tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21278921
Những bài báo
27.02.2011
Tư liệu
Học trò nhớ thầy Nguyễn Tài Cẩn

Nhớ thầy Nguyễn Tài Cẩn


Phan Văn Thắng


Đến bây giờ tôi vẫn còn lưu email đầu tiên thầy gửi trả lời lời mời, đúng hơn là lời đề nghị xin được thầy quan tâm cộng tác và giúp đỡ  tạp chí Văn hóa Nghệ An. Thầy nói: Sẽ cộng tác với VHNA, vì đã mấy chục năm nay, viết bài cho nhiều tạp chí, nhiều báo, ở trong nước cũng như ở ngoài nước mà chưa bao giờ viết cho tạp chí của quê hương. Rồi thầy hứa, kể từ nay, nếu viết được bài gì thầy cũng cho VHNA đăng trước đã.


Và thầy đã làm như thế trong nhiều năm qua, kể cả bài viết “Một số vấn-đề trong các văn-bản in Nôm” cho Hội thảo về chữ Nôm ở trường Đại học Temple (Mỹ). Bài cuối cùng thầy cho chúng tôi in, và có lẽ cũng là bài cuối cùng trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học của thầy là bài Chữ Nôm đã hiện diện vào thời kỳ Quốc đô dời ra Thăng Long. Tôi biết, cho chúng tôi in rồi thầy mới để cho Diễn đàn đăng bài này. Tôi nghĩ, qua từng bài viết, thầy đã thực sự nghĩ nhiều, quan tâm nhiều đến quê nhà và văn hóa quê nhà. Trước lúc ngã bệnh không lâu, năm ngoái, thầy còn gửi về cho chúng tôi bài viết ngắn góp ý về các câu đối ở Khu di tích Kim Liên mà thầy được đọc trên một bài viết của một cán bộ quản lý di sản của ngành văn hóa Nghệ An. Thầy lo, nếu cứ để sai như vậy thì mọi người sẽ hiểu sai về tiền nhân, về quê hương xứ Nghệ của mình.


 


 Còn nhớ, dịp đầu năm kia (2009), khi về thăm quê, thầy đã vào Tạp chí Văn hóa Nghệ An thăm anh chị em chúng tôi và thể theo đề nghị của chúng tôi, thầy đã có một buổi nói chuyện gần 3 giờ đồng hồ liên tục. Tôi, thay mặt anh chị em trong cơ quan và bạn bè đã đề đạt nhiều vấn đề nhờ thầy giải thích, chỉ bảo. Thầy đã trả lời gọn gàng, khúc chiết tất cả, từ những vấn đề có ý nghĩa học thuật, thông tin khoa học đến cả những câu hỏi có tính riêng tư. Đến bây giờ chúng tôi vẫn còn lưu được băng ghi hình buổi nói chuyện hôm đó. Thỉnh thoảng tôi xem lại băng này và mỗi lần lại sáng ra một vấn đề mới, ý mới mách bảo cho tạp chí Văn hóa Nghệ An phải làm. Cách đây 3 năm, khi chuẩn bị làm số Tết, thầy còn viết thư về gợi ý, thực chất là bày cho tôi cách làm báo Tết thế nào cho hấp dẫn, thu hút được nhiều người tham gia viết và đọc. Tôi không học ngành ngôn ngữ, cũng phải là người làm nghiên cứu khoa học, càng không phải là ngôn ngữ học, chỉ làm báo nghiệp dư do duyên nghiệp đưa đẩy nhưng những chỉ bảo của thầy thật đáng ngàn vàng và nhớ mãi.


 


Bây giờ thầy đã đi xa, xa thật rồi, xa mãi...làm cho nỗi băn khoăn ân hận với thầy lại càng lớn, day dứt  hơn trong tôi. Hôm thầy về Vinh, tôi bố trí thầy nghỉ ở khách sạn. Sau khi ghi hình phỏng vấn xong, tôi định nghỉ lại với thầy vì lo thầy tuổi cao, nhỡ đêm hôm có việc gì. Thế nhưng thầy lại bảo, tối nay mình thức viết bài cho Văn hóa Nghệ An, Thắng cứ về đi kẻo các con chờ. Mãi hôm sau, vô tình tôi mới biết ở Sài Gòn, Hoàng Dũng và các anh là học trò thường ở lại với thầy. Tôi ân hận và nghĩ là may mà thầy khỏe mạnh.


 


Rồi nữa, gần một năm nay, biết thầy bị đau mà không thăm được. Dạo đầu còn viết emai nhưng sau rồi thầy cũng không đọc được nên coi như không được liên lạc gì với thầy. Trước đó dăm ngày nửa tháng còn có thư đi, thư về, từ ngày thầy ốm nặng, coi như cứ xa dần… Thật là có lỗi qúa. Mong thầy ở trời cao lượng thứ.


 


Thưa thầy, hôm thầy về thăm cơ quan em và nói chuyện, em có thông báo và mời một số vị  đặng trước là để chào hỏi nhau, sau là để cùng nói chuyện quê, chuyện khoa học...nhưng ai cũng …bận việc cả. Thầy bảo: Không sao, phải thông cảm với các anh ấy, họ phải lo trăm công ngàn việc... Hôm ở TP Hồ Chí Minh, Chủ tịch  Nguyễn Minh Triết có nói là sẽ đến thăm tôi ở nhà riêng tại Hà Nội, tôi đã cảm ơn và nói Chủ tịch không phải bận lòng vì còn phải bận bịu lo việc nước. Em nghĩ là thầy biết và thông cảm, bỏ qua tất cả.


 


Nhắc chuyện cũ mà thêm tiếc vì rằng nếu bây giờ tất cả chúng ta nếu có rỗi, có muốn thì cũng cũng không còn thầy để mà thăm nữa. Và tôi chắc chắn rằng với cơ sự này thì không biết đến bao giờ giới khoa học xã hội nói chung, giới ngôn ngữ học Việt Nam nói riêng mới có một nhà giáo, nhà khoa học như thầy để mà học hỏi,  kính trọng và ngưỡng mộ.


 


Trong nỗi buồn này tôi lại giật mình nghĩ, xứ Nghệ ta, Nghệ An và Hà Tĩnh, mấy chục năm nay vẫn thường tự hào là có lắm người tài,  hầu như lĩnh vực nào cũng có giáo sư đầu ngành. Rõ nhất là ở các ngành khoa học xã hội. Thế nhưng, Người Tài xứ ta mấy năm nay ĐI nhiều quá. Chỉ tính riêng khoa học xã hôi, lần lượt những tên tuổi lớn như Cao Xuân Hạo, Hoàng NGọc Hiến và bây giờ là Nguyễn Tài Cẩn đã ra đi.


 


Trên trời cao mong thầy phù hộ độ trì cho quê nhà sẽ có những hậu bối đủ sức, đủ tài, đủ tâm để tiếp bước được con đường khoa học gian nan của các thầy.


 


Cầu mong thầy VỀ CÕI thanh thoát, mọi gánh nợ trần gian, ai cũng nghĩ là thầy đã trả với số dư quá nhiều, và thầy đã cho quá nhiều...


Phan Văn Thắng


 


NHỮNG ĐIỀU THẦY ĐÃ DẶN CON


Kính nhớ thầy Nguyễn Tài Cẩn


Nguyễn Hùng Vĩ


Niềm đam mê bất tận


Rồi thầy xuất hiện. Áo măng tô cũ, khăn quấn tùm hum, điếu thuốc cuộn to đùng cắn giữa hai hàm răng. Câu đầu tiên của thầy: “Chào các em! Rét như cắt. Rét rụng cả tai. Rét không chịu được. Rét không thể tả… Các em có thấy nó khác nhau không nào? Đó là ngôn ngữ vậy!” Rồi thầy say sưa phân tích sự khác nhau của các phát ngôn. Đầu tiên là chiếc khăn phu la thành một đống trên bàn đầy bụi phấn, rồi chiếc áo khoác cũng được ném lên thành ghế, rồi mồ hôi lấm tấm dưới mái tóc tẽ đôi đã bắt đầu hoa râm. Rồi thầy đột ngột chuyển hướng: “Đó là từ vựng, là ngữ pháp, còn hôm nay chúng ta sẽ tiếp xúc với ngữ âm học, một môn khó nhưng mà rất thú vị. Thế giới bắt đầu bằng lời. Kinh thánh đã nói vậy”. Đột ngột, thầy đưa tay chụp lên cổ, miệng há rộng, lưỡi lè ra, mũi nhăn lại, lông mày dựng lên. Thầy giới thiệu với chúng tôi bộ phận phát âm. Với một vài nét trên bảng chúng tôi hiểu được những gì tạo ra âm thanh của tiếng nói, những A, E, Ô, U, B, M, D…Bốn tiết học trôi vèo tự bao giờ.


 


Đó là mùa đông năm 1974, hãy còn lán tranh vách đất, với tất cả những gì có thể quấn vào người, chúng tôi đến lớp co ro đợi thầy. Cả lớp đến sớm và đông đủ vì hôm nay là buổi dạy của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn. Với chúng tôi, tất cả các thầy nổi tiếng dạy đại học đều là giáo sư tất. Chúng tôi đâu quan tâm đến việc người này đã được phong và người kia còn chờ đợi.


 


Chúng tôi được thụ giáo thầy 3 môn học Ngữ âm, Ngữ pháp tiếng Việt và Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt. Cả ba môn, tôi đều xơi điểm trung bình mà bây giờ, sau hơn 30 năm đọc sách, mới hiểu ra, đáng lẽ điểm kém mới xứng đáng.


 


Nhưng thầy đã truyền cho chúng tôi ngọn lửa tình yêu khoa học ngữ văn từ buổi sáng mùa đông rét không thể tả ấy. Mình thì ở ngay kí túc xá còn thầy đạp xe 11 cây số vào trường đúng 7 giờ, không bao giờ sai. Sự nhiệt tình, lòng đam mê thầy đã hằng trao, cầu mong không bao giờ nguội tắt.


 


Dạy đại học như thế nào.


 


Cộc cộc cộc. Tôi mở cửa. Thầy hiện ra ở cửa và nói: “Hát câu nữa đi! Tui ở dưới gác nghe ông hát, lên chơi tí, mà này: Mẹ trực tiết lòng son chứ không phải trực tuyết đâu. Bà con mình hát trại mãi thành quen. Mình thì phải hiểu. Cũng như Anh hò hẹn năm tao bảy tuyết của Nguyễn Bính, phải hiểu là năm tao bảy tiết mới lọn nghĩa. Nó là hẹn lần này lượt nọ thôi mà. Mà có cái điếu thuốc lào không nhỉ?”


 


Khi biết tôi đã ở lại trường giảng dạy, thầy ngac nhiên ngắm nghía rồi góp ý: “Ông hơi lùn hè. Không sao. Hơi thiệt đó. Nhưng tôi kể ông nghe chuyện thầy tôi, còn lùn hơn cả ông nhưng thầy dạy hay lắm. Thầy ngồi ở bàn chỉ: Anh A lên bảng. Xong: Anh A về chỗ. Lúc đó thầy mới ra chữa bài. Thời ấy bọn mình có anh 2 con vẫn học cùng lớp, to cao lắm. Nếu thầy ra chữa bài mà đứng cạnh một anh cao thì nó mất tư thế đi. Vấn đề là tương quan. Mà ông có biết dạy đại hoc thì nên dạy thế nào không?” Tôi đang bối rối thì thầy tiếp tục: “Tôi nói luôn cho nhanh. Đơn giản thôi. Dạy đại học là đưa ví dụ. Lí thuyết thường là các định đề ngắn gọn. Hiện tương phong phú hơn quy luật là vậy. Cây đời mãi xanh tươi cũng là vậy. Ngắn gọn thì dễ học, sinh viên họ thông minh họ chóng thuộc hơn cả mình. Cái cần là họ học theo cái cách mà người ta nhận thức được lí thuyết. Vậy thì cần ví dụ, càng nhiều càng tốt, càng phong phú càng tốt. Muốn vậy, người thầy phải nghiên cứu trước, nghiên cứu cụ thể từng cái một. Có nhiều loại ví dụ: Ví dụ cơ bản, có tính trường quy, các sách đều phải viết như nhau dù là tây hay ta hay tàu cũng phải viết vậy và thầy cũng phải đưa như sách. Nhưng nếu mình chỉ đưa ra như sách thì sinh viên họ bảo là đọc sách còn hơn. Vì vậy, tiếp đến là ví dụ mở rộng, anh phải đọc sách và tìm kiếm ý kiến đáng tin cậy và trích dẫn rõ ràng. Không trích dẫn rõ sẽ mang tiếng đạo văn. Thứ ba là ví dụ độc hữu, có nghĩa là chỉ tôi có mà sách vở trên đời không thể có. Cái này đòi hỏi người thầy chăm chỉ nghiên cứu cái của mình, thậm chí giữ lấy, chưa cần in ra. Có khi in ra, sinh viên đọc đâu đó mà không nhớ tên tác giả, họ lại cho là mình cuỗm của ai đó thì tai hại cho uy tín. Để làm ra ví dụ như vậy phải lật đi lật lại một vấn đề thật kĩ càng, dù nhỏ nhưng kĩ và sâu sắc, xác đáng. Thậm chí phải nghiên cứu thực nghiệm cả những vấn đề trừu tượng như đạo lí, tinh thần, kinh nghiệm. Thứ tư là ví dụ ứng xử: với đối tượng nào, với tình thế nào thì đưa ví dụ phù hợp: chính quy khác, tại chức khác, cán bộ tuyên huấn khác, nếu không là có ngày vạ miệng. Có ví dụ vui khi cần vui và có ví dụ nghiêm chỉnh khi cần nghiêm chỉnh. Có cái tôi phát ngôn được mà tuổi ông chưa nói được. Thế đấy. Một đời làm thầy ông sắm được cho tôi một trăm cái ví dụ “chết người” là ông trở thành nhà khoa học lớn rồi. Đi nghiên cứu ví dụ sẽ đẻ ra nhu cầu lí thuyết và sẽ tích tụ lí thuyết. Hai cái này liên quan với nhau chặt lắm, đặc biêt ngành xã hội như chúng ta”. Đúng là tôi nghe ù cả tai, nhưng sau này nhiều lần gặp lại, thầy lại cười hỏi: “Có cái gì rồi!” là tôi hiểu ngay, mình phải làm việc như thế nào.


 


Phải hành động và hành động.


 


Thầy lên phòng và thấy trên bàn tôi đầy những tờ giấy ghi từ vựng, tôi đang làm về ngôn ngữ thơ Nôm của Nguyễn Trãi. Thầy hỏi qua ý đồ của tôi, tôi nói em sẽ thống kê định lượng thơ Nguyễn Trãi theo đơn vị từ. Thầy xem qua rồi hỏi: “Từ là gì nhỉ?” Tôi lúng túng đưa ra vài định nghĩa thông dụng. Thầy bảo, thấy chưa, người ta đang cãi nhau về từ trong tiếng Việt như thế nào chưa xong mà ông đâm vào đó là rất nguy. Theo tôi, ông nên thống kê theo chữ thì hơn. Đó là năm 1978, tôi còn rất chập chững nên đã không theo được lời thầy, kết quả tôi đã không hoàn thành công việc. Tôi có phàn nàn là em chưa được chuẩn bị lí thuyết nên không kết thúc công việc được. Thầy động viên: “Không sao, cứ làm đi rồi để đó, sẽ có ích cho sau này. Tớ tin là chả mấy ai đọc kĩ thơ Ức Trai như ông. Đó là một cái được. Không mất đi đâu. Vấn đề là phải hành động. Này nhé, tôi và cô Nonna đi thư viên 6 tháng ròng rã để chép tay cả cuốn tự vị Việt-Bồ- La của cố đạo Alexanre de Rhodes. Nhiều người khuyên rồi sẽ in, chép làm chi cho nhọc. Nhưng cậu thấy chưa, mười mấy năm rồi có in đâu. Chúng tớ lãi hơn người khác bao nhiêu là thời gian. Cứ làm đi sẽ có ích cả đấy”. Phong độ làm việc của thầy là bất tận, đó là điều mà nhiều người trong chúng tôi không học được. Thời nay nhiều lạc thú quá chừng.


 


Một lần về nước dự Hội nghị khoa học quốc tế, thầy hào hứng kể: “Có sáng kiến nhưng phải hành động ngay. Tôi kể các ông nghe chuyện ni, cả nhà tôi đi thăm mộ ông cụ bố vợ vốn là thiếu tướng Hồng quân. Cả nhà ra xe rồi còn tôi cứ lục cục trong bếp. Bim bim, bim bim. Tôi khệ nệ bê ra một thùng giấy. Cô Nonna bảo: “Nhà khoa hoc mà chậm giờ, mọi người đợi”. Tôi im re. Ra đến mộ, cây cỏ mọc trùm cả. Thằng Nam nhổ, thằng Việt nhổ, các cháu nhổ. Không ăn thua. Lúc đó tôi mới mở hộp. Dao đây, búa đây, lưỡi xẻng đây… Mời anh, mời chị! Cả nhà ồ lên khen tôi thông minh. Sướng chưa! Có gì đâu, việc này bên ta gọi là tảo mộ, là đi dọn mồ. Dọn mồ thì phải có dụng cụ, thế thôi. Tôi cũng thương ông, bà nó cũng thương ông, các cháu cũng thương ông. Nhưng vấn là hành động”.


 


Cũng ngay hôm sau đó, đi qua kí túc xá, tôi trông thấy từ xa, thầy dắt cái xe đạp trên ghi đông có một bọc nặng. Hỏi thầy đi đâu thì thầy cho biết đi xin một ít cát và xi măng về sửa cái ống bể phốt.Tôi bảo để con theo giúp thầy. Thầy lia lịa hươ tay: “Tôi trét tí xong, anh về đi!” Tôi đi rồi quay cổ nhìn thầy, một nhà ngôn ngữ học nối tiếng thế giới, đang sống ở nước Nga xa xôi, tuổi đã gần 80 mà sẵn sàng làm những công việc đời thường đến vậy. Cứ như chúng tôi, một phát cửu vạn là xong.


 


Chuyên về người thầy muôn vàn kính yêu của chúng tôi kể mãi không hết. Nhiều chuyện đã trở thanh giai thoại. Tôi không theo ngôn ngữ học nên chưa thể hiểu hết thầy. Nhớ thầy, kể lại vài ba kỉ niệm đã ảnh hưởng sâu vào tâm tính của mình và luôn tâm niệm “Không thày đố mầy làm nên” dù mình cũng mãi chưa nên cái gì cả.


Nguyễn Hừng Vỹ

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn hóa ẩm thực: Phở - món đồ ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò - Trịnh Quang Dũng 11.12.2017
Văn hóa Ẩm thực: Phở Việt - Kỳ 3: Phở - Trịnh Quang Dũng 10.12.2017
Boris Pasternak Giải Nobel về văn học năm 1958 - Thân Trọng Sơn 09.12.2017
Bộ Tư lệnh Vùng 5 Hải quân - Tư liệu sưu tầm 02.12.2017
Pilates là gì? Lịch sử môn thể thao thời thượng Pilates - Triệu Thiên Hương 01.12.2017
Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Gia Nùng - Triệu Xuân 27.11.2017
Kỳ vọng cường quốc của Trung Quốc chỉ là 'lâu đài trên cát'? - Tư liệu 25.11.2017
Goncourt 2017 thuộc về nhà văn kiêm đạo diễn Eric Vuillard - Tư liệu 25.11.2017
Nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư - Người luôn ẩn mình sau những trang văn - Đỗ Ngọc Yên 24.11.2017
Thầy trò đời nay với thầy trò xưa - Phan Khôi 19.11.2017
xem thêm »