tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18491839
Lý luận phê bình văn học
27.02.2011
Tư liệu
Đôi dòng về thơ Lý Phương Liên

Bài của Hoàng Xuân Họa


Vào đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi đó đang cuộc kháng chiến chống Mỹ, Bắc – Nam còn chia hai miền.  Trên thi đàn miền Bắc một số nhà thơ trẻ: Lý Phương Liên, Nguyễn Duy, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Trọng Tạo… đã mạnh dạn biến thể, thể thơ lục bát bằng cách bẻ đôi, bẻ ba, bẻ tư câu lục, hay câu bát cho xuống dòng. Trường hợp Lý Phương Liên, thơ chị vừa xuất hiện đã có ngay lời khen của một bậc đàn anh trên báo Nhân dân khi báo này giới thiệu chùm thơ của chị: “Một bông hoa vừa nở đã ngát hương”. Xin dẫn cả bài thơ lục bát biến thể đó:


Lời ru với anh


Chim bằng ngoan của em ơi


Đêm nay ngon ngủ, sáng mai lên đường


Em ngồi nhìn ngắm yêu thương


Cho no mắt nhớ ngày thường chim bay


Em muốn anh như bàn tay


xòe ra là gặp


Chim bằng trời biếc


Chim bằng con trai,


Ngủ ngoan anh nhé sáng mai lên đường


Ở nhà bên cạnh người thương


Để chim nghỉ cánh dặm đường đời xa


Lồng con, phòng hẹp đôi ta


Chim bằng chẳng thể quanh ra quẩn vào


Xa anh nói nhớ làm sao


Chân đứng tổ kiến lòng chao gió cành


Lẽ nào em buộc cánh anh


Buộc cánh anh,


Buộc cánh anh cũng chẳng thánh tìnhyêu


Trời rộng chim reo


Mắt em mai sớm dõi theo chim bằng


Nỗi nhớ trong lòng


Cho chim cánh gió


Cho ngày nắng nỏ


chim bay.


Ngủ ngoan anh nhé đêm nay


Để mai xa suốt tháng ngày có em.


Lý Phương Liên


Có trường hợp để nguyên câu sáu, ngắt câu tám cho xuống dòng:


- “Thơ yêu chẳng có một dòng


Tôi yêu


tôi để trong lòng,


tôi yêu…


Dẫu cho những sớm những chiều


Mưa Trường Sơn thấm ướt nhiều trang thơ


Dẫu cho ai có mong chờ


Tôi không dám ước


ai chờ đợi tôi”…


     (NguyễnTrong Oánh)


Hoặc câu sáu xuống dòng, câu tám để nguyên:


-“Tre xanh


Xanh tự bao giờ


chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh


(…)


Mai sau


mai sau


mai sau


đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh…”.


                                 (Nguyễn Duy)


Hoăc leo thang:


- “Đời là sa mạc lửa thiêu


Tôi khao khát một tình yêu cháy lòng


Em


    con chim nhỏ


                          luợn vòng


Tôi quăng lưới nhốt


                                giữa


                                        lồng


                                              tim


                                                     tôi


Nhưng tôi thiếu


                        nắng


                               mặt trời


Thiếu rừng cây với núi đồi tặng chim”.


                                             (Lê Đại Thanh)


 


- “Chia cho em một đời thơ


Mộtlênh đênh


                       một dại khờ


                                           một tôi


Chỉcòn cỏ mọc trên trời


Mộtbông hoa nhỏ


                             lặng


                                     rơi


                                            mưa


                                                   dầm”.


                                   (Nguyễn Trọng Tạo)


Trongca dao dân gian xưa, cũng thấy nhiều trường hợp dùng lục bát biến thể (còn gọilà lục bát gián thất), gieo vần trắc ở cuối câu lục và tiếng thứ sáu câu bát:


 -“Tò vòmày nuôi con nhện


Đếnkhi nó lớn nó quện nhau đi”.


                              (Ca dao)


Thêm chữ ở câu lục:


- “Tiếc công anh đào ao thả cá


Năm bảy tháng trời, người lạ đến câu”.


                                   (Ca dao)


Hoặc biến hình thức cấu chúc câu; vè bốn tiếng nhậplục bát:


- “Quả cau nho nhỏ


Cái vỏ vân vân


Nay anh học gần


Mai anh học xa


Tiền gạo thì của mẹ cha


Cái nghiên cái bút, thiệt là của em”.


                                   (Ca dao)


Thi sĩ Tản Đà trong nhiều bài thơ của mình, “tiênsinh” (chữ dùng của nhà nghiên cứu văn học Hoài Thanh) cũng đã biến thể:


- “Gánh tình nặng lắm ai ơi!


Tiền mang bạc giắt thuê ai đỡ cùng.


Đường đi nho nhỏ


Bờ cỏ xanh xanh


Không duyên không nợ không tình


Đồng không quạnh vắng sao mình gặp ta?”.


                                    (Khối tình con II)


Bài thơ “Lời ru với anh” thể lục bát khác lạ xuất hiện vào  năm 1969 – 1971, Lý Phương Liên sáng tác theo lối lục bát biến thể nêu ở trên. Câu thứ nhất, câu thứ 2, thứ 3, thứ 4 đúng thể lục bát, sang câu thứ 5 đủ chữ rồi nhưng thiếu ý, tác giả không làm như ca dao xưa thêm tiếng trực tiếp vào câu chưa đủ ý, mà làm thành 3 câu, mỗi câu 4 tiếng: “Xòe ra là gặp/ Chim bằng trời biếc/ Chim bằng con trai”. Vần ai cuối câu tám rất ăn vần với tiếng thứ sáu câu bát: 9; tiếp câu thứ 10 được lục bát chuẩn đến câu thứ16.  Sang câu thứ 17, bằng lối điệp ngữ vòng tròn:


-“Lẽ nào em buộc cánh anh


Buộc cánh anh


Buộc cánh anh cũng chẳng thành tìnhyêu”


tạo được cảm giác mênh mang như một điệp khúc triềnmiên ở các câu 16, 17, 18.  Câu 19 lại bốn tiếng, câu 20: 8 tiếng; câu 21, 22, 23 đều 4 tiếng, câu 24 buông thõng 2 tiếng, câu 25, 26 trở về vị trí của lụcbát để hoàn thiện bài thơ (xem nguyên văn bài thơ “Lời ru với anh” bên trên).


        Nếu bây giờ có ai đó làm một bài thơ thể lục bát mà hình thức như “Lời ru với anh” thì chẳng còn là vấn đề nữa, ở vào thời ấy là sự đột phá “khẩu” táo bạo.


(Đoạn dưới đây do NXB Văn hóa Dân tộc cắt bỏ khi biên tập) 


Một trong những trang bản thảo bị cắt:


        - “LýPhương Liên, cô gái Việt gốc Hoa hiền thục. Cha đẻ là công nhân ngành điện lực bị bom Mỹ giết hại trong khi đang làm việc tại cơ quan1. Mẹ cô cũng bị giết hại trên một chuyến đò ngang trên sông Hồng cũng do bom Mỹ đánh phá cầu Long Biên năm 1966. Lý Phương Liên vừa đi học vừa phải trông giữ xe đạp lấy tiền nuôi nămchị em mồ côi.  Bài thơ “Em mơ có một phiên tòa” chị viết với lòng căm thù giặc Mỹ sâu sắc, xúc động, đầy phẫn uất:


- “Phiên tòa mở trong nhà em


vòng trong, vòng ngoài là bà con hàng phố


cụ già, cháu nhỏ


Bài thơ còn khá dài, trên 80 câu. Còn nhớ, hồi đó ở một cánh rừng già biên giới miền Trung đầy bom đạn, cánh lính trẻ chúng tôi chụm đầu đọc, nghe bài thơ trên. Nghe xong cả tiểu đội đầu giàn giụa nước mắt, chẳng ai bảo ai tất cả đều phẫn uất cầm lấy súng hướng lên chốt giặc.


Thơ Lý Phương Liên xuất hiện đột ngột, bất ngờ bởi một thi pháp lạ, mới mẻ, không gò bó theo khuôn mẫu truyền thống, cả về cảm xúc, ý nghĩa, hình thức thơ; ngôn ngữ giầu nhạc tính tạo được cảm xúc thơ thực thơ, được người thưởng thức thơ ngày ấy cảm tình ngay từ chùm thơ đầu. Nửa năm sau chị được ưu ái in “bao cấp” tập “Ca bình minh” ở nhà NXB Lao động.  Bài “Ca bình minh”  được lấy đặt tên cho tập thơ đầu tay và cũng là tập thơ cuối cùng của chị cho đến nay (2003)2.   


 


- “Em đi làm ca ba


Đêm buông đầy đường phố


Hà Nội vào giấc say trẻ nhỏ!


Em đi giữa lòng đường


Hát khẽ


(con gái thường vẫn thế)


Tuổi ca ba rất trẻ


Đêm ca ba  lại dài


Mười tám, đôi mươi


Tuổi như em khỏe  ăn khỏe ngủ.


Bạn bè em có nhiều ý lạ


Khi nói tới ca ba


Ca của những đêm hè trời đầy sao hoa


Ca của những đêm đông bập bùng ánh lửa


Còn em với niềm vui bé nhỏ


Em gọi ca ba là ca bình minh


Ý nghĩ ấy gặp em như một sự vô tình


Đêm ca ba đi dọc đường Nam Bộ3


Tay vẫy chào những đoàn tàu rời ga Hàng Cỏ


Đưa bộ đôi lên đường


Các anh đi suốt ca ba thẳng tới chiến trường


Đón bình minh đất nước…”.


“Ca bình minh” được phổ nhạc, được hát trên các sân khấu của những người lao động, trên sàn diễn các nhà văn hóa, được hát nhiều lần trên các làn sóng đài phát thanh Tiếng nói VN.  Tiếp đến, báo Văn nghệ Hội Nhà văn in bài thơ khác của chị, bài “Nghĩ về Thúy Kiều (Trò chuyện với Thúy Kiều)” nhân kỷ niệm 200 năm ngày mất của thi hào Nguyễn Du. Bài thơ đó mở đầu bằng hai câu:


“Hai trăm năm có thể dài vô hạn


Thúy Kiều ơi nàng sống tháng năm dài…”


Và cứ thế, niềm suy tư, ray rứt, bâng khuâng của cô gái chưa đầy4 hai mươi tuổi về thân phận nàng Kiều. Nàng Kiều ấy lại không của Thanh Tâm Tài Nhân, không của riêng Nguyễn Du. Đó là nỗi đau thân phận, nỗi đau kiếp người ở mọi xã hội khác nhau, mà xã hội nào thì cũng thừa Tú Bà, dư Sở Khanh, nhan nhản Ưng Khuyển.  Đồng tiền muôn đời vẫn là quỷ là ma đổi trắng thay đen; bể trầm luân vẫn dìm, vẫn đầy dọa bức hiếp những kiếp người, kiếp nghèo vẫn ngoi ngóp nổi chìm bởi cái vòng “kim cô” luôn xiết chặt quanh đầu người lương thiện làm họ đau đớn, muốn cở bỏ mà không đủ phép mầu, cứ “cái bất công này xóa bỏ bất công khác lại trồi sinh” (Hêghen). Sau bài thơ “Trò chuyện với Thúy Kiều” định mệnh ấy, Lý Phương Liên như một vết sao băng vừa lóe sáng đã biến mất khỏi bầu thời thi ca từ đó đến nay. Tại sao chị không làm thơ nữa? Bị thôi tài chăng? Khó tin! Ai đã có chút máu mê thơ phú thì dù làm thơ có dở chăng nữa cũng không bao giờ từ bỏ niềm đam mê “cái công việc khổ sai mà ai đã vướng vào thì không sao gỡ ra cho được” (Bùi Ngọc Tấn). Không làm thơ đăng báo, đăng đài được thì họ làm thơ để đọc ở các câu lạc bộ thơ phường thơ xã… chưa ai nhụt chí, bỏ cuộc bao giờ.   


Hồi ấy thi đàn miền Bắc đang còn nguyên những cây đa cây đề xòe tán xum xuê che rợp cả bầu trời thi ca. Cây đa cây đề nào cũng như ả gái già ế chồng đốc chứng khó tính, giương mục kỉnh săm soi, đe nẹt từng câu, từng chữ, từng vần… từng cái dấu chấm, dấu phẩy của những kẻ dám mon men vào thánh địa cấm kỵ - Thánh địa thơ! Vậy mà một cô gái 20 tuổi con nhà phó thường dân dám ngang nhiên xuất hiện với bài thơ tình “Lời ru với anh” sướt mướt như muốn níu chân những đoàn quân đang trên đường ra trận! Chưa thôi, còn toang toang lên, hết bài “Ca bình minh” với những đêm không ngủ, đớn đau không biết làm gì trước những số phận hẩm hiu đành ngồi trò chuyện Thúy Kiều bạc mệnh, để: “Ai cũng muốn một ngày là một ngày sống đẹp/ Đêm thao thức cho ngày”, biến cái thể thơ mực thước từ nghìn đời thành những câu cú “thiếu thốn” lung tung. To gan! Tha không nọc ra mặt báo đánh đòn hội chợ là may đời rồi còn được khen hay, khen hiện đại ầm ĩ thế giới có bỏ bu thằng Chí Phèo không kia chứ!


 


Khi không thấy Lý Phương Liên xuất hiện nữa, họ lại lu loa loan tin thất thiệt: Những bài thơ trên kia của Lý Phương Liên do nhà thơ Đ. trong nhóm Nhân văn giai phẩm đang bị treo bút làm, đưa cho Lý Phương Liên đứng tên đăng báo hộ(?!).


Sao người đời cứ “trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” quá thể. Trường hợp cậu bé Trần Đăng Khoa, năm 11, 12 tuổi làm những câu thơ: “Hạt gạo làng ta/ Có bao tháng ba/ Giọt mồhôi sa/ Những trưa tháng sáu/ Nước như ai nấu/ Chết cả cá cờ/ Cua ngoi lên bờ/ Mẹ em xuống cấy…”.  Vậy thì, cô gái ở tuổi đang yêu làm được những câu thơ tình: “Lồng con phòng hẹp đôi ta/ Chim bằng chẳng thể quanh ra quẩn vào/ Xa anh nói nhớ làm sao/ Chân đứng tổi kiến lòng chao gió cánh…” có gì làm lạ? Cái bản chất xấu xí của người Việt Nam “hay ghen ăn tức ở”, hễ thấy người ta giỏi, người ta tài hơn mình là tung tin thất thiệt để hạ bệ, quăng xuống bùn cho bõ tức! Thật buồn cho thói đời nhỏ nhen.


Quan tâm tới một hiện tượng văn học bị ganh ghét, một nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã đem thơ Lý Phương Liên ra xem xét một cách nghiêm túc, so sánh tính biểu cảm ngôn từ, tu từ học để xác định tính lô gích của văn phong; phong cách cấu trúc ngôn ngữ giữa ngôn ngữ thơ Lý Phương Liên với ngôn ngữ thơ của nhà thơ Đ., vì “thơ phát ra bằng tần số rất riêng của từng người, không lẫn lộn” (Hoàng Hưng). Tiếc thay, thơ ấy, phong cách ngôn ngữ ấy vẫn “chính hiệu” ngôn ngữ thơ Lý Phương Liên từng thể hiện đồng nhất như cây nào ra thứ quả ấy… Thật buồn cho anh Tào Tháo!


Dăm năm cuối thế kỷ 20, sang đầu thế kỷ 21 người ta tự bỏ tiền túi in thơ tung hoành như bướm bướm đem tặng nhau những thứ thủ dâm tinh thần nhạt thếch đem bày cho đầy giá sách để làm sang.  Có anh nhà giàu in đến mười mấy tập thơ dạng báo tường báo liếp hòng trở thành nhà thơ lớn, hòng gia nhập Hội Nhà văn! “Thơ nhạt cũng như rượu nhạt, chẳng làm say được ai” (Vân Long).  Thèm danh quá, họ hò hét nhau đổi mới thơ, loại bỏ thứ thơ cúng cụ, bốc thơm, “loại thơ suỵt chó bụi rậm” (Lưu Quốc Ấn) mà họ từng “kinh nhật tụng” trước đó, tìm đường quay về với cái tôi thân phận, điều mà Lý Phương Liên đã làm từ khi họ đang mê mẩn: “Tôi: người viết những câu thơ cổ võ/ Ca tụng người không tiếc  mạng mình trong mọi lúc xung phong” (Chế Lan Viên, Di cảo).  Những năm gần đây bao nhiêu cuộc hội thảo bàn tròn, bàn vuông về thơ, nhưng người ta vẫn cố tình lờ tịt không hề nhắc đến Lý Phương Liên, người khởi xướng việc cách tân thơ từ trên ba mươi năm trước lấy nửa chữ.  Ô! Thật buồn cho cái sự công bằng, cái hiên ngang kẻ sĩ!”


 


(Trích từ cuốn: Giới thiệu các luật thơ, thể thơ, cách làm thơ.NXB Văn Hóa dân tộc - Hà Nội (2004).


Hoàng Xuân Họa Blog (Bích Câu Thơ)







1 Không đúng! Theo lời chị Lý Phương Liên kể với Triệu Xuân và Nhóm Văn chương Hồn Việt, thì bố chị chết vì bệnh nặng.




2 Tác giả bài này nhầm lẫn. Thựa ra, tập Ca bình minh của NXB Lao động in hồi đó là thơ tuyển của nhiều tác giả. Lý Phương Liên có một chùm thơ trong tập này, tên bài thơ Ca bình minh  của Lý Phương Liên được lấy đặt tên cho tập thơ. Cho đến năm 2003, thơ Lý Phương Liên chưa hề dđược xuất bản thành sách. (Chú thích của trieuxuan.info).




3 Nay bị đổi thành đường Lê Duẩn (Chú thích của trieuxuan.info).


 4 Không đúng! Lý Phương Liên sinh năm 1948. Khi Văn nghệ đăng bài Nghĩ về Thúy kiều, chị 23 tuổi (Chú thích của trieuxuan.info).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
Hoài Anh, nhà văn đa tài và lặng lẽ - Triệu Xuân 16.03.2017
Mỹ học (40) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 16.03.2017
Mỹ học (39) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Mỹ học (38) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Gabriel Gacia Marqyez (Colombia) nói về bản thân và nghề nghiệp - Hoài Anh 15.03.2017
Mỹ học (37) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 14.03.2017
Mỹ học (Kỳ thứ nhất) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
Mỹ học (Kỳ 35) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
xem thêm »