tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19352474
20.02.2011
Tư liệu
Du lịch Thái Bình: Đền Đồng Xâm, thờ Triệu Vũ Đế

Đền Đồng Xâm thờ Triệu Vũ Đế (Triệu Đà) - tổng thể kiến trúc đồ sộ


Đền Đồng Xâm thuộc xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Đây có thể xem như một tập đại thành của nghệ thuật chạm khắc gỗ, đá, kim loại, đắp vữa của Việt Nam thời Nguyễn.


Đền gồm một quần thể di tích có quy mô hoành tráng. Trong đó thờ Triệu Vũ Đế (Triệu Đà hay Triệu Úy Đà) đền thờ Trình thị Hoàng hậu (vợ vua Triệu Vũ Đế) và đền thờ Nguyễn Kim Lâu (vị tổ nghề chạm bạc cổ truyền) cùng hệ thống đền chùa nằm kề sông Vông.


Trung tâm cụm di tích của đền Đồng Xâm là một tổng thể kiến trúc đồ sộ với gần 10.000m2 gồm nhiều công trình kiến trúc hùng vĩ và tuyệt đẹp như Vọng Lâu, Thuỷ tọa, Hoành mã, Sân tế, toà tiền tế, phương đình, toà điện thờ, hậu cung, nhà thờ tổ sư nghề chạm bạc...


Thuỷ tọa là một ngôi nhà hình lục lăng cao gồm sáu cửa vòm quay ra các hướng, từ đây du khách có thể ngắm được toàn cảnh sân tế và các đường thuyền đua tấp nập trên sông khi có lễ hội.


Toà tiền tế của ngôi đền là một tòa đại đình gồm 5 gian rộng, với quy mô đồ sộ có chiều cao tới 13 mét và kiểu dáng kiến trúc bề thế ít gặp ở các di tích khác. Nối liền toà tiền tế tới hậu cung là toà điện Trung tế được kiến trúc theo kiểu Phương đình. Mặt bằng ở khu vực này được các nghệ nhân xử lý cực kỳ hợp lý, từ ba gian của toà tiền tế được rút lại một gian chính giữa làm nền của toà Phương đình.


Toà Hậu cung của đền được cấu trúc thành hai bộ phận liên hoàn là toà điện năm gian, nối với gian trung tâm là phần chuôi vồ được tôn cao mặt bằng để đặt khám gian. Phía hiên ngoài Hậu cung được bài trí hài hoà bằng những đại tự, cuốn thư, câu đối cùng hệ thống y môn gỗ chạm. Hệ thống cánh cửa khay soi ở ba gian trung tâm của toà hậu cung được chạm thủng với đề tài bát bửu, hoa văn, dây lá, chữ triện trên 12 ô cửa của Hậu cung tạo cảm giác lâng lâng thoát tục cho du khách trước khi bước qua ngưỡng cửa vào đây.


Khám gian đặt tại Hậu cung là một tác phẩm độc đáo mang nét đặc thù của làng nghề chạm bạc, đồng, sắt. Khám gian được phong kín bằng những lá đồng chạm thủng với các đề tài khác nhau như tứ linh, tứ quý... Trong khám thờ đặt tượng Triệu Vũ Đế và Hoàng hậu Trình thị, cỡ tượng to tương đương người thật và đều được đúc bằng đồng khảm vàng, bạc, thiếp bạc...


Đền Đồng Xâm còn gắn liền với nghề chạm bạc ở Hồng Thái. Hàng năm nơi đây thường tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công ơn vị tổ sư nghề chạm bạc Nguyễn Kim Lâu.


 


Làng chạm bạc Đồng Xâm


Vị trí: Làng chạm bạc Đồng Xâm thuộc xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình


Đặc điểm: Là làng nghề chạm bạc nổi tiếng với những sản phẩm tinh xảo mang tính nghệ thuật cao.


Làng nghề chạm bạc Ðồng Xâm (tên cũ là Ðường Thâm) nằm ở bên hữu ngạn sông Ðồng Giang. Những ghi chép trong sách sử cho biết: làng này hình thành vào cuối thời Trần-Hồ, cách chúng ta ngày nay trên 600 năm.


Nhưng nghề chạm bạc ở đây thì mãi về sau mới xuất hiện. Làng hiện còn một am thờ và một tấm bia đá ở trong khu chùa Ðường (thôn Thượng Gia ngày nay). Ðó là một văn bia Tổ nghề (dựng năm 1689). Trên văn bia có ghi:


"Hoàng triều Chính Hoà thập niên, Tổ phụ Nguyễn Kim Lâu (...) Bảo Long tụ lạc học nghệ, đáo Ðồng Xâm xứ kiến lập thập nhị phường kim hoàn truyền nghệ."


Tạm dịch: Năm thứ mười dưới triều vua Chính Hoà (1689), vị tổ sư Nguyễn Kim Lâu vốn làm nghề vàng bạc ở Châu Bảo Long, tới xứ Ðồng Xâm lập ra mười hai phường để truyền nghề.


Nguyễn Kim Lâu sống vào khoảng đầu thế kỷ 17. Và như vậy nghề chạm bạc Ðồng Xâm đã tồn tại gần 400 năm nay. Buổi đầu là nghề hàn đồng, gò thùng chậu, đánh dao kéo, chữa khoá, làm quai và vòi ấm tích, điếu bát...về sau mới làm đồ kim hoàn, chuyên sâu về chạm bạc.


Cũng như nhiều nghề thủ công cao cấp khác, như đúc đồng, luyện kim... nghề kim hoàn mang lại thu nhập cao cho người thợ, kỹ thuật lại hết sức phức tạp, nên suốt mấy trăm năm người Ðồng Xâm luôn giữ bí mật nghề. Ðến nay, kỹ thuật này không còn là độc quyền của thợ Ðồng Xâm nữa, nhưng một số thủ pháp kỹ thuật và nghệ thuật tinh xảo nhất vẫn được giữ bí truyền. Phường chạm bạc xưa đã qui định chặt chẽ trong hương ước của làng rằng: người nào đem bí quyết nghề truyền dạy cho nơi khác, cho người làng khác, hay làm đồ giả để lừa người khác, gây sự bất tín thì phải phạt thật nặng... hoặc đem đánh đòn trước nhà thờ Tổ, hoặc phải xoá tên trong phường.


Hàng chạm bạc Ðồng Xâm khác hẳn và nổi trội so với hàng bạc của các nơi khác ở các kiểu thức lạ về hình khối, dáng vẻ sản phẩm, ở các đồ án trang trí tinh vi mà cân đối, lộng lẫy mà nổi rõ chủ đề chính, ở thủ pháp xử lý sáng-tối nhờ tận dụng đặc tính phản quang của chất liệu bạc. Ðặc trưng của sản phẩm Ðồng Xâm là sự điêu luyện tế nhị và hoàn hảo tới mức tối đa. Có thể nói rằng tài năng và tính cẩn trọng của nghệ nhân bạc Ðồng Xâm đã và đang có thể đáp ứng được mọi yêu cầu sử dụng đồ chạm bạc của những khách hàng khó tính và am tường nghệ thuật nhất.


Trải qua nhiều biến đổi nhưng ngày nay nghề vẫn được duy trì và ngày càng phát triển.


- Nếu như Châu Khê (Hải Hưng) sản xuất đồ trang sức bằng vàng là chính; Ðịnh Công (Hà Nội) chủ yếu làm nữ trang bằng vàng, thì Ðồng Xâm (Thái Bình) chuyên nghề chạm bạc.


 


 


Chùa Keo - ngôi cổ tự nổi tiếng


Chùa Keo thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Chùa là một trong những ngôi cổ tự nổi tiếng bậc nhất ở Việt Nam. Gác chuông chùa Keo là một công trình nghệ thuật bằng gỗ độc đáo.


Chùa Keo ban đầu có tên gọi là Nghiêm Quang được xây dựng năm 1067 tại làng Giao Thủy (tên Nôm là làng Keo). Sau này chùa được đổi tên thành Thần Quang Tự. Sau đó, do lũ lụt, chùa bị hư hại. Đến năm 1630, chùa được dựng lại với tên gọi chùa Keo. Chùa được dựng theo phong cách kiến trúc thời Lê, nhờ sự vận động của bà Lại Thị Ngọc, vợ Tuần Thọ Hầu Hoàng Nhân Dũng, và Đông Cung Vương phi Trịnh Thị Ngọc Thọ. Chùa được trùng tu nhiều lần vào các thế kỷ 17, 18 và năm 1941.


Chùa có quy mô kiến trúc rộng lớn trên một khu đất khoảng 58.000m². Hiện nay toàn bộ kiến trúc chùa còn lại 17 công trình gồm 128 gian xây dựng theo kiểu "Nội công ngoại quốc". Từ cột cờ bằng gỗ chò thẳng tắp cao 25m ở ngoài cùng, qua một sân lát đá, du khách sẽ đến tam quan ngoại, hồ sen, tam quan nội với bộ cánh cửa chạm rồng chầu (thế kỷ 16). Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Sau chùa Phật có đền thờ Thiền sư Không Lộ, người khai sơn ngôi chùa vào thời Lý.


Gác chuông chùa Keo là một kỳ công về nghệ thuật kiến trúc, gồm ba tầng cao tới 11,5m, bên trong treo 3 quả chuông lớn nhỏ. Gác chuông chùa Keo là một công trình nghệ thuật bằng gỗ độc đáo, tiêu biểu cho kiến trúc cổ Việt Nam thời hậu Lê. Được dựng trên một nền gạch xây vuông vắn, gác chuông cao 11,04m, có 3 tầng mái, kết cầu bằng những con sơn chồng lên nhau. Tầng một có treo một khánh đá dài 1,20m, tầng hai có quả chuông đồng cao 1,30m đường kính 1m đúc vào thời Lê Hy Tông năm 1686, tầng ba và tầng thượng treo chuông nhỏ cao 0,62m, đường kính 0,69m đúc năm 1796. Từ một góc nhìn thích hợp, gác chuông chùa Keo trông như đóa hoa sen mới nở, vươn lên những cây cau cao vút, đậm đà hương sắc đồng quê.


Chùa Keo còn gọi là chùa Phật vàng, là một bảo tàng tượng cổ và đồ tế khí cổ thời Lê gắn với 100 pho tượng như Tam Thân, A Di Đà, Quan Âm toạ sơn, Quan Âm Thị Kính, Hoa Nghiêm Tam Thánh, Hộ Pháp, Kim Cương… Đặc biệt hơn cả là tượng Không Lộ tạc bằng gỗ trầm. Ngoài ra, du khách có thể nhìn thấy những đồ thờ quý giá tương truyền là đồ dùng của Thiền sư Không Lộ như một bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát vàng mà người ta kể lại rằng chính do Không Lộ nhặt được thuở còn làm nghề đánh cá và giữ làm chén uống nước trong những năm tháng tu hành.


 


Về nguồn với khu di tích các vua Trần


Khu di tích các Vua Trần thuộc xã Tiến Đức và xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Đây là di tích lịch sử văn hóa di tích khảo cổ học cấp quốc gia. Nó chẳng những thu hút các nhà nghiên cứu sử học, các nhà văn hóa mà còn là một điểm du lịch có giá trị đặc biệt, là nơi liên quan đến cội nguồn dân tộc luôn luôn hấp dẫn du khách trong và ngoài nước về thăm.


Hưng Hà - Thái Bình là nơi gắn chặt với triều đại nhà Trần (1226 - 1400) - một vương triều cực thịnh với sự phát triển về mọi mặt từ văn hóa, chính trị, xã hội đến kinh tế, ngoại giao trong lịch sử Việt Nam. Các vua khai sáng nhà Trần đều được sinh ra tại đây, gia tộc nhà Trần dựa vào đây dấy nghiệp. Khi đã thành vương triều Trần, vùng đất này được chọn làm nơi xây dựng các đền thờ, lăng tẩm của Hoàng tộc nhà Trần.


 


 


Ví thế, nơi đây có di chỉ khảo cổ mộ các vua Trần (xã Tiến Đức); khu lăng mộ thái sư Trần Thủ Độ, đình Khuốc, đình Ngừ thờ thái sư, mộ và đền thờ Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung (xã Liên Hiệp); Tam đường - là nơi lưu giữ hài cốt của các tổ tiên triều Trần như: Thuỷ tổ Trần Kinh, thái tổ Trần Hấp, nguyên tổ Trần Lý, thái thượng hoàng Trần Thừa... Các hoàng đế nhà Trần như Trần Thánh Tông, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông cùng các hoàng hậu sau khi qua đời đều được quy về hợp táng tại các lăng mộ có tên Thọ lăng, Chiêu lăng, Dự lăng, Quy đức lăng...


Bên cạnh các lăng mộ, nhà Trần còn cho xây dựng nhiều cung điện tại đây như điện Tịnh Cương, điện Hưng Khánh, điện Thiên An, điện Diên Hiền.


Với những giá trị lịch sử, văn hóa mang trong mình, khu di tích các vua Trần đã được xếp hạng là di tích lịch sử, văn hóa quốc gia. Và đến với khu di tích, du khách sẽ được tìm hiểu thêm về nguồn cội, về một thời kỳ hào hùng, đáng tự hào của dân tộc Việt.



Hấp dẫn khu du lịch biển Đồng Châu


Biển Đồng Châu thuộc huyện Tiền Hải, cách thành phố Thái Bình 35km theo tỉnh lộ đi Kiến Xương - Tiền Hải. Đây là khu du lịch hấp dẫn với bầu không khí trong lành của biển, với bãi tắm luôn lộng gió hay bãi cát mịn, rặng phi lao xanh rì rào.


Diện tích toàn khu du lịch rộng hàng chục kilomet vuông, trung tâm của khu du lịch là bãi biển Đồng Châu dài 5km, nơi đây đã hình thành hệ thống các khách sạn, nhà nghỉ cao tầng phục vụ du khách đến với Đồng Châu tắm biển, nghỉ dưỡng. Nơi đây đã được quy hoạch để xây dựng một phố biển lung linh, không kém gì Hạ Long, Đồ Sơn.


Điều thú vị là từ bãi tắm Đồng Châu, du khách có thể đi tàu, xuồng gắn máy ra thăm và tắm biển ở Cồn Thủ, Cồn Vành. Cách đất liền 7km, Cồn Thủ và Cồn Vành nổi lên như hai ngọn sóng xanh giữa biển khơi.


Cồn Thủ có bãi cát trắng mịn, có rừng thông, rừng phi lao xanh ngắt, có bãi tắm nhỏ thơ mộng là địa điểm lý tưởng cho du khách đi tắm biển, tổ chức các cuộc picnic và nghỉ dưỡng bằng tầu thuyền với các trò vui chơi, giải trí trên biển như câu cá, lướt ván, bóng chuyền bãi biển...


Cồn Vành rộng 15km2, có khu bảo tồn rừng ngập mặn là điểm dừng chân của các loài chim quý hiếm như cò thìa, bồ nông, mòng biển... Hằng năm nơi đây đã thu hút rất nhiều du khách là các nhà nghiên cứu, khách du lịch tới thăm cồn đảo.


Đến với khu du lịch biển Đồng Châu, du khách còn được thăm quan đền Nhà Bà thờ vợ một vị vua đời Tống bên Trung Quốc đã có công giúp nhà Trần đánh quân Nguyên Mông và đây cũng là cơ sở hoạt động của xứ uỷ Bắc Kỳ trước cách mạng tháng Tám.


 


Các tour du lịch trong tỉnh xuất phát tại Thành phố Thái Bình:


1- Đi xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương: Thăm đền Đồng Xâm, nơi thờ Triệu Vũ Đế (Triệu Đà), làng nghề chạm bạc Đồng Xâm.


2- Xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư: Thăm DTLSVH Chùa Keo - công trình kiến trúc nghệ thuật bằng gỗ độc đáo tiêu biểu cho kiến trúc cổ Việt Nam thế kỷ XVII, gác chuông chùa Keo là biểu tượng vĩnh hằng cho văn hoá Thái Bình.


3- Xã Tiến Đức và xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà: Thăm Khu mộ cổ các Vua Trần - mảnh đất Thái Đường xưa - nơi phát tích, đất lăng mộ tôn miếu của một dòng họ, một triều đại hơn 700 năm về trước đã làm vẻ vang lịch sử phong kiến nước nhà.


4- xã Độc Lập, huyện Hưng Hà: Thăm Từ đường Lê Quý Đôn - nhà bác học lỗi lạc lớn nhất Việt Nam thế kỷ XVIII.


5- Cảng biển Diêm Điền, thăm đền Hét và cụm di tích đền Chòi. Ăn trưa, quý khách sẽ được thưởng thức những món ăn đặc sản biển, đặc biệt là đặc sản gỏi nhệch, gỏi sam được chế biến theo kinh nghiệm truyền thống, một nét rất riêng của ẩm thực Thái Bình.


6- Đi Tiền Hải đến với Khu du lịch biển Đồng Châu.


Tàu đưa quý khách ra thăm Cồn Vành, Cồn Thủ cách đất liền 7km với rừng thông, phi lao xanh ngát (nơi dừng chân và trú đông của một số loài chim nước di cư và một số loài chim quý hiếm đã được ghi vào sách đỏ) cùng với những bãi tắm nhỏ yên tĩnh, thơ mộng.


Thành phố Thái Bình là tỉnh lỵ tỉnh Thái Bình miền Bắc Việt Nam. Thành phố còn là trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, quốc phòng... của tỉnh. Nằm cách thủ đô Hà Nội 110km, đồng thời là đầu mối giao thông của tỉnh; thuận lợi giao lưu với các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Hồng qua quốc lộ 10.


Bảo tàng Thái Bình là một trong những Bảo tàng lớn nhất của cả nước. Nơi đây lưu giữ nhiều cổ vật quý hàng ngàn năm tuổi khai quật được ở mảnh đất Thái Bình như: Trống đồng, Gạch nung cổ, các loại đồ kim loại cổ, sứ cổ. Ngoài ra còn trưng bày các kỷ vật thời nay như xe tăng của Bùi Quang Thận, máy bay của Phạm Tuân.


 


 


thaibình.org.vn


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Từ Hồ Biểu Chánh đến Khái Hưng - Thụy Khuê 26.05.2017
Việt Nam vay lớn từ 3 chủ nợ chính - Tư liệu 25.05.2017
Trung Quốc mộng thực sự của ông Tập: Một Trung Quốc đế quốc? - Trương Phong (Feng Zhang) 25.05.2017
Trung Quốc và thách thức từ các “Con đường tơ lụa” - Xue Li (Lý Tuyết) 25.05.2017
Mổ xẻ siêu quyền lực của Tập Cận Bình - RODERICK Macfarquhar 25.05.2017
Nhân tố Dalai Lama trong quan hệ Trung – Ấn - Tư liệu 25.05.2017
Nam man tây nam liệt truyện - Trương Thái Du 24.05.2017
Lịch sử thực dân các bộ tộc Ai Lao của nhà Hán - Trương Thái Du 24.05.2017
Biểu tượng Rồng – Tiên trong sử Việt - Trương Thái Du 24.05.2017
“Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu”? - Trương Thái Du 24.05.2017
xem thêm »