tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21052041
Những bài báo
10.02.2011
Trần Hữu Tá
Về Cụ Vũ Đình Hòe

Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên từ trần


GS Vũ Đình Hòe, Bộ trưởng Bộ Giáo dục đầu tiên đã từ trần lúc 9h20 ngày 29/1/2011, tại Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM), hưởng thọ 100 tuổi.


Vị Bộ trưởng khuyến khích sinh viên cãi thầy


GS Vũ Đình Hoè là một trí thức lớn, hoạt động trong các lĩnh vực báo chí, giáo dục, pháp luật


Tốt nghiệp khoa Luật khóa 2 của Viện Đại học Đông Dương,  chàng trai Vũ Đình Hoè chọn nghề dạy học ở các trường tư thục nổi tiếng Thăng Long và Gia Long.


Tham gia nhóm trí thức cấp tiến Thanh Nghị, ông làm chủ nhiệm tạp chí  Thanh Nghị (chuyên về văn chương, chính trị và kinh tế), xuất bản từ năm 1941 đến 1945.


Ông cùng tham gia phân bộ Đảng Xã hội Pháp của Jaurès; là một trong các thành viên sáng lập của Đảng Dân chủ Việt Nam.


Khi Hội Tân Việt Nam thành lập năm 1945, ông giữ chức Tổng thư ký. Ông cũng làm Phó Hội trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ (thành lập năm 1938).


GS Vũ Đình Hoè là đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên, đại diện cho Đảng Dân chủ.


Ông làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục từ tháng 8/ 1945 đến tháng 3/1946 rồi làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong suốt 15 năm sau đó.


Bộ trưởng Giáo dục Vũ Đình Hoè là người cho mở cửa lại ĐH Đông Dương (nay là ĐHQG Hà Nội), giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Việt.


Ông cũng trở thành một trong những vị giáo sư đầu tiên của nền đại học Việt Nam mới, cùng Võ Nguyên Giáp giảng môn Kinh tế cho các lớp xã hội - chính trị đặc biệt.


Năm 1996, Vũ Đình Hòe được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất.


Chuyên gia nghiên cứu về tầng lớp trí thức Việt Nam đã dấn thân vào công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ trong thế kỷ XX, GS. Trịnh Văn Thảo ở ĐH Paris 7 gọi GS Vũ Đình Hoè cùng với những người như Dương Đức Hiền, Cù Huy Cận... là "những người thừa kế của lớp sĩ phu yêu nước", "những dòng họ đã kinh qua phong trào Cần vương, phong trào Duy Tân.


Từ trước năm 1945, ông đã viết nhiều bài về giáo dục bình dân và cải cách giáo dục, sau hợp biên thành 2 cuốn sách "Những phương pháp giáo dục ở các nước và vấn đề cải cách giáo dục" (1945) và "Một nền giáo dục bình dân" (1946).


Trong cuốn sách 100 năm ĐHQG Hà Nội khi giới thiệu những gương mặt "làm nên lịch sử" của ĐH này viết:


"Không ít ý tưởng nhà giáo dục học Vũ Đình Hoè đề xuất từ hơn nửa thế kỷ trước vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự, như: triết lý giáo dục vị nhân sinh, định hướng thực nghiệp, "lưu thông" (ngày nay nói: liên thông) giữa phổ thông trung học có chuyên ban và phổ thông chuyên nghiệp, lập hệ Cổ học Á Đông ở bậc phổ thông chuyên ban và tiếp nối lên cao đẳng (đại học) Hán Nôm như một chuyên ngành có ý nghĩa "then chốt quan trọng" trong công cuộc xây dựng văn hoá dân tộc".


Năm 1996, ông  được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất.


Với 100 tuổi đời, cho đến những ngày cuối cùng, GS Vũ Đình Hoè vẫn có những bài viết quan trọng về lĩnh vực giáo dục.


Nhà giáo Vũ Thế Khôi, con trai trưởng GS Vũ Đình Hoè cho biết, tuổi thực của GS là 100. Năm 2010, Bộ GD-ĐT cũng đã tổ chức lễ mừng 100 năm ngày sinh của GS. Còn theo lý lịch, GS Vũ Đình Hoè sinh năm 1913, nguyên quán xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.


Lễ viếng từ 8h ngày 10/2/2011 (tức ngày mùng 8 tháng Giêng năm Tân Mão) tại Nhà tang lễ thành phố, 25 Lê Quý Đôn, TPHCM. Lễ truy điệu và đưa tang hồi 11h ngày 11/2. An táng tại Nghĩa trang thành phố.


 


Lê Vĩnh Thọ


(Phó Tổng thư ký Hội Toán học Hà Nội)


 


Vị bộ trưởng giáo dục đầu tiên của nước ta


Ông sớm xác định một lý tưởng sống cao đẹp, mà những thanh niên ưu tú thuộc thế hệ ông đã hướng về, vươn tới: bằng vốn văn hóa hiện đại và nhiệt tình của tuổi trẻ, đẩy mạnh việc nâng cao dân trí, góp phần đưa đất nước thoát cảnh lầm than, nô lệ.


Năm Tân Mão này (2011), giáo sư Vũ Đình Hòe - một trí thức yêu nước nổi tiếng, vừa tròn 100 tuổi. Gia đình giáo sư nhiều năm sống ở phố Phù Đổng (nhà số 10) - một phố nhỏ hiền hòa, nằm giữa hai phố lớn nổi tiếng hơn (Phố Huế và Phố Lò Đúc). Gia đình bố mẹ tôi ở số nhà 23 cùng phố. Bố tôi mất năm 1984, thọ 94 tuổi, lúc sinh thời vốn là bằng hữu của cụ Vũ Bội Hoàng - chú của Giáo sư Vũ Đình Hòa, một nhà nho uyên bác, một vị quan (án sát) nổi tiếng liêm khiết.Vì thế, giáo sư Hòe thường gọi bố tôi là chú, xưng cháu rất lễ độ.


Tôi lại gắn bó rất thân thiết với hai con trai của giáo sư - anh Vũ Thế Khôi, nguyên trưởng khoa tiếng Nga, Đại học Ngoại Ngữ Hà Nội, và anh Vũ Tân Khiêm, giáo sư chuyên gia đầu ngành cơ học Việt Nam. Do vậy, tôi thưa với giáo sư Hòe là bác, và xưng cháu. Qua chuyện kể dài dòng như trên, tôi muốn nói: tôi hiểu giáo sư khá kỹ và theo với thời gian, ngày càng kính trọng nhân cách, đức độ, tài năng của ông.


Tôi tâm đắc trước hết về ý chí, quyết tâm học tập của ông. Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, rất nghèo. Vượt qua khó khăn, do được sự chăm lo tận tình của bà mẹ đảm đang, tần tảo, mặt khác ông cố gắng tự bươn chải để không bị đứt đoạn trên con đường học vấn. Để học xong trung học, ông nhận làm gia sư "gõ đầu trẻ" tại tư gia. Để có điều kiện theo đuổi Đại học Luật, khóa đầu tiên ở Đại học Đông Dương (1932 - 1935), ông xin dạy ở các trường tư - từ trường tiểu học Hoa Kiều đến các trường trung học Thăng Long, Gia Long nổi tiếng. Ông kiếm tiền không phải chỉ để lo cho bản thân, mà còn góp phần nuôi bố mẹ, nuôi em, vợ lẽ của bố, đóng họ trả nợ và... cưới vợ. Suốt những năm đi học, kể từ trường Tiểu học Trí Tri đến Đại học Luật khoa, ông nổi tiếng học giỏi, thi đỗ luôn thuộc loại "tối ưu".


Cái "chí" của ông cũng rất đáng trân trọng. Ông quyết tâm học giỏi, đỗ đạt cao không phải để "vinh thân phì gia", mưu giàu sang phú quý cho riêng mình. Ông sớm xác định một lý tưởng sống cao đẹp, mà những thanh niên ưu tú thuộc thế hệ ông đã hướng về, vươn tới: bằng vốn văn hóa hiện đại và nhiệt tình của tuổi trẻ, đẩy mạnh việc nâng cao dân trí, góp phần đưa đất nước thoát cảnh lầm than, nô lệ.


Với bằng cử nhân luật khoa, và rất có uy tín trong giới trí thức lúc ấy (những năm 1935 - 1945), thực dân sẵn sàng đưa ông vào hàng ngũ công chức, quan lại cao cấp, nhưng ông đã tiếp tục đi con đường mà mình đã chọn. Để kiếm sống nuôi vợ con, Vũ Đình Hòe tiếp tục dạy học ở hai trường trung học Gia Long và Thăng Long. Cùng các giáo sư đồng nghiệp như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Minh Giám, Đặng Thai Mai, Nguyễn Lương Ngọc... ông đã góp phần đào tạo lớp lớp thanh niên từ hai mái trường này đến với chiến khu Việt Bắc. Trong những lần họp mặt cựu học sinh của hai trường này, không ít học trò cũ đã xúc động nhớ lại những giờ lên lớp hết sức cuốn hút cả về kiến thức văn chương và về tình cảm yêu nước nồng nàn sâu lắng của ông.


Ngay từ lúc ngồi trên giảng đường đại học, ông đã dành một lượng thời gian đáng kể cho các hoạt động xã hội, cụ thể đã tham gia vào các hoạt động của Tổng hội sinh viên. Lúc dạy học ở hai trường Gia Long và Thăng Long, ông là đồng chủ tịch Hội Ánh sáng, cùng với nhà văn Nhất Linh ( Nguyễn Trường Tam) và Tôn Thất Bình; là thành viên nhiệt tình, sau đó là phó chủ tịch Hội truyền bá chữ quốc ngữ, mà cụ Tố - một già một trẻ đi các địa phương kiên nhẫn xây dựng các chi hội, chỉ mong sao dân mình ngày càng nhiều người thoát nạn mù chữ. Ông gia nhập đảng Xã hội Pháp (S.F.L.O), cùng hoạt động với nhiều nhân vật nổi tiếng khác như Phan Thanh, Hoàng Minh Giám, Phan Anh.


Tháng 5/1941, ông cùng một nhóm bạn bè tâm huyết (hai tiến sỹ luật khoa Vũ Văn Hiền, Phan Anh, nhà doanh nghiệp Hoàng Thúc Tấn, nhà báo Lê Huy Vân), may mắn mua được giấy phép ra báo của nhà nho Sở Bảo Doãn Kế Thiện. Tờ Thanh Nghị ra đời, lúc đầu là nguyệt san, một thời gian ngắn sau tiến lên bán nguyệt san, cuối cùng đổi sang tuần báo. Kèm theo đó, các ông cho ra đời tờ Thanh Nghị trẻ em, chấp nhận lỗ to về tài chính nhưng lãi lớn về tinh thần, và đã thiết thực đem lại cho thế hệ thiếu niên một món ăn lành mạnh về văn hóa, đều đặn 10 ngày một số.


Đã có thời gian khá dài tờ báo nổi tiếng này bị đánh giá nặng nề là "không nhận rõ được thời bệnh của văn hóa Việt", "chưa vượt được lập trường cải lương tư sản", "rơi vào cạm bẫy cách mạng quốc gia của Pestain - Decoux, có ảo tưởng về thứ độc lập giả hiệu trong tay Nhật" .v, v... Giờ đây bình tĩnh nhìn lại, nhận định chắc chắn phải khác đi, ông chủ nhiệm báo Vũ Đình Hòe không phải đã ngẫu nhiên tập hợp được một lực lượng trí thứ của cả thế hệ cao niên (như Nguyễn Văn Tố, Hoàng Đạo Thúy, Đặng Thai Mai...) và tráng niên như ( Xuân Diệu, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Tuân, Nghiêm Xuân Yêm, Vũ Văn Cẩn, Ngụy Như Kontum, Tô Ngọc Vân, Đinh Gia Trinh, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Đức Dục...) và hàng trăm cộng tác viên khác - những người không lâu sau đó đều hòa nhập vào con đường lớn, hướng tới ngọn cờ đại nghĩa, trở thành những nhân tố nòng cốt trong nhiều ngành quan trọng của chính quyền cách mạng.


Về tôn chỉ mục đích, có thể thấy sự chuyển biến hết sức tích cực của báo. Sau 8 tháng đầu "hiền khô", chuyên về "nghị luận - văn chương - khảo cứu", từ số tết năm Nhâm Ngọ (1942), người đọc chứng kiến một khuôn mặt báo mới, dồi dào sức sống, vững vàng và đúng đắn về quan điểm tư tưởng. Lần đầu tiên báo Thanh Nghị có mục xã luận, và bài xã luận đầu tiên ấy mang tiêu đề "Tết Nhâm Ngọ với thanh niên". Tiêu đề thì hiền lành, nhưng nội dung lại mạnh mẽ. Bài báo kêu gọi thanh niên " MẠNH - ĐỒNG TÂM - ĐỂ PHỤNG SỰ" (Nguyên văn chữ viết hoa).


Phụng sự ai? Phụng sự cái gì? Bài báo diễn giải: " Phụng sự một ý tưởng chung, một ước mơ chung, một hồn chung: HỒN ĐOÀN THỂ" không thể đòi hỏi trong hoàn cảnh cả Pháp và Nhật đang đè đầu cưỡi cổ dân ta, ông nhủ nhiệm Vũ Đình Hòe nói rõ ràng, toạc móng heo" ra được.


Đây là lúc báo Thanh Nghị đăng những bài thơ như Triều Nhạc  của Huy Cận


Hồn ta hỡi, ta từ trái đất


Dây buồn thương buộc uất tim đau


Đêm dài nhìn vói canh thâu


Vui chung vũ trụ, nguôi sầu nhân gian


Những câu thơ ấy, ý thơ kín đáo như muốn người lắng lòng mình để nghĩ về HỒN NƯỚC.


Bước ngoặt lịch sử của báo diễn ra trong tháng 1/1945, số báo Tết Ất Dậu, 250 trang, dày gấp 5 lần bình thường, không có thơ, không có truyện, 23 bài viết phục vụ một chủ đề như báo đã quảng cáo "Vài vấn đề Đông Dương", phân ra 6 lĩnh vực: chính trị (chẳng hạn bài "Địa vị và tương lai của nước ta" của Vũ Văn Hiền); kinh tế (như bài "Vấn đề chấn hưng nông nghiệp ở xứ ta" của Tảo Hoài), xã hội (tiêu biểu cho 6 bài viết của Dương Đức Hiền: Mối liên quan giữa thanh niên trí thức và dân quê), giáo dục ("Một nền học bình dân" của Nguyễn Văn Tố; "Việc xây dựng một nền giáo dục Việt Nam" của VH - tên viết tắt của ông chủ nhiệm báo Vũ Đình Hòe) và văn hóa ("Địa vị văn hóa Trung Quốc trong văn hóa Việt Nam" của Đặng Thai Mai, "Địa vị văn hóa Âu Tây trong văn hóa Việt Nam" của Đinh Gia Trinh). Toàn những vẫn đề cốt yếu của văn hóa, rộng ra, của vận mệnh đất nước.


Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, gông xiềng nô lệ mà dân tộc ta phải chịu đựng đằng đẵng 87 năm đã bị bẻ gẫy, trước ngày công bố Tuyên ngôn Độc Lập ở quảng trường Ba Đình (2/9/1945), giáo sư Vũ Đình Hòe được mời tham gia chính phủ và giữ chức Bộ trưởng giáo dục. Chỉ trong 6 tháng ở cương vị này, ông đã làm được nhiều việc quan trọng, đáng chú ý nhất là 3 việc được Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn toàn tán thành, ủng hộ, quyết định cho làm ngay:


1. Quyết tâm thanh toán nạn mù chữ trong vòng một năm - một kế hoạch đầy tham vọng nhưng hết sức cần thiết đúng với tinh thần Bác Hồ sắp xếp thứ tự đối tượng cần chống: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.


2. Thực hiện việc dạy học ở tất cả các cấp kể cả đại học bằng tiếng Việt.


3. Nhanh chóng thực hiện kế hoạch cải cách giáo dục "thay thế hẳn nền giáo dục nhồi sọ, phù phiếm trước đây của thực dân Pháp bằng nền giáo dục của Chính phủ nhân dân cách mạng theo phương châm: Dân chủ, Dân tộc, Khoa học (Hồi ký Vũ Đình Hòe).


Bộ mặt của ngành giáo dục cách mạng non trẻ vì thế, ngay từ những ngày đầu độc lập này đã hoàn toàn đổi mới, dồi dào sức sống, tác động tích cực đến toàn thể nhân dân.


Chỉ tiếc, sau 6 tháng tại vị, ông được điều sang một lĩnh vực khác, cũng "nóng" lúc ấy - lĩnh vực tư pháp, vẫn với cương vị Bộ trưởng. Trong hơn mười năm phụ trách phần việc này, ông cũng đã có những đóng góp xuất sắc.


Gợi lại, rất sơ lược, những trang đời rất đẹp của giáo sư Vũ Đình Hòe, tôi ngờ là thế hệ trẻ hôm nay có thể học hỏi nhiều điều bổ ích. Với riêng tôi, bài viết này là lời chúc thọ người thầy, nhà trí thức lớn của đất nước ta bước vào tuổi 100 - tuổi đại đại thọ, hiếm và quí.


GS Văn học Trần Hữu Tá (nguyên chủ nhiệm khoa Văn, ĐHSP TP.HCM)


(Bài viết do ông Lê Vĩnh Thọ và Đỗ Văn Dụng cung cấp)


 


Vị Bộ trưởng khuyến khích sinh viên cãi thầy


 - "Hãy tham gia vào bài giảng bằng các câu hỏi của mình, thậm chí hãy "cãi lại" (tôi để trong ngoặc kép) thầy cô, đương nhiên một cách lễ độ và có lý lẽ - GS Vũ Đình Hòe nói với sinh viên như vậy tại buổi dự lễ kỷ niệm 60 năm ngày khai giảng ĐHQG Nội.


Để tưởng nhớ Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên vừa từ trần ở tuổi 100 (ngày 29/1), VietNamNet giới thiệu bài phát biểu của ông, về "tinh thần đại học" với những nội dung cho đến nay vẫn mang nhiều giá trị thời sự.


Mở ĐH có "lạc điệu" không?


Tôi khâm phục cố Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên khi từ năm 1969, ông đề ra vấn đề nghiên cứu vai trò của các ông đồ Nho trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước của dân tộc ta.


Hơn ba chục năm đã trôi qua, đến nay vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ. Nhưng một ông bạn thanh khí khác của tôi, nay cũng đã thành người thiên cổ, Nhà giáo Nhân dân Vũ Đình Liên về cuối đời đã tổng kết những trăn trở của mình về mối quan hệ giữa Cách mạng và Trí thức bằng mấy vần thơ:


Cách mạng là Nhân nghĩa


Ông Đồ là Thi thư


Bút tuôn dòng Nhân ái


Từ ngón tay Ông Đồ


Sau nhiều năm mầy mò tìm hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh, tôi mạo muội khẳng định: Hồ Chủ tịch hơn ai hết hiểu rõ chân lý trên đây. Liên minh Công - Nông - Trí làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc - động lực vô địch của cách mạng Việt Nam - mới đích thực là Tư tưởng Hồ Chí Minh.


Mà trí thức, xưa thì từ cửa các trường Đại tập, nay từ cửa các trường ĐH mà ra. Cho nên chỉ 20 ngày sau Tuyên ngôn Độc lập, Hội đồng Chính phủ trong phiên họp dưới sự chủ toạ của Hồ Chủ tịch ngày 22/9/1945, đã "quyết nghị đến 15/11/1945, trường ĐH sẽ mở cửa".


Nếu rèn được cho họ một nhân cách, một bản lĩnh vững vàng thì dẫu có thất nghiệp nhất thời, họ vẫn tìm ra cách ống có ích cho mình và cho xã hội.


Việc làm ấy đáp ứng rất trúng ý nguyện của SV, thanh niên. Họ đến dự khai giảng rất đông. Và ĐH Quốc gia Việt Nam không chỉ khai giảng lại các trường, khoa sẵn có, mà còn mở khoa mới.


Đó là các lớp xã hội - chính trị đặc biệt, với những giảng viên lỗi lạc như GS Võ Nguyên Giáp, GS Phạm Văn Đồng, GS Trần Văn Giàu, GS Hồ Hữu Tường v.v..., với các môn triết học, sử học cũng như các môn chuyên nghiệp về kinh tế, tài chính, về luật học cùng hai môn ngoại ngữ Anh văn và Nga văn.


Tôi trộm nghĩ lớp xã hội - chính trị ấy mang đầy đủ tinh thần ĐH, hơn nữa bắt đầu xây đắp nền tảng triết lý giáo dục cho toàn bộ hệ thống giáo dục của nước Việt Nam mới trên cơ sở hoà hợp văn minh Đông và Tây. Văn minh Đông phương là châm ngôn từ ngàn đời nay lại toả sáng:


Ngọc bất trác bất thành khí


 


Nhân bất học bất tri lý


Học phải đến nơi đến chốn thì mới tri được Lý. Lý đây chính là Đạo lý, là Đạo "ở đời", Đạo "làm Người".


Đạo làm Người tới tuyệt đỉnh là Đại Nghĩa và Chí Nhân. Đại Nghĩa dân tộc là "không có gì quý hơn Độc lập Tự do".


Chí Nhân là "thương người như thể thương thân", "tứ hải giai huynh đệ". Rồi từ "nhiễu điều phủ lấy giá gương", "bầu ơi thương lấy bí cùng" ta sẽ góp sức làm nên "Thế giới đại đồng".


Nếu rèn được cho họ một nhân cách, một bản lĩnh vững vàng thì dẫu có thất nghiệp nhất thời, họ vẫn tìm ra cách sống có ích cho mình và cho xã hội.


Văn minh Tây phương là các khoa học chuyên môn, kỹ thuật, rất cần cho cuộc sống thời nay. Nhưng cái nền vẫn luôn luôn phải là tinh thần đại học xưa (tức Đại tập), không thì thế giới đại loạn. Tôi nhấn mạnh lại: Tinh thần đại học.


Những điều tôi vừa trình bày trên đây, đó là cái bất biến của nền giáo dục mới, vì mục đích nhân sinh và xây dựng trên các nguyên tắc dân tộc, khoa học, đại chúng.


Còn hệ thống và phương thức tổ chức đào tạo, nội dung chương trình, phương pháp dạy và học, kế hoạch thực hiện thì có thể phải thay đổi, theo các điều kiện khách quan và chủ quan của từng địa điểm và từng thời gian hoạt động.


Nay, Đảng lãnh đạo đã đề xuất và đang thực thi đường lối Đổi mới, mở cửa và hội nhập với khu vực và thế giới; một nền kinh tế thị trường năng động và luôn biến động đang hình thành mà hệ thống giáo dục không thay đổi, tiếp tục chú trọng một mớ kiến thức kinh điển và kinh viện, thì SV ra trường bị thất nghiệp cả loạt là điều khó tránh khỏi.


Tuy nhiên có điều an tâm là nếu rèn được cho họ một nhân cách, một bản lĩnh vững vàng thì dẫu có thất nghiệp nhất thời, họ vẫn tìm ra cách sống có ích cho mình và cho xã hội.


Giật bằng để leo cao: viện sĩ cũng chỉ là kẻ cơ hội


Nếu giật bằng cao chỉ cốt để leo cao cho dễ dàng mưu lợi riêng thì dẫu có danh viện sĩ cũng chỉ là kẻ cơ hội có mảnh văn bằng, chứ quyết không phải là trí thức.


Các em là ngày hôm nay của nền ĐH VN, ngày mai của kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật nước nhà. Vậy các em phải tập (theo tinh thần Đại tập nói trên) và học như thế nào?


 


SV Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQG Hà Nội) trong lễ tốt nghiệp. Ảnh: Lê Anh Dũng


Về tập, tức về rèn luyện, các em hãy cố gắng: "Sống, học tập và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại".


Vấn đề là hiểu và làm như thế nào.


 Theo thiển ý của tôi thì điều quan trọng nhất không phải là thuyết giáo Tư tưởng Hồ Chí Minh mà là rèn tập cho mình một nhân cách thanh niên trí thức của thời đại Hồ Chí Minh.


Không phải cứ học nhiều, có nhiều bằng cao thì là trí thức. Nếu giật bằng cao chỉ cốt để leo cao cho dễ dàng mưu lợi riêng thì dẫu có danh viện sĩ cũng chỉ là kẻ cơ hội có mảnh văn bằng, chứ quyết không phải là trí thức.


"Nếu giật bằng cao chỉ cốt để leo cao cho dễ dàng mưu lợi riêng thì dẫu có danh viện sĩ cũng chỉ là kẻ cơ hội có mảnh văn bằng, chứ quyết không phải là trí thức. Người trí thức trước hết phải có nhân cách"


Người trí thức trước hết phải có nhân cách. Tôi được biết, các em đang có các phong trào thanh niên tình nguyện về phục vụ đồng bào các vùng sâu vùng xa, thanh niên tự rèn tập sáng tạo khoa học, tuổi trẻ kinh doanh, lập nghiệp.


Các em đang nối tiếp truyền thống ý thức trách nhiệm trước dân của các thế hệ trí thức Việt Nam: các nhà Nho từng hô hào nhau "dũng thoái" ("dũng cảm thoái lui" từ bỏ quan trường cùng bổng lộc triều đình) lui về "vi hương quân tử, vi xã tiên sinh" (làm người quân tử trong làng, làm thầy đồ trong xã).


Tiếp bước ông cha, lớp trí thức "Tây học" chúng tôi từng kêu gọi nhau: "Anh em thanh niên! Đã đến lúc chúng ta về làm việc làng", "lập tiểu doanh điền".


Tất nhiên, do điều kiện thực tế dưới chế độ phong kiến và chế độ thuộc địa, lớp ông cha, cũng như lớp chúng tôi, làm được ít lắm.


Sở dĩ tôi nhắc lại ở đây thì chỉ là để chứng minh ý thức thường trực về trách nhiệm trước đồng bào như một đặc trưng trong nhân cách của trí thức Việt Nam mà các em đang có điều kiện phát huy đến cao độ. Vậy hãy đẩy mạnh hơn nữa các phong trào này! Đây là phương thức tốt nhất để rèn luyện nhân cách.


Cung kính tiếp thu điều thầy cô dạy chưa phải là học ĐH


Tiếng Việt ta nói "học hỏi". Vậy chưa hỏi là chưa học, đặc biệt ở ĐH. Hãy tham gia vào bài giảng bằng các câu hỏi của mình, thậm chí - hãy "cãi lại" (tôi để trong ngoặc kép) thầy cô, đương nhiên một cách lễ độ và có lý lẽ.


Đó là nói về "tập", còn về "học" thì sao?


Các em là SV ĐH, không phải học sinh phổ thông "cấp 4". Chỉ cung kính tiếp thu những điều thầy cô dạy bảo và chăm chăm trả lời cho phù hợp để được điểm cao thì chưa phải là học ĐH.


Tiếng Việt ta nói "học hỏi". Vậy chưa hỏi là chưa học, đặc biệt ở ĐH.


Hãy tìm đến với thư viện, với sách vở, bây giờ thì cả với máy vi tính nữa, và muốn chúng phát huy tác dụng tối đa thì phải thông thạo, ít nhất ở mức độ đọc hiểu, 1 - 2 ngoại ngữ.


Hãy tham gia vào bài giảng bằng các câu hỏi của mình, thậm chí - hãy "cãi lại" (tôi để trong ngoặc kép) thầy cô, đương nhiên một cách lễ độ và có lý lẽ. Tôi đã trải qua những tình huống đó trong đời dạy học của mình, lại là dạy ở các lớp trường tư, nhiều học sinh cùng tuổi với thầy nên dám "ngang bướng" lắm (ngang bướng hợp lý).


Hãy tìm đến với thư viện, với sách vở, bây giờ thì cả với máy vi tính nữa, và muốn chúng phát huy tác dụng tối đa thì phải thông thạo, ít nhất ở mức độ đọc hiểu, 1 - 2 ngoại ngữ.


Cuối cùng là phải tự định hướng nghề nghiệp; mà muốn vậy hãy cố gắng chủ động tiếp cận môi trường nghề nghiệp tương lai của mình; ngay khi còn ngồi trên ghế trường ĐH, hãy tận dụng mọi cơ hội để học việc, kể cả trong trường hợp không được trả đồng nào.


Học việc cơ mà, không phải trả học phí là may rồi. Chỉ môi trường nghề nghiệp mới cho các em biết mình còn dốt chỗ nào, thiếu những kiến thức và kỹ năng gì để kịp thời tự bổ khuyết.


 


GS Vũ Đình Hoè (Hà Nội, ngày 15/11/2005)


 


 


Chuyện chưa kể về chú tôi, cụ Vũ Đình Hòe


- “Sẩy cha còn chú”, dân ta nói vậy. Cha tôi bị bệnh mất sớm, mẹ kẹt lại trong Huế khi cuộc Kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Tôi cùng em Vân tôi được chú Hòe nuôi, chăm lo cho chúng tôi như con đẻ. Lúc ấy tôi đã 15 tuổi nên hiểu biết khá nhiều về chú.


15 năm bị đối xử bất công


Tốt nghiệp Cử nhân Luật khoa Đại học Đông Dương thời Pháp thuộc, con đường làm quan rộng mở thênh thang, nhưng chú tôi không ra làm quan với chính quyền của “mẫu quốc”. Ông chọn con đường dạy học tư tại các trường Thăng Long và Gia Long ở Hà Nội.


 


 


Nhờ truyền thống sư phạm của Tổ tiên, ông dạy giỏi nên có cuộc sống dư dật, đủ nuôi cha mẹ già và vợ con. Ngoài việc dạy học, ông dành hết thời gian còn lại để thể hiện cái chí nam nhi: tích cực tham gia những hoạt động xã hội tự do như làm Chủ nhiệm các báo Thanh Nghị và Thanh Nghị Trẻ em, làm Phó chủ tịch Hội truyền bá Quốc ngữ, làm Đồng chủ tịch hội “Ánh sáng” với ông Nguyễn Tường Tam, chuyên vận động dựng nhà tranh tre sáng sủa, hợp vệ sinh cho dân nghèo, tham gia Tổng hội sinh viên, cùng họ đi về các vùng quê tuyên truyền vệ sinh, phổ biến kiến thức kỹ thuật nông nghiệp thường thức...


Chắc hẳn những hoạt động yêu nước tiến bộ của chú đã được Bác Hồ biết đến nên mới tin tưởng trao cho chú những trọng trách trong Chính phủ cách mạng tháng 8 - 1945. Về quãng đời tham chính này của ông, từ sau đại hội Đổi mới 1986 của Đảng CSVN, báo đài đã viết nhiều, nói nhiều nên tôi không kể nữa.


Chỉ xin nói thêm rằng, là đứa con gái lớn đã biết nghĩ và phải quán xuyến việc nhà, chứ không còn vô tư hồn nhiên như bầy em, tôi đã để ý thấy không ít buổi từ cơ quan Bộ Tư pháp trở về, chú tôi ngồi tư lự, ăn không ngon miệng, đêm trằn trọc trở mình.


Và về sau còn chịu nhiều đối xử bất công nữa: suốt mười lăm năm từ 1960 đến 1975 “đứng” ở bậc lương chuyên viên 5, nhưng ông vẫn âm thầm làm việc với tinh thần cống hiến, tích cực nghiên cứu và biên soạn nhiều công trình có giá trị về luật kinh tế và luật dân sự, được giải thưởng của ngành, được bầu là Chiến sĩ thi đua của Viện Khoa học xã hội.


Năm 1975 chú về hưu không một huân huy chương, mặc dù tham gia trọn vẹn hai cuộc Kháng chiến. Đúng như GS Triết Đức đã viết trong bài thơ mừng Cụ thượng thọ 80:


Chân thành kính lão trượng niên cao,


Trải từng vinh - ngọt - đắng - gian lao,


Thủy chung như nhất: tâm Thanh Nghị,


Dân chủ, Dân quyền: Bắc đẩu sao.


Tính cách và tác phong của chú đã ảnh hưởng lớn đến chúng tôi. Đối với con cháu, ông hầu như không thuyết giáo, chỉ làm gương và tin cậy giao việc. Gần đây, đọc Hồi ký Vũ Đình Hòe, tôi mới biết đó là quan điểm của chú tôi về giáo dục gia đình: ông viết từ năm 1941 trên báo Thanh Nghị của mình rằng trong gia đình không thể dùng cách thuyết giáo, chỉ có thể giáo dục bằng gương mẫu của chính người lớn.


Chú tôi không chỉ viết như vậy mà chính ông đã làm như vậy. Ở văn phòng Bộ về, ông xoay trần, quần đùi, vác cuốc ra vườn tăng gia và gọi các con ra cùng làm, đứa lớn cuốc đất, đứa bé nhổ cỏ, tưới cây, bắt sâu. Tôi là chị lớn được giao trách nhiệm hướng dẫn các em gái hái chè, tập làm nội trợ.


Sau này, khi đã gả chồng cho tôi và em Vân tôi, thì trách nhiệm dẫn dắt các em chú trao cho người con cả, chính nhờ vậy trong gia đình 8 người con mà anh em hòa thuận, thương yêu, nhường nhịn nhau. Tất cả đều đã thành đạt: 2 giáo sư - tiến sĩ, 1 thạc sĩ, 5 người còn lại đều tốt nghiệp đại học.


Trong 4 người nối nghiệp sư phạm của chú có 2 được phong là Nhà giáo ưu tú. Em thứ ba GS.TS Tấn Khiêm được báo chí gọi là “Vua cần trục”, em út Băng Tâm có 2 bằng thạc sĩ biểu diễn và sư phạm piano, 1 bằng tiến sĩ kinh tế lượng, hiện đang giảng dạy tại Đại học Hawai (Hoa Kỳ).


Nếp sống giản dị


Chú tôi có nếp sống hết sức giản dị, tiết kiệm ngay cả những năm được Bác Hồ tín nhiệm trao cho các chức vụ lớn. Có một kỷ niệm tôi không bao giờ quên. Lần ấy đến nhà ăn giỗ cha tôi, khi ra về, chú tôi bảo: “Cháu xuống cầu thang, tìm cho chú đôi dép, đôi nào rách, cũ kỹ là dép của chú”.


Trời ơi! Dép đã mòn vẹt đế, quai đã sờn hết, tôi liền chạy đi mua đôi Bitis biếu thì cụ bảo: “Đôi cũ còn đi được mà, cháu mua đôi này trông trẻ trung và “xịn” quá, của thanh niên, chú không đi được”. Thực ra kiểu dép tôi mua người già ngày nay đều dùng, tôi phải gói giấy báo, đưa cho em tôi cầm về, mãi về sau, có lẽ đôi cũ đã rách nát quá, mới thấy cụ đem ra dùng.


Năm 2008, từ TP Hồ Chí Minh ra Hà Nội có việc, cụ đến gia đình thắp hương cho cha chúng tôi. Ban thờ tôi để tận trên gác 4, cầu thang nhỏ và dốc, chân Cụ thì đã yếu rồi, đi lại chậm chạp, khó khăn, tôi thương quá nên cố sức can rằng: thôi, chú cứ để cháu với em Khôi lên thắp hương thay mặt chú là được rồi.


Cụ đáp: “Không, 4 chứ 5 - 7 tầng tôi cũng phải trèo lên tận nơi. Ông ấy không chỉ là anh tôi, ông ấy còn như bố tôi nữa: mới 17 tuổi, học rất giỏi ở trường Bưởi mà rẽ ngang đi học nghề để nuôi tôi ăn học”. Tất cả chúng tôi đều rưng rưng...


Cuộc sống vợ chồng của chú thím tôi luôn là tấm gương sáng cho chúng tôi và cho cả con cháu chúng tôi nữa noi theo. Chú thím đính hôn ba năm mới cưới. Thím tôi là một tiểu thư khuê các, con gái út cưng chiều của một ông quan Tuần phủ, vậy mà trong Kháng chiến chống Pháp gian khổ, đặc biệt 3 năm đầu chú tôi làm việc Chính phủ không lương, một mình thím đảm đang giang sơn nhà chồng, cũng lội ruộng cấy lúa, đứng lò sao chè, nuôi dê vắt sữa, cuốc vườn tăng gia rau đậu... không từ việc gì để nuôi gia đình 14 miệng ăn, kể cả 3 cha con chúng tôi, cho chồng yên tâm lo việc nước.


Tôi nghĩ: nếu như bài thơ của GS Triết Đức tổng kết cả cuộc đời phấn đấu gian truân vì dân vì nước của chú tôi, thì câu đối em Khôi sáng tác và cho thêu thành bức trướng gửi vào Thủ Đức để thay mặt con cháu mừng Lễ cưới kim cương của hai cụ, đã thể hiện đầy đủ một mối lương duyên trọn nghĩa vẹn tình:


Gái sắc, trai tài - vàng đá sắt son tình một thủa,


Chồng đương, vợ đảm - kim cương chói lọi nghĩa trăm năm.


 


Vũ Thị Tuyết (Cựu học sinh trường Đồng Khánh – Huế)


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhân Ngày Nhà Giáo VN 20/11/2017: Những điều ít biết về Thầy tôi – Nhà thơ Thúc Hà - Nguyễn Văn Thanh 18.11.2017
Thuyết trình khoa học với chủ đề: Tính hiện đại của tiểu thuyết M. Proust - Tư liệu 13.11.2017
Tàu sân bay Mỹ sẽ đến thăm cảng Việt Nam - Tư liệu 12.11.2017
Hoàng Như Mai văn tập - Đoàn Lê Giang 12.11.2017
hai bài của GS Trần Hữu Tá viết về GS, NGND Hoàng Như Mai - Trần Hữu Tá 12.11.2017
DONALD TRUMP phát biểu tại APEC, Đà Nẵng, ngày 10-11-2017 - DONALD John Trump 11.11.2017
Kiểm dịch "Luận chiến văn chương" (quyển 4) của Chu Giang, Nguyễn Văn Lưu - Kiều Mai Sơn 07.11.2017
Cụ Triệu Thái - cùng thời Nguyễn Trãi - Danh nhân đất Việt - Vũ Truyết 06.11.2017
Cát Bà & huyện Cát Hải, Hải Phòng - Nhiều tác giả 05.11.2017
Tỷ phú cá vược Trương Văn Trị - Tư liệu sưu tầm 02.11.2017
xem thêm »