tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty JOTON

Nhà sản xuất tiên phong trong lĩnh vực sơn và chất phủ bề mặt  tại Việt Nam, đáp ứng nhu cầu đa dạng trong lĩnh vực Xây dựng, Giao thông, Công nghiệp, Dân dụng.

Nhà hàng Việt Phố

Điểm đến lý tưởng của những người sành Văn hóa Ẩm thực, Văn nghệ sỹ, Doanh nhân và giới trẻ…

Khách thăm: 7753055
Tiểu thuyết
31.10.2008
Trần Hoài Dương
Miền xanh thẳm

21


Suốt cả ngày hôm sau, hai chị em tôi đi thăm mấy gia đình quen biết quanh Bãi Trại. Những ngày kháng chiến chống Pháp, dân dưới xuôi tản cư lên đây đông đúc thế, nhà cửa san sát, vậy mà bây giờ vắng hoe. Mọi người đã kéo nhau về quê hết. Còn lại bây giờ chỉ toàn là dân gốc gác ở đây đã nhiều đời. Đường đi lối lại ngày xưa quang quẻ, sáng sủa, nay cỏ mọc tràn lan, chỉ còn là ngững lối mòn. Cây cỏ rậm rạp, tre pheo xơ xác. Đặc biệt là nhìn đâu chị em tôi cũng thấy mọi thứ đều nhỏ lại. Cánh đồng trước mặt kia, ngày trước trông rộng thế, xa thế, sao bây giờ trông quá gần, không lấy gì làm rộng lắm. Cây đa sau nhà ngày xưa cao thế, to thế, bây giờ chỉ là một cây đa rất bình thường. Bãi Trại ngày xưa rộng bao la, cỏ xanh mượt mỡ màng, chạy từ đầu bãi đến cuối bãi phát mệt, nay áng chừng chỉ khoảng hơn trăm bước chân, nhỏ bé đến không ngờ... Có lẽ ngày xưa còn bé, tất cả đều được nhìn qua đôi mắt trẻ thơ, tầm nhìn còn hạn hẹp, lại qua một lăng kính mơ mộng, huyền hoặc. Nay chị em tôi đã lớn thêm nhiều, đã đi qua thêm biết bao nhiêu vùng đất rộng lớn, to đẹp, đôi mắt đã từng trải. Nhưng dù thế nào chăng nữa, mảnh đất nhỏ bé mang tên Bãi Trại đang trải ra trước mặt hai chị em tôi đây, mãi mãi vẫn là mảnh đất thân thương, ruột thịt, nơi anh chị em tôi coi như quê hương thứ hai của mình. Gọi là quê hương thứ hai nhưng thực ra mảnh đất Bãi Trại này gần gũi, gắn bó với chúng tôi còn hơn cả Hải Dương quê chính. Gần suốt cả thời thơ ấu và niên thiếu chúng tôi đã sống ở đây. Hơn nữa, bây giờ mẹ tôi lại nằm lại đây vĩnh viễn…


Ông phó Đá đã mất từ lâu. Ngày xưa ông làm phó lý, tính rất hiền lành. Người ông thấp đậm, da đỏ au. Ông có tài chơi đàn bầu, nhiều người biết tiếng. Có những đêm khuya lắm, tiếng đàn của ông vẫn nỉ non thật buồn, hình như ông có niềm tâm sự sâu kín gì đó không dễ nói ra, đành gửi gắm, nhờ tiếng đàn nói hộ. Vườn nhà ông nay xơ xác, nhưng mấy cây ổi góc vườn vẫn còn. Ngày trước, mấy đứa nhỏ chúng tôi thường chui vào hái trộm ổi của ông. Con chó mực nhà ông rất dữ. Chúng tôi phải bày mưu: thằng Cảnh giả bộ lởn vởn đi qua đi lại phía cổng chính để thu hút con Mực về phía đó. Mấy đứa chúng tôi thừa cơ chui rào ở phía sau. Con Mực cứ sủa ầm ĩ ngoài cổng, còn chúng tôi yên chí hái ổi, rúc rích cười với nhau, vừa nhai ổi rau ráu vừa chê con Mực khờ khạo. Ông phó Đá không hẹp hòi gì, trái lại còn rất hào phóng với chúng tôi. Thỉnh thoảng thấy chúng tôi kéo nhau đi bẫy chim ngang qua, ông gọi vào cho cả một rổ con đầy ổi. Nhưng chẳng hiểu sao, chúng tôi vẫn thấy những trái ổi hái được bằng cách đánh lừa con Mực vẫn thơm đậm hơn nhiều…


Ông phó Mịch cắt tóc cũng đi về đâu không biết. Suốt những năm tháng ấu thơ, mái tóc chúng tôi đều do ông cắt. Cả một vùng Bãi Trại chỉ có mình ông là thợ cạo. Đồ nghề của ông đựng gọn trong một chiếc hòm con, một chiếc gương, một tấm khăn choàng màu cháo lòng cũ kỹ, một chiếc ghế đẩu cho khách ngồi. Vậy mà ông vẫn trương tấm biển tự kẻ lấy treo đầu hiên: “Cắt tóc Thủ Đô”. Suốt cả thời gian ngồi cho ông cắt tóc, tôi chỉ thấp thỏm chờ đến lúc gần cuối, ông bóp bầu hơi cao su, xì xì phun thứ nước không mùi lên mái tóc, lấy lược chải đi chải lại rồi đưa kéo lên một cách trang trọng cắt từng nhát kêu “cách cách… sựt sựt” nghe rất vui tai và cảm thấy thú vị vô cùng.


Chị em tôi đi ngang qua mấy thửa ruộng cao trồng khoai lang để đến thăm mộ ông bà Thơ, bố mẹ thím Minh. Ông bà là những người rất tốt, đã yêu thương đùm bọc gia đình tôi nhiều. Những ngày mẹ tôi ốm nặng, ông bà đã dành riêng cả một gian nhà rộng cho mẹ tôi tĩnh dưỡng, không nề hà bệnh tật lây nhiễm. Ông rất hiền lành, người gày sắt nhỏ bé, da nâu sậm, đầu hói, da mặt nhăn nheo đầy những vết hằn sâu khắc khổ. Ông rất ít nói, giọng nói trầm buồn. Ông nghiện thuốc lào nặng, suốt cả buổi tối chỉ ngồi hút thuốc lào rồi ho sặc sụa. Dứt cơn ho tưởng như xé phổi, ông lại tiếp tục hút. Ông yêu các con cháu bằng một tình yêu lặng lẽ, mộc mạc. Thấy các cháu thích câu cá, ông lẳng lặng ra mấy bụi hóp ven ao, chọn những cây đẹp nhất chặt về uốn, chuốt đến bóng lưỡng rồi cười tủm tỉm đưa cho các cháu, không nói thêm một tiếng. Ông làm diều, làm lồng chim chiều theo ý các cháu cũng bằng những cử chỉ như thế.


Tôi nhớ mãi cái lần tôi về thăm mộ mẹ tôi, nhân thể ghé qua thăm ông bà. Lúc đó ông bà đang thời kỳ khốn khó nhất. Cải cách ruộng đất, ông bà bị quy oan là địa chủ. Nhà cửa trong làng bị tịch thu hết, ông bà phải ra ở giữa cánh đồng, dựng tạm một căn nhà nhỏ không lớn hơn chiếc lều vịt bao nhiêu. Tôi cứ quanh quẩn hết đứng lại ngồi bên cạnh mộ mẹ tôi suốt từ trưa đến gần tối mới dám lẻn đến thăm ông bà vì sợ người làng trông thấy. Có người ở xa đến, làng xóm biết sẽ phiền cho ông bà. Vừa trông thấy tôi, ông ôm chầm ngay lấy rồi cứ thế lặng lẽ khóc không ra tiếng. Ông thì thào hỏi tôi: “Cháu đến đây có ai thấy không?”, tôi nói không, ông vẫn chưa yên tâm, lom khom bước ra ngoài sợ hãi nhìn bao quát khắp lượt. Rồi dưới ngọn đèn dầu tù mù, ông lúi húi nấu cháo gà cho tôi ăn. Con gà bé tý, chưa mọc đủ lông cánh duy nhất còn sống sót. Vừa moi ruột gà, ông vừa phân bua: “Cháu ăn tạm con gà nhép này vậy. Có mấy con, bị toi chết hết cả, còn mỗi mình nó. Chắc thịt còn tanh lắm”. Không còn gạo, ông lấy trong gầm chõng ra mấy cái chai. Tôi ngỡ ông tìm nước mắm hay muối gì đó nhưng không phải. Đó là mấy chai đựng hạt đỗ giống. Mỗi chai, dốc ra được chừng một nắm, nào đỗ xanh, đỗ đen, đỗ tương… Tôi vội giữ tay ông lại, can: “Để lại mà gieo ông à!”. Mồm ông méo xệch. Những nếp nhăn khắc khổ chằng chịt trên trán, trên mặt càng nhăn nhúm lại. Ông cố nuốt nước mắt: “Để ông nấu cho cháu ăn. Mấy khi cháu về đây với ông. Nhà chẳng còn một hột gạo nào… Biết đến bao giờ ông cháu mới lại được gặp nhau? Mà lần sau cháu về, chắc gì ông còn sống?”. Và quả nhiên, hơn một chục năm sau ông mất trong nỗi khốn khổ cùng cực. Không ngờ đó là lần cuối cùng tôi được gặp ông.


Ngược hẳn với ông, bà Thơ lại ăn to nói lớn. Dáng bà cao ráo, trắng trẻo. Có lẽ ngày trẻ bà là một cô thôn nữ có nhan sắc. Về già, bà vẫn còn giữ được những nét sang cả. Bà thường mặc váy sồi đen dài, yếm lụa tơ tằm màu ngà. Bà yêu con cháu một cách nồng nhiệt, cư xử với mọi người một cách vồn vã, xởi lởi. Nhưng bà nổi tiếng là người có tài chửi nhau. Ai nói gì động chạm đến bà, con gà con qué lạc đâu mất, đứa nào chọc ghẹo cháu bà… bà đều chửi té tát. Chửi có bài bản, có vần điệu lên bổng xuống trầm. Nhiều khi bà vừa xắn váy quai cồng vừa nhảy chồm chồm, hai tay xỉa xói về phía trước y hệt mấy con ngỗng cái vươn những chiếc cần cổ dài ngoẵng xỉa xói nhau. Bọn tôi đứng nhìn bà chửi, ôm bụng cười thế là bà cũng bật cười, đuổi theo chúng tôi cười xòa. Mỗi lần chửi xong, bà lại cười nói vui vẻ, cứ như là chưa hề xảy ra chuyện vừa rồi. Tính và có phần nhẹ dạ, ruột để ngoài da vì thế hàng xóm cũng không lấy đó làm điều, vẫn rất quý bà, vui vẻ chào hỏi mỗi khi gặp bà. Bà mất một cách đột ngột, dễ dàng, trong lúc đang chửi nhau. Hôm ấy, chẳng biết có ai đó nói động gì đến cháu trai bà, chỉ là trách cứ một việc nhỏ thôi, nghi thằng bé dắt trâu ngang qua ruộng, để quơ mất mấy dây khoai lang của họ. Chưa rõ thực hư thế nào, vừa nghe nói động đến đứa cháu, bà đã ra bờ dậu chửi ầm lên. Đang đến lúc cao trào, câu chửi bắt đầu có vần có điệu, bà bỗng chới với rồi ngã vật ra góc sân. Có lẽ máu hỏa đã bốc lên ngùn ngụt làm bà đứt mạch máu não. Ai cũng thương bà, thấy tội nghiệp cho bà. Cả làng đều đi đưa đám. Nghe nói hiếm có một đám ma nào đông như thế…


Đối với chị em tôi, ông bà Thơ rất yêu chiều. Trong những ngày khó khăn nhất, chúng tôi đã được ông bà và thím Minh yêu thương và đùm bọc rất nhiều. Về vật chất ông bà cũng không dư dả gì, không giúp đỡ gì bao nhiêu cho chị em tôi. Nhưng về tình thương thì tấm lòng của ông bà, của thím Minh thật chan chứa. Nghĩ về Bãi Trại, nghĩ về làng Thễ, không thể nào chị em tôi không nghĩ đến những người thân yêu đã trở nên ruột thịt ấy.


 Chị Ngà kêu mỏi chân. Hai chị em dừng lại, tìm một đám cỏ sạch để ngồi nghỉ. Cỏ may ghim chi chít trên hai ống quần của chị em tôi. Giá con gà mái đen ngày xưa bỗng hiện về nhỉ… Kỷ niệm tuổi thơ lại bàng bạc hiện về: chúng tôi đang sống giữa một không gian tràn ngập kỷ niệm. Nhìn đâu cũng thấy quá khứ. Quanh chúng tôi, những cây ké hoa vàng mọc rải rác. Giống cây này nhỏ bé, cao nhất cũng chỉ ngang bắp chân, có đặc điểm cây nhỏ nhưng có dáng rất cổ thụ. Thân cũng xù xì, nổi u, nổi bướu, dáng cũng xùm xoà la đà chẳng khác bao nhiêu với những gốc đa trăm tuổi. Tôi và anh Lượng hay lượm những hòn sỏi cuội nhẵn thín, những cục đá sỏi xù xì góc cạnh xếp thành những toà lâu đài nhỏ xíu ẩn dưới những vòm ké hoa vàng ấy. Chúng tôi đi bắt dế, bắt tổ ong ruồi về nuôi trong các toà lâu đài. Anh em tôi có thể nằm toài trên cỏ hàng giờ để ngắm nghía, sửa sang, phá đi xây lại cho đến khi thật mãn nguyện.


Rồi lại còn những thân cây sau sau thân trắng mốc, lá xẻ chân vịt kia nữa. Lá của nó vò nát có mùi thơm bạc hà dịu nhẹ. Những con sâu cước nổi gai xanh gai vàng trông hơi sợ nhưng thật ra rất hiền lành thường ăn lá sau sau, cho chúng tôi những sợi cước bền chắc để câu cá. Anh Lượng và tôi thường trèo lên cây, chọn mấy cành chĩa ngang chắc chắn trên cao, gác thêm lên mấy cây que làm thành một chòi canh, một chỗ nửa nằm nửa ngồi lý tưởng. Mỗi anh em tôi chiếm riêng cho mình một cây như thế. Có khi anh em tôi ở trên cây cả mấy tiếng đồng hồ, lúc mơ mộng ngắm mây trời, lúc tán dóc nói vống từ cây nọ sang cây kia, có lúc còn thó mấy cục đường phèn của bà tôi đem ra đấy nhấm nháp từng chút xíu một, cảm thấy sao mà ngọt, mà thơm đến thế. Gió trời lồng lộng, bóng lá râm mát xanh như ngọc, không gian thoảng hương bạc hà toả ra từ lá, từ nhựa cây óng vàng nhiều lần ru anh em tôi ngủ ngon lành trên lưng chừng cây mãi cho đến lúc có ai đó gọi mới chịu về.


Xa xa, về phía tay phải, dòng sông Máng hiện ra hiền hòa. Là một con sông đào nhỏ bé không có tên, chỉ được gọi nôm na là sông Máng nhưng đối với tôi, đó là con sông thân thiết nhất, gắn bó nhất so với tất cả mọi con sông trên đời. Sông nhỏ đến nỗi hai người đi trên hai bờ đê, nói chuyện với nhau không cần lên cao giọng vẫn nghe rõ. Vậy mà nó đã là dòng sông thân thiết trong tuổi ấu thơ của tôi. Chúng tôi đã lăn lê bò toài trên triền đê của nó. Chơi đánh trận giả quanh những lùm dứa dại dưới chân đê. Nằm thảnh thơi trên mình trâu, con trâu vừa gặm cỏ roàn roạt vừa thung dung chở bọn tôi đi rong trên triền đê thoai thoải. Ngược lên phía trên chừng ba, bốn cây số là ngôi trường nhỏ bé ngay gần bờ sông, đã có một thời gian ngắn anh em tôi học lớp một, lớp hai ở đó. Chính ở nơi này có một kỷ niệm tưởng như là một trò đùa của một người thầy hình như hơi không được bình thường nhưng đã để lại trong chúng tôi những ấn tượng vào loại mạnh mẽ, sâu sắc nhất, nổi bật hẳn lên giữa biết bao kỷ niệm bình thường khác. Thầy giáo tên gì, tôi không nhớ nữa. Người thầy cao gầy, còn vẻ mặt như thế nào tôi cũng không hình dung ra được rõ ràng. Vừa là do thời gian đã qua cả nửa thế kỷ, vừa là do ngày còn bé xíu tôi vốn nhút nhát, cũng giống như bao cậu học trò bé xíu nhút nhát khác có mấy khi dám nhìn tường tận mặt thầy. Trong buổi học, thầy kể về Trần Hưng Đạo đánh tan quân nhà Nguyên trên sông Bạch Đằng. Thầy dạy chúng tôi bài hát về dòng sông huyền thoại ấy: “Trên sông Bạch Đằng. Quân Nam ầm reo…”. Tuy còn nhỏ xíu nhưng cả lớp chúng tôi vừa hát vừa gào lên thỏa sức, tràn ngập lòng tự hào vì truyền thống cha ông: “Đây Bạch Đằng Giang, sông hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng, giống Lạc Hồng, giống anh hùng Nam Bắc Trung. Trên trời xanh muôn sắc đua chen bóng ô. Dưới đáy dòng nước ánh sáng vẩn vơ nhấp nhô…”. Lòng đầy náo nức, hừng hực khí thế quật khởi, chúng tôi ào ào ùa chạy ra khỏi lớp. Thầy cho phép chúng tôi xô nhau nhảy xuống lòng sông đã cạn nước chỉ còn ngang bắp chân, thi nhau hò hét, té nước vào nhau loạn xạ. Mình mẩy đứa nào đứa nấy ướt đầm đìa nhưng vẻ mặt thì rạng ngời. Chúng tôi tưởng như mình đang là những chiến binh nhà Trần của mấy trăm năm về trước, vừa ào lên như vũ bão thét vang: “Sát Thát! Sát Thát!” vừa gào đến vỡ ngực: “Trên sông Bạch Đằng. Quân Nam ầm reo…”. Sau trận thủy chiến lừng danh ấy, chúng tôi không bao giờ được gặp lại thầy giáo nữa. Sau này nghe kể lại, tôi mới biết là thầy bị khiển trách và thuyên chuyển đi nơi khác. Vậy mà đối với lũ nhỏ chúng tôi, trong suốt cả cuộc đời, có lẽ đó lại là một buổi học lý thú nhất, để lại những ấn tượng đậm đà nhất về hình ảnh người thầy và nhà trường…


Đưa mắt lướt một vòng qua con đê, dần quay về bên trái, chị em tôi bắt gặp nóc nhô cao lên của ngôi nhà gác ấp Bình Chương của ông bà Thượng tôi. Ngôi nhà với mái ngói đỏ ngả vàng cam vượt hẳn lên trên rặng tre nửa vàng nửa xanh xùm xòa. Ở đó đã từng sống cả một đại gia đình chúng tôi. Có biết bao kỷ niệm đẹp đẽ đã từng qua đi ở đó. Những buổi tối cả nhà quây quần, vang lên những chuỗi cười bất tận. Anh Hiệu, anh thứ ba của tôi, sau chị Trọng và chị Ngà, có nhiều năng khiếu văn thơ. Anh rất thông minh, học giỏi, hồi đó anh hay làm những bài thơ vui kể lại những chuyện xảy ra quanh mình. Bất cứ chuyện gì, bất cứ cảnh sắc nào, anh cũng có thể đưa được vào những vần thơ giản dị và hóm hỉnh của mình. Chính nhờ những vần thơ đó mà bây giờ, sau gần năm mươi năm, anh em tôi vẫn có thể hình dung ra rất rõ những câu chuyện cũ, mà nếu không có thơ anh ghi lại thì không thể nào hình dung ra nổi. Những vần thơ vui, còn rất non nớt nhưng lại thật cụ thể, sinh động. Cả nửa thế kỷ đã qua rồi, nhưng qua những vần thơ vui của anh làm lúc tám, chín tuổi, một buổi tối vui bất tận ở ấp Bình Chương vẫn hiện lên rõ mồn một: “Hôm nay bà Bá đã lên. Cả nhà vui vẻ huyên thuyên chuyện trò.Người nói nhỏ, kẻ nói to. Sáu người to lớn nằm co trên giường. Bỗng nhiên giường gãy lạ thường. Đánh đùng một cái bên tường tung ra. Cô Mai, cậu Lượng đó à? Cô Thế, cô Lệ cùng bà Đốc Khang. Cô Bảy dưới bếp vội vàng. Chạy lên ôm lấy cô nàng Chi Mai. Chú Minh thì bị ở tai. Thành ra nằm ở giường ngoài mà đau…”.


Chẳng là hôm ấy bà Bá, chị ruột của ông nội tôi từ dưới Hải Dương mới lên. Cả nhà quây quần vui vẻ. Đang rôm rả chuyện trò, bỗng chiếc giường gãy chân vì người nằm, người ngồi quá nặng… Bài thơ mang tính chất nhật ký này, anh Hiệu cùng với bố tôi “ứng khẩu” ngay tại chỗ. Người được nhắc đến đầu tiên trong bài thơ là bà Bá của tôi. Bà tên thật là Phúc, chị cả của mấy ông bà họ nội tôi, theo thứ tự tên chữ: Phúc, Thọ, Khang, Ninh. Bà không lấy chồng, suốt đời chịu ở vậy để trông nom, cai quản giúp cho cơ nghiệp của em gái bà là Thượng. Tôi chưa thấy ai thuộc truyện Kiều và đặc biệt là vận những câu Kiều vào mọi mặt của đời sống thường nhật một cách tài tình như bà. Bất cứ chuyện gì, dù lớn hay nhỏ, bà cũng vận mấy câu Kiều vào được, vận tức thì, chính xác, dung dị như vốn sự việc đòi hỏi phải được diễn đạt như thế chứ không thể khác. Không biết vì lý do gì, trong hàng các cháu, tôi được bà yêu quý nhất. Bà thường ôm tôi vào lòng xuýt xoa: “Cháu nõn của bà!”. Những ngày còn một, hai tuổi, có một thời gian dài tôi được sống với bà, có một người vú nuôi ngày ngày bế ẵm, chăm sóc tôi. Còn bé quá, tôi không nhớ được gì nhiều về những ngày xa lơ xa lắc đó…


Cũng ở ấp Bình Chương, còn một chuyện làm tôi khó quên. Hôm ấy, cả nhà đang quây quần ăn sáng. Bà Thượng tôi từ buồng trong đi ra, giọng buồn buồn lo lắng nói với ông Thượng tôi: “Ông ạ. Tự nhiên tôi thấy lo quá. Đêm qua tôi nằm mộng thấy thằng Hy nó về. Đầu nó quấn băng trắng, máu me đầm đìa hết cả. Nó cứ ôm đầu kêu: “Mẹ ơi, con đau đầu quá!”. Không biết là điềm gì? Liệu nó có làm sao không ông?”. Ông Thượng tôi cười, gạt đi: “Bà chỉ khéo nghĩ vẩn vơ! Không có chuyện gì đâu! Lâu không có tin tức nó, bà mong nhiều nên nằm mộng đó thôi!”. Nhưng kỳ lạ làm sao! Khoảng một tuần sau, có tin dữ từ Hưng Yên đưa lên: Bác Hy tôi đã tử trận! Ông bà tôi tính lại, bác tôi hy sinh vào đúng cái ngày bà tôi nằm mơ thấy bác ôm đầu trở về. Tin tức cho biết bác tôi đã chỉ huy tiểu đoàn của mình chống trả một cách vô cùng oanh liệt một lực lượng thiện chiến của địch. Quân địch quá đông, gồm lính ngụy và rất đông lính Âu Phi trang bị cực mạnh. Lực lượng quá chênh lệch, quân ta chiến đấu rất ngoan cường, nhưng cuối cùng phải vừa đánh vừa rút. Bác Hy tôi là tiểu đoàn trưởng, cùng với một tiểu đội nòng cốt, cố thủ đánh trả quyết liệt. Các chiến sĩ hy sinh gần hết. Bọn Tây đen rạch mặt ào lên định bắt sống bác tôi. Đạn hết, không để chịu sa vào tay giặc, còn viên đạn cuối cùng, bác tôi đã giơ súng lên ngang đầu, bóp cò tự sát. Cái chết lẫm liệt đó đã lan truyền đi khắp các chiến trường. Nơi bác tôi ngã xuống thuộc huyện Văn Giang, Hưng Yên năm 1948 ấy, tên xã được mang tên bác tôi: Lê Tôn Hy..


Tôi đang miên man suy nghĩ, chợt chị Ngà nắm tay tôi khẽ lắc:


- Lát nữa chị em mình vào làng thăm anh chị Trí em nhé. Ngày mẹ còn sống, anh Trí quý mẹ và chị em mình lắm đấy. Chính anh là người phụ trách thiếu nhi đầu tiên kể từ khi chị em mình bắt đầu biết đi sinh hoạt thiếu nhi thời kháng chiến chống Pháp đấy em ạ. Mấy lần đi sinh hoạt về khuya, chị em mình bị mẹ la, anh Trí phải xin cho đấy. Hôm mẹ mất, em bị ốm, chính anh Trí là người cõng em đưa mẹ ra đồng. Cho đến bây giờ, nghe thím Minh nói, anh vẫn sống vất vả lắm.


Hai chị em tôi bùi ngùi nhớ lại những kỷ niệm cũ. Bãi Trại, làng Thễ, ấp Bình Chương, Yên Thế… Câu hát cũ lại vang lên trong tâm trí tôi “Nhớ ai trên mấy đồi Yên Thế…”. Bây giờ tất cả chỉ còn là dĩ vãng…


 


(Còn tiếp)


Nguồn: Trần Hoài Dương Truyện chọn lọc. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


 


 


 


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ái tình miễu - Hồ Biểu Chánh 24.05.2013
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 24.05.2013
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 24.05.2013
Tôtem Sói (The Wolf Totem) - Khương Nhung 23.05.2013
Nguyễn Thị Lộ - Hà Văn Thùy 17.05.2013
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 17.05.2013
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.05.2013
Những linh hồn chết - Nikolai Vasilyevich Gogol 16.05.2013
Dòng đời - Nguyễn Trung 13.05.2013
Chim gọi nắng - Hoài Anh 12.05.2013
xem thêm »