Việc sắp xếp bố cục trong tác phẩm rất thành công nên làm cho một số chương rất hấp dẫn nhưng tác giả vẫn không tốn nhiều công sức để xây dựng những tình tiết tinh xảo mới lạ.


 


Tính nghệ thuật cao trong tác phẩm là tạo ra sự phóng túng trong việc thể hiện tư tưởng tác phẩm. Tác giả đã phê phán gay gắt và phủ nhận thực trạng bất bình  đẳng giữa nam và nữ trong xã hội phong kiến. Tác giả đã thay người phụ nữ nói lên tiếng nói tỏ sự bất bình khi họ bị chèn ép bởi chủng quyền, tộc quyền, phu quyền v.v..


 


Tác phẩm chỉ dừng lại ở việc lên án những tính xấu của người đàn ông như thấy lợi quên nghĩa, ham hư danh, ham phú quý. Nếu nhìn nhận ở góc độ lương tâm, trách nhiệm người chồng thì giá trị của tác phẩm sẽ được nâng lên một bậc nữa.


 


“Kính Hoa Duyên”–HIỆN THỰC VÀ KỲ ẢO  CỦA THẾ GIỚI TRONG  CHIẾC GƯƠNG


(Lý Nhữ Trân: 1763-1830)


Hình tượng nhân vật trong “Kính Hoa Duyên” rất phong phú, có nhiều quốc gia chỉ có tên trong truyện thần thoại, hầu hết các quốc gia này được đề cập trong “Sơn Hải Kinh”. Nội dung tác phẩm có phần phong phú hơn trong “Sơn Hải Kinh”, nó đã thực sự mở ra một thế giới mới. “Kính Hoa Duyên” có sở trường về châm biếm, như mượn chuyện người ở Trường Nhân Quốc để châm biếm những người tự cao tự đại, mượn chuyện nước Kiết Hung để phê phán những kẻ ăn không ngồi rồi, mượn chuyện nước Khuyển Phong để châm biếm những kẻ ham ăn.


 


“Duyệt vi thảo đường bút ký”–BỨC TRANH MUÔN MÀU MUÔN VẺ ĐỜI THANH


(Kỷ Vân: 1724-1805)


“Duyệt vi thảo đường bút ký” có liên quan đến rất nhiều lĩnh vực trong xã hội từ văn nhân học sỹ đến phường gái điếm ăn mày. Hầu như mảng đề tài nào cũng được đề cập đến, điều này làm cho tác phẩm mang tính phổ biến và rất lý thú. Ngôn ngữ biểu đạt chất phác, dễ hiểu, sinh động và được chắt lọc kỹ càng, lại có những điển cố của sáu triều đại làm cho tác phẩm rất sinh động và hấp dẫn.


 


“Liêu trai chí dị”–THI VỊ VÀ LUNG LINH THẾ GIỚI DIỆU KỲ


(Bồ Tùng Linh: 1640-1715)


“Liêu trai chí dị” là một tập truyện ngắn viết theo thể văn ngôn, bao gồm 16 cuốn với 491 truyện. Các câu chuyện trong “Liêu trai chí dị” phần lớn đều được tác giả sưu tầm trong dân gian hoặc do tác giả hư cấu, sáng tác mà có. Hầu hết đều nói về yêu quái, hồ li, hổ báo, cây cỏ hoa lá v.v., từ đó khái quát nên quan hệ xã hội lúc bấy giờ. Nội dung của truyện rất phong phú, chủ yếu đề cập đến (đề cập là đủ, dư chữ đến. Tác giả dùng từ Hán Việt chưa chuẩn!) đời sống của người dân đồng thời phản ánh tình hình thời đại vào thế kỷ 17 ở Trung Quốc.


 


Toàn bộ truyện trong “Liêu trai chí dị” đều là truyện ngắn, thuộc thể văn ngôn, dài nhất cũng không quá 3000-4000 chữ, ngắn nhất mới chỉ hơn 20 chữ. Cách miêu tả vừa ngắn gọn vừa sinh động, tính cách của mỗi nhân vật đều trong sáng, chỉ có phái nữ thì mang nhiều tính cách điển hình vốn có. Đọc “Liêu trai chí dị”, giống như ta đang đi vào hội triển lãm tranh chân dung muôn màu rực rỡ. Trong mỗi câu chuyện, việc sắp xếp tình tiết đều thể hiện trí thông minh và lối suy nghĩ độc đáo của tác giả. Bộ truyện luôn có sức thu hút mạnh mẽ đối với người đọc.


 


“Liêu trai chí dị” mang nặng tính ảo tưởng, tác giả đã phản ánh hiện thực thông qua ảo tưởng, và đầy màu sắc lãng mạn. Trong đó, có một số truyện tình tiết  thật tinh tế, éo le, phức tạp; phong cách sáng tác cũng thay đổi một cách linh động. Ngoài ra, lời văn của “Liêu trai chí dị” tuy là văn ngôn ngắn gọn, tao nhã nhưng tương đối rõ ràng, có khả năng thể hiện mạnh mẽ đời sống.


 


“Hồng Lâu Mộng”(Thạch đầu ký)–CUỘC SỐNG MỘT GIA TỘC VÀ BỘ MẶT MỘT THỜI ĐẠI


 (Tào Tuyết Cần: 1715-1763)


“Hồng Lâu Mộng” là một bộ tiểu thuyết Bách Khoa Toàn Thư, đồng thời với việc miêu tả mối tình giữa Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc thì cũng khái quát được đời sống xã hội rộng lớn. Kết thúc không có hậu của “Hồng Lâu Mộng” là một điều hiếm thấy trong văn học sử thế giới, vì vậy từ rất sớm đã có người nghiên cứu về tác phẩm này. Ngày nay, việc nghiên cứu “Hồng Lâu Mộng” đã trở thành ngành nghiên cứu đặc biệt, còn gọi là “Hồng học”. “Hồng Lâu Mộng” được xem là một trong bốn tiểu thuyết cổ điển lớn nhất của Trung Quốc, có nghệ thuật hấp dẫn riêng biệt. Thứ nhất, nhiều hình tượng nhân vật được miêu tả sinh động như thật. Thứ hai, kết cấu của tác phẩm đa dạng mà lại tự nhiên, dường như tái hiện được toàn bộ cuộc sống. Thứ ba, những tình tiết nhỏ được miêu tả rất xuất sắc, tái hiện cao độ đời sống xã hội. Lời văn lưu loát, mạch lạc, súc tích, ngoài ra tác phẩm còn xuất hiện rất nhiều thơ, từ hay.


 


“Kim Bình Mai”(Kim Bình Mai từ thoại)–BỨC TRANH TOÀN CẢNH VỀ  HIỆN THỰC XÃ HỘI THỜI MINH


(Chưa rõ danh tính tác giả)


“Kim Bình Mai” là một bộ tiểu thuyết miêu tả các nhân vật phố phường thành thị và cũng là bộ tiểu thuyết đầu tiên do các văn nhân tự sáng tác. Tác phẩm giữ một vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển tiểu thuyết cổ đại Trung Quốc. Trong các tiểu thuyết cổ đại Trung Quốc, “Kim Bình Mai” là bộ tiểu thuyết đầu tiên đã miêu tả một cách tỉ mỉ đời sống, lối nói chuyện cho đến những chuyện vụn vặt trong gia đình của các nhân vật., chính điều này đã làm cho tác phẩm mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Tác phẩm “Kim Bình Mai” có ảnh hưởng rất lớn đối với tác phẩm “Hồng Lâu Mộng”, thậm chí có người cho rằng giá trị văn học của “Kim Bình Mai” được vận dụng mãi vào “Hồng Lâu Mộng”. Vào thời kỳ đầu của nhà Thanh và nhà Minh; “Kim Bình Mai”, “Tây Du Ký”, “Thủy Hử Truyện” và “Tam Quốc Diễn Nghĩa” được gọi là “Tứ đại kì thư”.


 


“Nho lâm ngoại sử”–TẤN BI KỊCH CỦA GIỚI TRI THỨC THỜI PHONG KIẾN


(Ngô Kính Tử: 1701-1754)


“Nho lâm ngoại sử” là bộ tiểu thuyết đầu tiên trong lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc đã sáng tạo được hàng loạt những hình tượng phần tử trí thức sống động với những nét cá tính rõ ràng sắc nét, cũng là lần đầu tiên lên án, đả kích sâu sắc chế độ khoa cử thời phong kiến, và là bộ trường thiên tiểu thuyết châm biếm đầu tiên ở trung Quốc, tạo được ảnh huởng sâu sắc đối với thế hệ sau. Những tiểu thuyết đả kích vào cuối đời Thanh, đều là học tập phong cách sáng tác của “Nho lâm ngoại sử”.


 


Tính cách nhân vật mà “Nho lâm ngoại sử” miêu tả rất rõ ràng, trong số đó tác giả đã khắc họa thành công hình tượng một gã keo kiệt, bủn xỉn - Nghiêm Giám Sinh. Chuyện kể rằng ông ta lúc hấp hối thấy trong phòng đèn dầu thắp những hai bấc, cứ giơ hai ngón tay ra ngoài, rất lâu không chịu nhắm mắt. Những người chung quanh đều không hiểu ý Nghiêm muốn nói gì. Chỉ vợ ông ta là hiểu ý, giải thích rằng ông ta trách trong nhà đèn thắp những hai bấc, thật là lãng phí. Thế là mọi người mới dập tắt một trong số hai cái bấc đi, lúc này Nghiêm Giám Sinh mới buông tay trút hơi thở cuối cùng.


 


“Tuỳ Đường diễn nghĩa”–CUỘC TRANH GIÀNH VÀ THEO ĐUỔI VINH HOA PHÚ QUÝ


(Chữ Nhân Hoạch, chưa rõ năm sinh)


 “Tùy Đường diễn nghĩa” trên cơ bản lấy lịch sử làm kinh độ, lấy con người làm vĩ độ mà hình thành nên hệ thống của nó. Ở một trình độ nhất định, “Tùy Đường diễn nghĩa” đã tái hiện một cách nghệ thuật những sự thật lịch sử, còn miêu tả thành công nhiều nhân vật sinh động. Ngôn ngữ “Tùy Đường diễn nghĩa” thông tục trôi chảy, mang phong cách văn học dân gian truyền miệng.


Tùy Dạng Đế là một ông vua tàn bạo, hoang dâm nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Trong 19 năm ông làm vua đã từng năm lần phát động chiến tranh với Triều Tiên, mỗi năm huy động hàng trăm vạn dân công, binh lính xây dựng Đông cung, còn khai thông Vận hà, tu sửa Trường Thành, khiến đời sống nhân dân hết sức điêu đứng. Đương thời, có người để tránh nạn binh dịch, lao dịch, đã tự chặt đứt chân tay mình gọi là “tay phúc, chân phúc”.


 


 “Gào thét”– TIẾNG VANG TỪ TRONG IM LẶNG


(Lỗ Tấn: 1881-1936)


Lỗ Tấn tập trung các truyện ngắn được viết trong khoảng từ năm 1918-1922 thành tập “Gào thét”, đây cũng là tập truyện ngắn đầu tiên của ông, gồm tất cả 15 truyện, trong đó có “Nhật kí người điên”, “Khổng Ất Kỷ”, “AQ chính truyện” là một vài trong số những tác phẩm tiêu biểu của Lỗ Tấn. Lúc bấy giờ, tinh thần cuộc cách mạng “Ngũ Tứ” lên cao, Lỗ Tấn cũng hưởng ứng bằng một số tiểu thuyết được sáng tác nhằm miêu tả “những nạn nhân bất hạnh của xã hội thối nát bệnh hoạn”, và “gào thét” cho cuộc vận động Tân văn hóa. Tác phẩm miêu tả một cách chân thực đời sống xã hội cả một giai đoạn từ cách mạng Tân Hợi cho tới phong trào “Ngũ Tứ”. Nó phơi bày vô số mâu thuẫn sâu sắc giữa các tầng lớp xã hội, triệt để phủ định và phân tích tỉ mỉ những quan niệm truyền thống cũ kỹ của chế độ phong kiến, thể hiện khát vọng mãnh liệt muốn cải cách xã hội và nhận thức đầy đủ vận mệnh tồn vong dân tộc của Lỗ Tấn.


 


“Gào thét” là tập truyện ngắn bạch thoại đầu tiên trong lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc, có ý nghĩa hoạch định thời đại đối với văn học Trung Quốc. Tập truyện ngắn này đã thể hiện được tinh thần kiên quyết sáng tạo cái mới của Lỗ Tấn. Ông đã sử dụng công cụ ngôn từ sắc cạnh để vạch trần một cách sâu sắc bản chất ăn thịt người của chế độ phong kiến và lễ giáo phong kiến Trung Quốc hơn 2000 năm qua, là một con dao găm chọc thủng trái tim bóng ma phong kiến.


 


“Lạc Đà Tường Tử”– KIẾP ĐỌA ĐÀY CỦA NHÂN VẬT NHỎ BÉ


(Lão Xá: 1899-1966)


Năm 1930, trên đường từ Singapore đặt chân trở về Trung Quốc, mặt đối mặt với những vết thương trên quê cha đất tổ, giọng văn của tác giả trở nên trầm tư. “Lạc đà Tường Tử” là tác phẩm tiêu biểu của ông thời kỳ này, xuyên suốt tiểu thuyết là tâm lí nô lệ của một nhân vật thấp kém và một hi vọng không cách nào thực hiện cho đến cuối cùng thì tiêu tan.


 


“Lạc đà Tường Tử” đã phản ánh một cách chân thực đời sống cùng cực của những thị dân thuộc tầng lớp thấp kém ở Trung Quốc cũ, lột tả quá trình một người nông dân phá sản đã thị dân hóa như thế nào, quá trình xã hội quẳng anh ta vào hàng ngũ những kẻ lang thang vô gia cư, và thế là cùng với những điều đó, tinh thần khát sống trước kia của anh cũng bị dập tắt. Trong tác phẩm “Lạc Đà Tường Tử”, tác giả sử dụng tối đa ngôn ngữ nói, ngôn ngữ địa phương Bắc Kinh, cộng thêm những miêu tả về tình người, điều kiện tự nhiên và cả phong tục tập quán ở Bắc Kinh xưa, đọc lên có cảm giác thân quen một cách tự nhiên, giọng văn phóng khoáng, là tác phẩm kinh điển của tiểu thuyết bạch thoại hiện đại.


 


“Gia đình”– TẤN BI KỊCH CỦA ĐẠI GIA ĐÌNH PHONG KIẾN


(Ba Kim: 1904-2005)


Ba Kim viết tiểu thuyết về đề tài gia đình là do bị ảnh hưởng bởi nhà văn Pháp Rousseau, ông thử sức viết về quá trình suy biến của một gia tộc dựa theo hình thức trường thiên giống như Rousseau đã làm, vạch trần sự suy đồi bản tính con người. Chỉ khác ở chỗ Ba Kim chú trọng hơn trong việc thể hiện hoài bão của tầng lớp thanh niên và sự trưởng thành của những lực lượng cách mạng mới ra đời. Từ sau khi khai sinh nền văn hóa mới, rất nhiều sáng tác nhằm vạch trần lễ giáo cổ hủ xưa kia, tiểu thuyết “Gia đình” của Ba Kim đã đi sâu miêu tả và hệ thống được quá trình sụp đổ của các gia đình phong kiến.


 


Tác giả đã miêu tả tỉ mỉ cả một lịch sử đồ sộ về sự suy vong của các gia đình phong kiến, làm lay động lòng người, cho chúng ta một góc nhìn cận cảnh về cuộc sống các gia đình phong kiến. “Gia đình” thể hiện tinh thần phản đối phong kiến mãnh liệt, tác giả triệt để phủ định trật tự bên trong của các gia đình này, ông bắt những kẻ thống trị tàn ác phải hiện nguyên hình, và còn đồng tình sâu sắc với bộ phận thanh niên chống đối phong kiến sẵn sàng hi sinh, họ đều thể hiện tinh thần phản kháng xã hội. Tiểu thuyết này ra đời vào những năm 30, tuy nhiên lại mô tả đời sống xã hội thời kỳ diễn ra phong trào “Ngũ Tứ”, nhưng lại đưa ra giá trị tiến bộ trong hiện thực đấu tranh, chiếm một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học hiện đại.


 


“Tý Dạ”– HIỆN THỰC ĐEN TỐI TRONG MÀN ĐÊM


(Mao Thuẫn: 1896-1981)


“Tý Dạ” là quyển tiểu thuyết dài đầu tiên đã gặt hái được nhiều thành công trong mảng đề tài sáng tác theo khuynh hướng chủ nghĩa hiện thực cách mạng của lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc, giá trị mà tiểu thuyết này mang đến là tính xu hướng mới mẻ và tính chân thực vô cùng to lớn. Kết cấu nghệ thuật của tác phẩm vừa có tầm vóc cao vừa vô cùng chặt chẽ, nghệ thuật miêu tả tâm lý tinh tế, ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu và rất sinh động.


 


3.Lời kết


Nói đến “vùng văn hóa chữ Hán” là chúng ta nghĩ ngay đến hiện tượng “Hán hóa”, nghĩ ngay đến chữ Hán, một thứ công cụ lợi hại dùng để chuyển tải nền văn hóa Hán đến các nước lân cận. Văn học chữ Hán (tức văn học sáng tác bằng chữ Hán, tiếng Hán) nói chung có nền tảng vững chắc, có lịch sử lâu đời, phong phú đa dạng, luôn luôn phát triển trên cơ sở kế thừa, dường như bao giờ cũng có một sợi dây xuyên suốt kéo dài ra mãi, không có chuyện đoạn tuyệt quá khứ. Vì thế, nguyên tắc chọn lọc và tiếp thu nhân tố hiện đại phương Tây trên cơ sở truyền thống phương Đông là một giải pháp thành công đáng được ghi nhận. Tiểu thuyết chữ Hán từng trải qua những bước “cách tân”, “tây dương hóa” thuộc thời kỳ “cận đại hóa”, nó cũng luôn tuân thủ nguyên tắc lựa chọn như vừa nói trên. Chẳng hạn, Lỗ Tấn khi viết về nhân vật AQ, ông đã cố tránh dùng văn bát cổ, tránh dùng ngữ pháp văn ngôn, tránh dùng điển tích v.v., và kể chuyện theo kiểu Tây, nhưng khi đặt tên cho tiểu thuyết thì ông dường như lại nghĩ ngay đến độc giả Trung Quốc, nên đã dùng yếu tố “truyện” cho quen thuộc: AQ chính truyện. Sau này, một số “nhà văn chữ Hán”ở Đại lục, Hồng Kông, Đài Loan có được lượng độc giả khổng lồ là nhờ đi theo đường hướng ấy: bám chắc truyền thống mà cách tân, biết cách dung hòa Đông/ Tây, kim/ cổ.


Thành quả của các “nhà văn chữ Hán”, và con đường phát triển của” tiểu thuyết chữ Hán” rất đáng để chúng ta thán phục và suy ngẫm.


 


 


Lê Đình Khẩn (chưa rõ tiểu sử văn học tác giả này, Trời ạ!)


hoinhavanvietnam.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
Hoài Anh, nhà văn đa tài và lặng lẽ - Triệu Xuân 16.03.2017
Mỹ học (40) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 16.03.2017
Mỹ học (39) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Mỹ học (38) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Gabriel Gacia Marqyez (Colombia) nói về bản thân và nghề nghiệp - Hoài Anh 15.03.2017
Mỹ học (37) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 14.03.2017
Mỹ học (Kỳ thứ nhất) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
Mỹ học (Kỳ 35) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
xem thêm »