tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20555429
07.02.2011
Tư liệu
Họ Lê

Phiên âm:


Khải Định nhị niên Đinh Tỵ nhuận nhị nguyệt ... nhật, Phú Hảo? xã Lê tộc đồng tộc đẳng vi biên tập Gia lễ tự sự, cung chiếu ngã tộc Từ đường tế tự chư tiết. Tòng tiền các hữu san định, đệ hữu thành điển khả tôn, vị hữu thành biên khả thủ. Kiêm chi thời dị thế thù diệc nan nhất nhất giao trụ. Vi thử ngưỡng thuật tiền quy tùy nghi châm chước vụ sử lễ quy tỉnh tiện tức niên niên diệc dị tuân tuần. Viên tập thành biên phụng vi Gia lễ. Nhược kỳ thời tiết nghi văn nhất y điển lệ tắc tại ngã hậu nhân chi hữu dữ giả. Tư hữu các khoản la liệt vu hậu [...].


- Đệ nhất khoản: [...] tứ bàng ước nhất sào linh chuyên thực lang trà các hạng. Hựu hữu đại môn tiền trì nhất khẩu ước nhị sào linh. Tư cẩn tuân giao Trưởng chi cửu thế tôn Tạc quản nhận bồi thực cập phóng ngư sinh lợi dĩ vi chung niên Từ đường hương đăng phù trà chi phí.


- Đệ nhị khoản: Đệ niên Nguyên đán tiết, bản tộc nguyên hữu đoạn mãi thổ viên nhị sào tại chính tẩm hậu. Tòng tiền nguyên giao bát thế tôn Hiểu quản nhận canh, trưng đồng niên triết nạp thanh tiền thập quán dĩ bị bản tộc công chi. Tư cẩn tuân giao cửu thế tôn Tạc nguyên nhận dĩ vi đệ niên Nguyên đán tam nhật nội tế bàn phù tửu chi nghi.


- Đệ tam khoản: Đệ niên cung trị liệt tổ kỵ nhật, tòng tiền lệ quân các chi tuân biện. Trung gian kinh thừa mại điền điền chuyên giao Trưởng chi canh cung ty hữu chuyên trách. Tư cẩn tuân y biên kê bằng chiếu.


+ Nhất đệ niên thập nhị nguyệt sơ thất nhật cung trị Dưỡng tổ khảo kỵ nhật, tuân ư Đông tiết tế tham hành cung kỵ lễ tường tại đệ tứ khoản.


+ Nhất đệ niên tam nguyệt thập tam nhật cung trị Thủy tổ khảo kỵ nhật, tuân ư Xuân tế tham hành cung kỵ lễ tường tại đệ tứ khoản.


+ Nhất đệ niên lục nguyệt nhị thập tứ nhật cung trị Thủy tổ tỷ kỵ nhật.


Bản tộc nguyên hữu? điền nhất sở tại Dộc Ngoại xứ tam sào. Tư cẩn tuân giao Trưởng chi thập thế tôn Phúc, thập nhất thế tôn Thành quản nhận canh trưng trừ công thuế ngoại (canh giả sở thụ hạ đồng) đồng niên chiếu tòng hạ điền nhị đẳng lệ thu cương túc cộng nhị phương tứ thược? Chí kỳ đương giá phát mại chỉnh biện kê xuy lang tửu đệ tựu Từ đường hành cáo kỵ lễ. Phong sát tùy tiền yên dữ túc giá tương xứng vụ tại tinh khiết, xuất lược hữu cữu.


+Nhất đệ niên thập nhị nguyệt nhị thập bát nhật cung trị Đệ nhị thế Tổ khảo kỵ nhật.


Bản tộc nguyên hữu tự điền nhất sở tại Dộc Ngoại xứ tam sào, nhất sở tại Nội Khương xứ nhị sào, nhất sở tại Đống Mối xứ bát mảnh, nhất sở tại Ngõ Đình xứ nhất sào, tịnh hạ điền nhất đẳng cộng lục sào bát mảnh.  Hựu tân hữu thu điền nhất sở tại Đống Sát xứ nhị sào tam mảnh. Tư cẩn tuân giao Trưởng chi cửu thế tôn Cung dữ cửu thế tôn Tạc quản nhận canh, trưng trừ công thuế ngoại đồng niên chiếu thu hạ điền mỗi sào cương túc nhất phương nhị thược? hợp cộng thu hạ điền cửu sào nhất mảnh đắc túc cửu phương ngũ thược lục phân, chí kỳ đương giá phát mại hội biện sinh tư lang, tửu đệ tựu Từ đường hành cung kỵ lễ, tế tất tùy nghi? vụ tại thỏa hợp.


+ Nhất đệ niên thập nhị nguyệt sơ nhị nhật cung trị Đệ nhị thế Tổ tỷ kỵ nhật.


Bản tộc nguyên hữu tự điền nhất sở tại Dộc Ngoại xứ tam sào. Tư cẩn tuân giao Trưởng chi cửu thế tôn Cung quản nhận canh, trưng trừ công thuế ngoại đồng niên chiếu tòng hạ điền nhị đẳng, lệ thu cương túc cộng nhị phương tứ thược, chí kỳ đương giá phát mại, chỉnh biện kê xuy lang tửu nhất tuân tiền [Thủy tổ tỷ kỵ nhật lệ].


+ Nhất đệ niên chính nguyệt nhị thập lục nhật cung trị Đệ tam thế Tổ khảo kỵ nhật.


Bản tộc nguyên hữu tự điền nhất sở nhất mẫu tại Dộc Gạo xứ. Tư cẩn giao Trưởng chi cửu thế tôn Tạc quản nhận canh, trưng trừ công thuế ngoại đồng niên chiếu tòng hạ điền nhất đẳng lệ, hữu thu cương túc thập phương, chí kỳ đương giá phát mại chỉnh biện sinh tư lang tửu nhất tuân tiền đệ nhị thế tổ khảo kỵ nhật lệ.


+Nhất đệ niên tứ nguyệt sơ nhị nhật cung trị Đệ tam thế Tổ tỷ kỵ nhật.


Bản tộc nguyên hữu tự điền nhất sở tại Dộc Ngoại xứ tam sào lục mảnh. Tư cẩn giao Trưởng chi cửu thế tôn Tạc quản nhận canh trưng, trừ công thuế ngoại, đồng niên chiếu tòng hạ điền nhị đẳng lệ thu cương túc cộng nhị phương bát thược nhị phân. Chí kỳ đương gia phát mại chỉnh biện kê xuy lang tửu nhất tuân tiền Thủy tổ tỷ kỵ nhật.


+ Nhất đệ niên tứ nguyệt thập tứ nhật cung trị Đệ tứ thế Tổ khảo kỵ nhật.


Bản xã kinh hữu trí điền tại Đồng Phan xứ nhất mẫu, lệ giao Lý trưởng nhận canh, chí kỳ chỉnh biện sinh tư lang tửu đệ tựu Từ đường kính tế như nghi. Tồn như tộc nội cáo kỵ lễ phẩm lánh hữu hồ lợi, nguyên giao Trưởng chi cửu thế tôn Tạc hiệp dữ chi nội tùy nghi cung biện.


+ Nhất đệ niên lục nguyệt nhị thập nhị nhật cung trị Đệ tứ thế Tổ tỷ kỵ nhật.


+ Nhất đệ niên chính nguyệt sơ cửu nhật cung trị Đệ ngũ thế Tổ khảo kỵ nhật.


+ Nhất đệ niên (thập nhất nguyệt nhị thập nhị nhật; Tam nguyệt thập thất nhật) cung trụ đệ ngũ thế tổ tỷ lệ kỵ nhật.


Dĩ thượng ngũ kỵ chuyên do Cửu thế tôn Tạc cập chi nội phân biện. Đệ tứ khoản - Từ đường thời tế lệ cung chiếu Thiệu Trị niên gian tân định dĩ đệ niên tứ thời tế các ư liệt tổ kỵ nhật tham hành.


 Tự Đức niên gian cải định chỉ dụng Xuân Thu nhị tế, nhưng dĩ nhị nguyệt thất nguyệt vọng nhật tuân hành chí kỳ chiếu cứ tộc nội số hiện cư tại bản xã giả, mỗi nhân các liễm oản nhất kiện (trọng đương thanh tiền tứ mạch) thanh tiền nhất mạch dĩ chí tộc nội. Nhân đinh chi hiện số mỗi tiết chiếu thu chỉ đắc nhị thập quán thượng hạ (do hiện) cư Diên Hà giá thời nhân số thỉ đắc nhị bách dư nhân) vật giá đằng ngang, Trưởng chi cung biện phả hữu nan tòng phóng khiết.


Thành Thái lục niên Giáp Ngọ hành Tri Châu công tiến cúng thanh tiền nhị bách quan ủy tộc nội chư nhân chấp thủ phóng trái dĩ vi xuân thu nhị tế, phụ biện tế phẩm chi nhu. Tự nhi hữu phóng vô thu, kiêm chi tiền oản linh tinh, liễm nạp diệc nan nhất tề tinh túc. Tư bản tộc tân hữu tự điền nhất sở tại Dộc Gạo xứ tứ sào lục mảnh, nhất sở tại Ngã Tư xứ nhị sào, nhất sở tại giáp Quán Ngô xứ tứ sào lục mảnh, hợp cộng nhất mẫu nhất sào nhị mảnh giao các chi Trưởng chi quản nhận canh, trưng trừ công thuế ngoại đồng niên chiếu tòng hạ điền nhất đẳng lệ thu cương túc cộng thập nhất phương nhị thược? đương giá phát mại chỉnh biện sinh tư lang tửu vi xuân thu tế lễ.


Cẩn tuân Thiệu Trị niên gian lệ định dĩ đệ niên tam nguyệt thập tam nhật Thủy tổ công kỵ nhật tham hành, tế tất tùy nghi tiêu biện tịnh vô quân phân đẳng hệ.


Hựu tân hữu thu điền tại Phố Đa nhất mẫu ,diệc quân giao các chi Trưởng chi quản nhận canh trưng, trừ công thuế ngoại đồng niên chiếu tòng thu điền nhất đẳng, lệ thu nhu mễ cộng nhất bách bát (do bản tộc công bát) tịnh chiếu nhân định mỗi nhân ngũ tiên vi Đông tế lễ diệc tuân y Thiệu Trị niên gian lệ định, dĩ đệ niên thập nhị nguyệt sơ thất Dưỡng tổ công kỵ nhật tham hành. Tế  tất tùy nghi tiên biện cập biếu hậu quân phân các khoản nhất tuân cựu lệ, vụ tại chiêm túc. Nhược kiểm cố bất cần chí hữu thố khiếm chiếu cứ đương niên phân biện trách thường.


- Đệ ngũ khoản: Các tiết phụ cung, lệ mỗi tòng tiền mỗi ngộ Từ đường liệt tiên kỵ nhật tộc nội tôn hành, cập viên nhân đẳng các hữu tư biện soạn bàn phụ cung lễ thành kính do đồng tộc thu tiêu. Tư định tộc nội chư viên nhân hà hệ sác hữu tâm lực giả, ưng ư chính nguyệt nhị thập lục, tam nguyệt thập tam thập, nhị nguyệt sơ thất, nhị thập bát đẳng tiết, các ư tiền nhật chỉnh biện trai lễ (hoặc soạn cỗ các hạng) tiến cúng dĩ bị cáo lễ, thứ vi tỉnh tiện, dư các tiết ưng đình lực bạc giả bất cưỡng.


-  Đệ lục khoản: Biếu hậu lệ, tiền Thành Thái Ất Mùi trùng tu Từ đường, thất thế tôn Quý Di, Quý Hành, Quý Soái, chư thê nữ các hữu tiến cúng ngân tiền trợ phí hữu sai. Kỳ đệ niên thập nhị nguyệt Đông tế, kỳ tế văn ưng chước tái thỉnh vân vân vu hậu. Tế tất ưng các trí biếu oản nhục hữu sai (nội Quý Chiêu nhất phần, Quý Hành nhị phần, Quý Soái nhất phần) dĩ vi lai giả khuyến.


-  Đệ thất khoản: Tế tất, lệ đệ niên thập nhị nguyệt đông tế kỳ lệ hữu chiếu bổ tộc nội nhân số mỗi nhân ngũ tiên. Kỳ các chi trưởng ấu nhân đẳng tế tất ưng các chiếu hành liệt tọa thụ phúc, yêu hữu lễ nhượng từ tốn bất đắc tháo thứ nghị ngoa thất tự, vi giả hữu phạt. Tồn như các tiết biệt hữu công chi vô phiền bổ liễm. Kỳ các chi Trưởng chi cập viên dịch nhân đẳng dữ tiểu ấu nhi kinh trúng tuyển cập đơn vọng tại đình trung giả, tế tất phương chiếu hành liệt tọa thụ phúc. Vi giả trượng xuất dĩ nghiêm tộc lệ.


- Đệ bát khoản: Đệ niên tỉnh tảo Yên Lũ, Nội Lãng nhị phúc phần tòng tiến chiếu bổ trọng, quý nhị chi mỗi chi kê xuy, lang tửu nhị lễ các ư Thanh minh tộc nhân, phân hành tỉnh tảo, trung gian kinh thừa trí điền ủy giao sở tại mộ nhân canh cúng đẳng lễ. Tư Yên Lũ xã kinh bị tàn phá, cải vi Tự Tân xã. Kỳ tự điền tam sào nguyên giao sở tại thủ mộ nhân ký nhận canh cung, đệ niên thập nhất nguyệt nhật, hệ hữu tộc nhân vãng tỉnh tất do thủ mộ gia cư túc, lai tảo y tức chỉnh biện kê xuy lang tửu nhị lễ, nhất cáo Sơn thần, nhất Tạ tổ mộ. Lễ thành nhưng do y gia cung tiếp, mỗi niên như chi. Tồn Nội Lãng tự điền tam sào tiền kinh y xã tu chỉnh thạch kiều tại mộ tiền. Cung từ dữ bản tộc biệt tương giá điền tha mãi công chi nhưng kiên khất dĩ đệ niên Thanh minh tiền nhất nhị nhật hệ hữu tộc nhân đáo xứ nhưng do y xã đương niên phân biện thượng hạ điền lệ chi kỳ mục nhân đẳng chuyên biện giá tỉnh tảo nhị lễ như tiền nghi, xuất lược hữu cựu các đẳng tình cung chiếu giá nhị xã phúc phần. Kỳ tỉnh tảo lễ phẩm dĩ hữu chuyên trách. Kỳ đệ niên tộc nội vãng tỉnh biệt vô phiền phí các khoản.


Tư cẩn tường biên nhật kỳ giao do trưởng chi thất thế tôn Tạc phụng thủ. Ký mỗi các tiên kỳ biện tương thanh tiền ngũ mạch trình dữ tôn trưởng đống ủy tộc nội chi kiến thức giả nhất nhị nhân lĩnh phí tiền vãng tỉnh tạ kính cẩn dĩ ninh tộc tính nhi bảo vô ngu.


- Đệ cửu khoản: Lan nhai lệ, cựu định tộc nội hà nhân hữu nữ giá đồng xã giả lệ nạp thanh tiền nhất quan. Giá biệt xã giả lệ nạp nhị quan, chuẩn ư tế kỳ các do từ đường trình nạp. Tư cẩn tuân phụng vĩnh di vi thường.


Phụng sao gia lễ hợp cộng thượng hạ thất chương.


CHÍNH TỪ ĐƯỜNG THỜI TẾ VĂN THỨC


-Đệ niên thập nhị nguyệt sơ thất nhật cung trị Dưỡng tổ khảo kỵ nhật tham hành Đông tế văn.


Dung hoàng hiệu kỷ niên tuế tại can chi thập nhị nguyệt can chi sóc sơ thất nhật can chi thất thế tôn ... bát thế tôn ... cửu thế tôn ... thập thế tôn ... thập nhất thế ... cập đồng tộc đẳng cẩn dĩ sinh tư thanh chước phù lang đẳng lễ cảm kỳ cáo vu.


*Hiển Dưỡng tổ khảo phong tặng Đặc tiến Kim tử vinh lộc Đại phu, Hưng Hóa xứ Tán trị, Thừa chính xứ ty Tham chính, Triệu Nghĩa hầu, Lê tướng công, tự Trực Tính, tứ thụy Chất Hậu, tiền viết:


Hữu tế tất cáo lễ dã


Cung duy Tổ công


Kiệm cần nghiệp quảng


Dưỡng dục ân thâm


Trạch lưu miêu duệ


Dĩ hữu vu kim


Tư duy Đông quý


Húy nhật phục lâm


Kính tham thời tế


Thức biểu trưng thầm


Phụng kỳ tiến vu:


*Hiển Thủy tổ khảo, phong tặng Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Công bộ Thượng thư, Phong Trạch hầu, Lê tướng công, tự Phúc Thiện, tứ thụy Ôn Nhân.


Hiển Thủy tổ tỷ, phong tặng phu nhân Đào quý thị, hiệu Từ Thục, thụy Trinh Ý.


*Hiển đệ nhị, tam, tứ, ngũ, lục thế Tổ khảo tỷ tường tại chính bản (Đông biên, Tây biên liệt vị cung kỵ). Ninh Tháp chư phúc địa, cập bản doanh liệt vị Hậu thổ thị chi thần, đồng thùy hâm cách thượng hưởng.


- Đệ niên tam nguyệt thập tam nhật cung trị Thủy tổ khảo kỵ nhật tham hành Xuân tế văn.


Duy hoàng hiệu kỷ niên tuế tại can chi tam nguyệt can chi sóc việt thập tam nhật can chi, thất thế tôn ... bát thế tôn ... cửu thế tôn ... thập thế tôn ... thập nhất thế tôn ... cập đồng tộc đẳng cẩn dĩ sinh tư thanh chước phù lang đẳng lễ cảm kỳ cáo vu: Hiển thủy tổ khảo ... vị tiền viết:


Hữu tế tất cáo lễ dã.


Cung duy Tổ công


Lý hoàng phái diễn


Đình Bảng danh truyền,


Vị Dương tỷ hậu


Mạc khảo toàn biên


Duy thử Duyên Hà


Hữu khai tất tiến.


Sơ lai hà hạnh


Trung đạo kham lân,


Tầm quy nhị đệ


Tông tự dĩ diên.


Quân tài nhất sự


Tạo phúc vô biên,


Diến duy công đức


Bách thế bất thiên


Tư phùng húy nhật


Thích trị Xuân thiên


Kính tham thời tế


Thức biểu trưng kiền


Phụng kì tiến liệt tiên tổ tỷ tường tại chính bản, đồng thùy hâm cách thượng hưởng.


- Đệ niên lục nguyệt nhị thập tứ nhật cung trị Thủy tổ tỷ kỵ nhật cáo văn.


Duy Hoàng hiệu kỷ niên nguyệt nhật cảm kỳ cáo vu: Hiển thủy tổ tỷ ... vị tiền viết:


Tuế nguyệt lưu dịch,


Húy nhật phục lâm,


Truy viễn cảm thời,


Hạt thắng vĩnh mộ.


Phụng kỳ tiến: Liệt tiên tổ khảo tỷ... đồng thùy hâm cách thượng hưởng.


- Đệ niên thập nhị nguyệt nhị thập bát nhật kỵ Hiển Đệ nhị thế tổ khảo, phong tặng Đặc tiến kim tử vinh lộc Đại phu, Binh bộ Thượng thư, Diên Xương hầu, Lê tướng công, tự Phúc Lý, tứ thụy Huy Cung, bao phong Phúc thần Đại vương, vị tiền viết:


Hữu tế tất cáo lễ dã


Cung duy Tướng công


Thiên tư hiền hiếu


Địa học tinh thông


Cơ cầu kỷ độ


Triệu tạo vô cùng


Tư phùng húy nhật


Thích trị long đông


Cảm thời truy viễn


Thức biểu đan trung


Phục duy thượng hưởng.


- Thập nhị nguyệt sơ nhị nhật kỵ Hiển đệ nhị thế tổ tỷ phong ấm Quận phu nhân, Phạm quý thị, hiệu Từ Kính, tứ thụy Đoan Từ.


- Đệ niên chính nguyệt nhị thập lục nhật cung trị Tam thế Tổ khảo kỵ.


*Hiển đệ tam thế Tổ khảo tứ Giáp Thìn khoa Tiến sĩ, Đặc tiến kim tử Vinh lộc Đại phu, Nhập thị tả chính ngôn, Hình bộ Thượng thư, Củ chính triều nghi, chí sỹ, khởi phục tái chí sỹ, phong tặng Thái bảo Hà Quận công, Lê tướng công, hiệu Văn Trinh tiên sinh, tứ thụy Trung Hiến, bao phong Thượng đẳng Phúc thần Đại vương.


Hiển đệ tam thế tổ tỷ phong ấm Quận phu nhân, gia phong Thái phu nhân Trương quý thị, hiệu Nhân Hậu.


*Hiển đệ tứ tổ khảo tứ Nhâm Thân khoa Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ  Đặc tiến kim tử Vinh lộc Đại phu, Nhập thị đồng tham tụng, Chưởng phủ sự, Hành hộ phiên cơ mật viện, Chưởng đốc binh chính tài phú, Công bộ Thượng thư, Quốc sử tổng tài, phong tặng Thái phó, Dĩnh quận công, Lê tướng công, hiệu Minh Đạo tiên sinh, tặng thụy Văn Trung.


Hiển đệ tứ thế tổ tỷ phong ấm Quận phu nhân, Lê Hữu thị, hiệu Hiền Mục, tứ thụy Đoan Hiếu.


*Hiển đệ ngũ thế Tổ khảo Thị trung trực học sỹ, kiêm Thái thường tự khanh, Tham bồi Lễ bộ sự vụ, hành Sơn Nam thượng trấn Hiệp trấn, thăng thự Lễ bộ Hữu tham tri, Lãng Phái hầu, trí sỹ, Lê tướng công, hiệu Mạn Lương tiên sinh.


Hiển đệ ngũ thế tổ tỷ phong ấm Chánh phu nhân, Nguyễn quý thị, hiệu Đoan Lương, tứ thụy Hiệt Uyển.


Kế Chánh phu nhân Trương quý thị hiệu Đoan Chính.


Tái kì tiến:


*Đệ nhị thế, trọng hệ, Thiếu tổ Lê tam lang, hiệu Phúc Ân tiên sinh.


*Đệ tam thế, quý hệ, Thiếu tổ Lê nhất lang, hiệu Phúc Minh tiên sinh.


Tây biên tòng tự chư tôn linh:


*Đệ tứ thế, trọng hệ, Thiếu tổ Trường Khánh phủ Đồng Tri phủ, Gia Nghĩa tử, Lê tiên sinh, hiệu Phúc Chiêu.


Đệ tứ thế quý hệ Thiếu tổ liệt vị:


*Hương thí Giải nguyên, kì thụ Thị nội câu kê, tặng Quảng Yên Tham chính, Lê tướng công, hiệu Phúc Khánh tiên sinh.


*Tứ tiến triều ban Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, lịch thụ Đốc đồng kiêm Tham hiệp nhung vụ, thăng thụ Thiên đô ngự sử, Phụ Thành hầu, Lê tướng công, hiệu Tốn Trai tiên sinh, tứ thụy Ôn Nhượng.


*Khâm sai Hải Dương xứ, Hình hiến sát phó sứ, thăng thị Thái bộc tự khanh, Lê tướng công, hiệu Cương Chính tiên sinh, tứ Nhâm Tuất khoa, Khâm sai Lạng Giang phủ Tri phủ, Tiến Đức hầu, Lê tiên sinh, hiệu Minh Triết, thụy Trung Hiếu.


*Đệ ngũ thế trọng hệ Thiếu tổ Hương cống, kì thụ Trường Khánh phủ Nho học Huấn đạo, Lê tiên sinh, hiệu Lỗ Am cư sỹ, thụy Thanh Thận.




Đệ ngũ thế quý hệ Thiếu tổ liệt vị:


*Phong tặng Đặc tiến kim tử Vinh lộc Đại phu Thanh Hóa xứ Thái bộc tự khanh, Hào Xuyên bá, Lê tướng công, hiệu Văn Diễn tiên sinh, tặng thụy Thông Mẫn, bao phong Phúc thần Đại vương.


*Hương tỉnh Giải nguyên, Đại lí tự tự thừa, Quốc sử tu soạn, Lê tướng công, hiệu Văn Nghị tiên sinh, hiệu Trực Thành thụy Cung Doãn.


*Đệ lục thế, quý hệ, Thiếu tổ sắc thụ Văn Lâm lang,Mộc Châu tri châu, kiêm Lộc An châu, ấn vụ Lê phủ vụ quân tự Hòa Phủ, thụy Công Mẫn.


*Đệ ngũ thế, trọng hệ, Thiếu tổ cố Lê Phấn uy Tướng quân Thần Vũ vệ, Thiên hộ Phi kị úy, Lê tiên sinh, tự Duy Mại, hiệu Sác Đoán.


*Đệ ngũ thế, quý hệ, Thiếu tổ Nho sinh Chánh vũ úy, Phấn uy tướng quân, Lê tiên sinh, tự Trọng Hoàn, hiệu Cương Nghị.


Đệ lục thế Thiếu tổ liệt vị:


*Thủ hợp Lê tiên sinh, tự Huy Đĩnh, hiệu Quả Đoán


*Tú lâm cục Lê nhất lang, tự Trọng Hàm.


Tái kì tiến nội tộc tiên tổ khảo tỷ liệt vị ngoại gia Đào thị, Phạm thị, Trương thị tiên tổ, khảo tỷ liệt vị. Tái cung thỉnh:


*Lê quý công, hiệu Phúc Hiền.


*Lê quý công, hiệu Phúc Nhã.


*Hiệu sinh Lê tiên sinh tự Hữu Bản (Bổn).


*Hiệu sinh Lê tiên sinh tự Hữu Đăng.


*Đệ nhị thế bá hệ Thiếu tổ Lê nhị lang, hiệu Phúc Lương.


*Đệ nhị thế thúc hệ Thiếu tổ Lê tứ lang, hiệu Phúc Điền.


*Đệ tam thế trọng hệ Thiếu tổ Lê nhất lang, hiệu Phúc Vinh.


*Đệ nhị lang hiệu Phúc Doãn.


*Đệ tam thế thúc hệ Thiếu tổ Lê tiên sinh, hiệu Phúc An.


*Đệ tứ thế trọng hệ Thiếu tổ Lê nhất lang, hiệu Phúc Khánh.


*Huyện thừa Lê tam lang, hiệu Phúc Đạo.


*Huyện thừa Lê tứ lang, hiệu Phúc Thực.


*Đệ tứ thúc hệ Thiếu tổ Lê tiên sinh, hiệu Phúc Tâm.


Đệ tứ thế quý hệ Thiếu tổ liệt vị:


*Thủ hợp Lê nhất lang, hiệu Phúc Long.


*Vệ úy Lê nhị lang, hiệu Phúc Chính.


*Trung úy Lê lục lang, hiệu Phúc Lộc.


*Trung úy Lê thất lang, hiệu Quý Bằng.


*Mậu Lâm lang, Lê bát lang, tự Quý Ngạc, hiệu Tiết Nghị.


Đệ ngũ thế trọng hệ Thiếu tổ liệt vị:


*Lê tiên sinh tự Hữu Thường, hiệu Thiện Chính.


*Nho sinh Lê nhị lang, tự Trần Hoan.


*Huyện thừa Lê tứ lang, tự Trọng Hân.


*Vệ úy Lê ngũ lang, tự Trọng Huyên.


*Viên tử Lê lục lang, tự Duy Thanh.


*Sinh đồ Lê nhất lang, tự Bá Giao.


*Điện tiền Ty ngục thừa Lê nhị lang, tự Đình Lâm.


*Bá hộ Lê nhất lang, tự Đình Điềm


*Bá hộ Lê nhị lang, tự Đình Khiêm.


*Hương tiên Lê tam lang, tự Đình Tộ.


*Hương lão Lê tứ lang, tự Đình Dị.


*Đệ ngũ thế thúc hệ Thiếu tổ, Lê tam lang, tự Phúc Thái.


Đệ ngũ thế quý hệ Thiếu tổ liệt vị:


*Cai hợp Lê nhất lang, tự Đình Cao, hiệu Phúc Hiển.


*Lê nhị lang, tự Đình Cơ, hiệu Pháp Trí.


*Lê tam lang, tự Đình Vi.


*Lê nhất lang, tự Đình Toản, hiệu Phúc Huệ.


*Lê nhị lang, tự Đình Nguyên.


*Lê tam lang, tự Đình Dục, hiệu Phong Nhã.


*Lê tứ lang, tự Đình Chiếm, ấm phong Hoằng tín đại phu, chi thụ Đông cung Thị nội thư kí, Uy Chính bá, Lê tiên sinh, hiệu Mai Đình.


*Quan viên phụ Lê tiên sinh, thụy Đôn Giản, hiệu Thành Chí.


*Nho sinh Lê nhị lang, tự Quý Vĩ, hiệu Cương Nghị.


*Thực thụ tổng trưởng, Quỳnh Ngọc nam, Lê tứ lang, hiệu Cương Phương.


*Chiêu Văn quán Lê ngũ lang, tự Quý Túc, hiệu Phúc Thụy.


*Quan viên tử Lê nhất lang, tự Quý Dung, hiệu Tuyên Từ.


*Tả đồn tham luận Lê nhị lang, tự Quý Độ, hiệu Nhã Trai.


*Quan viên tử Lê tam lang, tự Trung Ngạn, Thành Mẫn.


*Tú lâm cục Lê lục lang tự Quý Loan,hiệu Phúc Tường.


*Tổng trưởng Lê nhất lang, tự Duy Thung, hiệu Xuân Trường.


*Hương lão Lê tam lang, tự Duy Thực, hiệu Trung Thành.


*Đệ lục thế trọng hệ Thiếu tổ Lê tiên sinh tự Trọng Trương, hiệu Thuần Hậu.


*Đệ lục thế quý hệ Thiếu tổ Lê nhất lang, tự Quý Sử.


*Chiêu Văn quán Lê nhất lang, hiệu Phúc Đạt.


Tái thỉnh đệ thất thế quý hệ Thiếu tổ liệt vị:


*Suất đội Lê nhị lang, hiệu Ôn Nhu.


*Trưng sỹ Lê nhị lang, tự Duyệt Chi, hiệu Lan Đình.


*Hương lão Lê nhất lang, tự Quý Soái. Cung kị: Ninh Tháp chư Phúc địa cập Bản doanh liệt vị Hậu thổ thị chi thần, đồng vọng hâm cách thượng hưởng.


- Đệ tam thế Tổ khảo kị nhật tế văn: Tuân tiền Đệ nhị thế Tổ khảo kị nhật văn thức. Vị tiền viết:


Hữu tế tất cáo lễ dã.


Cung duy Tổ công


Nhân từ tích cửu


Khoa hoạn khai tiên


Quang tiền dụ hậu


Phả bất thắng biên


Tư phùng húy nhật


Thích trị Xuân thiên


Cảm thời truy viễn


Thức biểu vi kiền.


Phụng kì tiến liệt Tổ khảo tỷ như tiền.


Bảo Đại Mậu Dần thập tam niên nhị nguyệt nhật khánh thành bái đường tế văn. Liệt vị tiền viết:


Cát nhật khánh thành


Tất cáo lễ dã.


Cung duy liệt tổ


Truyền gia hiếu nghĩa


Danh thế trung lương


Khôi khoa hiển hoạn


Chung cổ lưu phương


Duy Xuân chi trọng


Tu lí bái đường


Cưu công dụng tập


Bạc lễ kiền tương


Thượng kì giám cách


Thức biểu thiên thường.


Phụng kì tiến: Hữu thiếp thỉnh chư quý viên: Mãn mãn oanh hoa, thiều quang minh mị, liêu bằng thốn chử, dao chúc xuân hy, kính khải giả, tiểu tộc trùng tu gia miếu, dụng tập cưu công, bạc thiết yến diên, phụng an Thần vị. Thiết tư hưởng tự, hữu sở vu dĩ đôn điển nhi tự luân, ca tụ ư tư, vu dĩ báo công nhi sùng đức. Kính dĩ nguyệt ... nhật ... sủy kì tôn quý, ư ... nguyệt ... , kiền lai lưu yết, tỷ đắc thân bồi, tự tập .. chính ... niên ... nguyệt ... nhật Lê quý tộc thư phụng liệt quý nhã giám.


Hựu thiếp thỉnh thổ hoàng bình đối tộc nhân.


Thiều quang minh mị, dao chúc xuân hy


Kính khải giả:


Đại tôn Từ đường, liệt tiên thủy sáng. Tố tự Lê sơ, lịch kỉ cư chư, cơ nhị bách niên hỹ. Chí tư nhật cửu, bái đường hoành trụ hủ hoại, bất hữu nhất phiên tu bổ, tắc thượng dĩ đối liệt tổ chi linh, hạ vô dĩ ủy tử tính, chiêm hoài chi vọng. Tư dĩ trùng tu, cưu công dụng tập, quyên dĩ nguyệt ... nhật ... khánh thành kì tộc nội, chư viên dụng lai bái yết ... niên ... nguyệt ... nhật ..


Phú Hảo xã bản tộc thư đệ quý xã bản tộc tôn trưởng dữ liệt quý ... nhã giám!


Dịch nghĩa:


GIA LỄ HỌ LÊ


Ngày tốt tháng 2 năm nhuận Đinh Tỵ niên hiệu Khải Định thứ 2 (1917).


Đồng tộc họ Lê, xã Phú Hậu cùng nhau biên chép Gia lễ, cung kính chiếu theo các tiết tế tự ở Từ đường của bản tộc.


Trước kia đã san định, thành điển lễ để cứ thế mà tuân theo, nhưng chưa biên chép thành sách để lưu giữ. Thêm vào đó, thời thế thay đổi, khó có thể nhất nhất làm theo. Nhân đó thuật lại những quy tắc của đời trước, rồi tùy nghi sửa đổi cho thuận tiện với lễ thường, để hàng năm cũng dễ tuân theo. Bèn kính cẩn biên thành sách làm Gia lễ, còn như các tiết văn cúng tế cứ dựa vào điển lệ, cho đời sau tuân theo. Nay liệt kê các khoản như sau:


*Khoản thứ 1: [...] [1] bốn phía khoảng hơn 1 sào, để trồng các loại cau, trà. Lại có một thửa ao trước cửa lớn hơn 2 sào. Nay kính giao cho Trưởng chi - cháu đời thứ 9 là Tạc, nhận lấy trồng trọt và thả cá sinh lợi để cuối năm chi vào các khoản đèn nhang, trà quả ở Từ đường.


*Khoản thứ 2: Hàng năm vào tiết Nguyên đán, bản tộc đã mua miếng đất vườn 2 sào ở đằng sau chính tẩm. Theo như trước, mảnh đất ấy giao cho cháu đời thứ 8 là Hiểu nhận lấy canh tác, hàng năm nộp cho bản tộc 10 quan tiền để bản tộc chi tiêu việc công. Nay kính cẩn giao cho cháu đời thứ 9 là Tạc nhận lấy để vào 3 ngày tết Nguyên đán hàng năm sửa lễ chay cùng trầu rượu tiến cúng.


*Khoản thứ 3: Hàng năm vào các ngày giỗ của các cụ tổ, cứ theo lệ định từ xưa chia đều cho các chi cứ theo đó mà biện lễ. Khi ấy số ruộng mua được giao lại cho Trưởng chi canh tác để cúng giỗ, như vậy là có người chuyên trách. Nay kính cẩn chép ra để tuân theo:


- Hàng năm vào ngày mùng 7 tháng 12 là ngày giỗ của Dưỡng tổ khảo[2].


Theo nghi thức tế lễ mùa Đông, được ghi rõ ở khoản 4.


- Hàng năm vào ngày 13 tháng 3 là ngày giỗ của cụ Thủy tổ khảo.


Theo nghi thức tế lễ mùa Xuân, ghi rõ ở khoản 4.


- Hàng năm vào ngày 24 tháng 6 là ngày giỗ của cụ Thủy tổ tỷ (cụ bà).


Trước đây bản tộc có một thửa ruộng 3 sào tại xứ Dộc Ngoại. Nay giao lại cho Trưởng chi - cháu đời thứ 10 là Phúc, cháu đời thứ 11 là Thành nhận canh tác, ngoài khoản thuế công phải nộp ra (người cầy cấy chịu nộp thuế), hàng năm chiếu theo ruộng vụ hè loại 2 , thu 2 phương, 4 thược[3] lúa tẻ. Đến ngày giỗ, theo thời giá bán đi lấy tiền biện lễ gà xôi, trầu cau đem đến Từ đường làm lễ cáo kị. Số tiền đó tùy thuộc vào được mùa hay mất mùa, cốt sao giá lúa phải tương đương, nhưng phải thực thà, nếu dối trá sẽ chịu tội. 


- Hàng năm vào ngày 28 tháng 12 là ngày giỗ của cụ Tổ đời thứ 2.


Bản tộc có một thửa ruộng thờ 3 sào tại xứ Dộc Ngoại, một thửa 2 sào tại xứ Nội Khương, một thửa 8 miếng tại xứ Đống Mối, một thửa 1 sào tại xứ Ngõ Đình tất cả là ruộng vụ hè loại 1. Cộng tất cả là 6 sào 8 miếng.


Lại có một mảnh ruộng thu mới mua gồm 2 sào 3 miếng tại xứ Đống Sát. Nay kính cẩn giao cho Trưởng chi - cháu đời thứ 9 là Cung, cháu đời thứ 9 là Tạc nhận canh tác, ngoài khoản thuế công phải nộp ra, hàng năm chiếu thu theo ruộng vụ hè, thu mỗi sào 1 phương lúa tẻ, ruộng thu mỗi sào 1 phương 2 thược lúa tẻ, cộng hai loại ruộng thu hè gồm 9 sào 1 miếng thu được 9 phương 5 thược 6 phân thóc, đến ngày giỗ theo thời giá để biện lễ gồm thịt xôi, trầu cau và rượu đem đến Từ đường làm lễ, tế xong tùy nghi thụ lộc, cốt sao phải thỏa đáng, vui vẻ. 


- Hàng năm vào ngày mùng 2 tháng 12 là ngày giỗ của cụ Tổ bà đời thứ 2.


Bản tộc cót một thửa ruộng thờ 3 sào tại xứ Dộc Ngoại. Nay kính cẩn giao cho Trưởng chi - cháu đời thứ 9 là Cung nhận lấy canh tác, ngoài khoản thuế công phải nộp ra, hàng năm chiếu thu theo ruộng vụ hè loại 2, thu mỗi sào 2 phương 4 thược lúa tẻ, đến ngày giỗ theo thời giá để biện lễ xôi gà, trầu rượu. (Sửa theo lễ giỗ cụ Thủy tổ bà).


- Hàng năm vào ngày 26 tháng Giêng là ngày giỗ của cụ Tổ đời thứ 3.


Bản tộc đặt một thửa ruộng thờ 1 mẫu tại xứ Dộc Gạo. Nay kính cẩn giao cho Trưởng chi - cháu đời thứ 9 là Tạc nhận lấy canh tác, ngoài khoản thuế công phải nộp ra, hàng năm chiếu thu theo ruộng vụ hè loại 1, thu mỗi sào 10 phương lúa tẻ, đến ngày giỗ theo thời giá biện lễ gồm xôi thịt, trầu rượu. (Sửa theo lễ giỗ của cụ Tổ đời thứ 2).


- Hàng năm vào ngày mùng 2 tháng 4 là ngày giỗ của cụ Tổ bà đời thứ 3.


Bản tộc đặt một thửa ruộng thờ 3 sào 6 miếng tại xứ Dộc Gạo. Nay kính cẩn giao cho Trưởng chi - cháu đời thứ 9 là Tạc nhận lấy canh tác, ngoài khoản thuế công phải nộp ra, hàng năm chiếu thu theo ruộng vụ hè loại 2, thu mỗi sào 2 phương 8 thược 2 phân lúa tẻ, đến ngày giỗ theo thời giá biện lễ gồm xôi gà,  trầu rượu. (Sửa theo lễ giỗ của cụ Thủy tổ bà).


- Hàng năm vào ngày 14 tháng 4 là ngày giỗ của cụ Tổ đời thứ 4.


Bản tộc đặt một thửa ruộng thờ 1 mẫu tại xứ Đồng Phan. Theo lệ giao cho Lý trưởng canh tác, đến ngày giỗ biện lễ gồm xôi thịt, trầu rượu. Đem đến Từ đường kính tế cáo theo nghi thức, còn như trong tộc có lễ cáo kị có thêm thu lợi ở hồ thả cá thì giao cho Trưởng chi - cháu đời thứ 9 là Tạc cùng mọi người trong chi cùng biện.


- Ngày 22 tháng 6 hàng năm là ngày giỗ của cụ Tổ bà đời thứ 4.


- Ngày mùng 9 tháng Giêng hàng năm là ngày giỗ của cụ Tổ đời thứ 5.


- Ngày 22 tháng 11 (hoặc ngày 17 tháng 3) hàng năm là ngày giỗ của cụ Tổ bà đời thứ 5. Năm ngày giỗ trên đều do cháu đời thứ 9 là Tạc cùng toàn chi biện lễ.


*Khoản thứ 4:  Lệ tế ở Từ đường cung kính chiếu theo lệ mới định từ thời Thiệu Trị, để bốn mùa hàng năm tế lễ các vị liệt tổ. Từ niên hiệu Tự Đức trở về sau đã sửa đổi, chỉ tế vào hai mùa xuân thu, vẫn lấy ngày của các tháng 2 và tháng 7 để tế. Đến kì tế, chiếu theo số người trong tộc họ hiện có mặt tại bản xã, thu mỗi người 1 chiếc oản (tương đương giá tiền 4 mạch) và 1 mạch tiền để nhớ số đinh hiện có của bản tộc. Mỗi tiết chỉ thu khoảng 20 quan (vì hiện nay ở Diên Hà số đinh chỉ được hơn 200 người), do vật giá tăng cao nên Trưởng chi biện lễ khó mà đầy đủphong túc được. Năm Giáp Ngọ niên hiệu Thành Thái thứ 6 (1894) có quan Tri châu - cháu đời thứ 6 của bản tộc cung tiến thêm 200 đồng, số ấy giao lại cho bản tộc giữ để cho vay sinh lời, để thêm vào việc sửa lễ tế cáo hai mùa xuân thu. Còn tiền lời cứ cho vay tiếp thì số đó không thu mà để sửa oản quả các thức, việc thu nộp cũng khó thu đủ ngay được. Nay bản tộc mới mua một thửa 4 sào 6 miếng tại xứ Dộc Gạo, một thửa 2 sào tại xứ Ngã Tư, một thửa 4 sào 6 miếng tại xứ Quán Ngô, tất cả là 1 mẫu 1 sào 2 miếng giao cho các Trưởng chi nhận canh tác, ngoài khoản thuế phải nộp ra, hàng năm chiếu theo ruộng vụ hè loại 1, lệ thu 11 phương 2 thược lúa tẻ, theo thời giá biện xôi thịt, trầu rượu tế lễ hai mùa xuân thu.


Kính cẩn tuân theo lệ định thời Thiệu Trị, ngày 13 tháng 3 hàng năm là ngày giỗ của cụ Thủy tổ, khi tế xong tùy nghi chia biếu, không chia theo bình quân. Lại đặt một mảnh ruộng vụ thu 1 mẫu tại xứ Phố Đa, cũng giao cho Trưởng chi nhận canh tác, ngoài khoản thuế phải nộp ra, hàng năm chiếu theo ruộng vụ thu loại 1, lệ thu 100 bát lúa nếp (bát công của bản tộc), chiếu theo nhân đinh của bản tộc mỗi người nộp 5 tiên[4] làm lễ tế mùa Đông. Việc tế lễ cũng tuân theo lệ định thời Thiệu Trị, vào ngày 7 tháng 12 hàng năm là ngày giỗ của cụ Dưỡng tổ, khi tế xong tùy nghi chia biếu, khi biếu xong còn lại chia đều, các khoản phải tuân theo lệ cũ, cốt sao lộc ban đầy đủ mà không bị thiếu khuyết, nếu bất cẩn bị nhầm thiếu, thì chiếu theo chi tiêu của năm đó mà phạt và bắt bồi thường.


        *Khoản thứ 5: Lệ các tiết cúng phụ, theo như trước mỗi dịp vào ngày giỗ của tổ tiên, mọi người trong họ tộc cùng các viên chức ai có lễ biện riêng như cỗ bàn để phụ tế, lễ xong kính giao cho họ thu nhận. Người nào trong họ tộc có tâm lực, đứng ra sửa lễ vào các ngày 26 tháng Giêng, 13 tháng 3 mùng 7 và 28 tháng 12, thì trước đó một ngày biện lễ chay (hoặc một mâm cỗ) tiến dâng cáo trước để cho tiện, còn các tiết khác thì thôi. Người nào không có điều kiện cũng không ép.


        *Khoản thứ 6: Lệ biếu Hậu, trước đây vào niên hiệu Thành Thái Ất Mùi (1895) khi trùng tu Từ đường, các cháu đời thứ 7 là Quý Triệu, Quý Hành, Quý Soái cùng vợ con đã cung tiến tiền để tu sửa, người nhiều người ít khác nhau. Hàng năm tiết tế Đông tháng 12, trong năm tế có ghi ở ohía sau.


Thỉnh xong biếu các khoản oản thịt ít nhiều khác nhau. Trong đó Quý Di một phần, Quý Hành hai phần, Quý Soái một phần để tỏ sự khuyến khích về sau.


        *Khoản thứ 7: Lệ vào tiết tế Đông tháng 12 hàng năm khi tế xong, trong họ chiếu bổ mỗi người nộp 5 tiên. Đối với các chi tuy kể lớn nhỏ, khi tế xong, cứ chiếu theo ngôi thứ mà cùng ngồi thụ lộc, cốt ở lễ nhượng, không được nghêng ngang nói năng thất thố, nếu làm trái sẽ bị phạt. Còn các tiết đã chi tiền công thì không cần bổ thu. Chi Trưởng các chi, những người phục vụ và những người ít tuổi nhưng đã đã đỗ đạt, những người có đơn xin khao vọng tại đình, khi tế xong chiếu theo lệ cùng ngồi thụ phúc, ai làm trái sẽ bị đánh doi đuổi ra, để giữ nghiêm phép họ.


        *Khoản thứ 8:  Lệ hàng năm quét dọn hai nơi phúc phần tại Yên Lũ và Nội Lãng, trước theo lệ chiếu bổchi 2 và chi 3 (chi út) mỗi chi sửa biện 2 lễ xôi gà, trầu rượu. Các tiết Thanh minh, mọi người trong tộc chia nhau tảo mộ. Khi ấy lại đặt ruộng, giao cho người trông nom mộ nơi sở tại nhận canh tác để sửa lễ. Nay xã Yên Lũ bị tàn phá, nên đổi thành xã Tự Tân, 3 sào ruộng tự điền giao cho người trông nom mộ kí nhận canh tác để sửa lễ  vào tháng 11 hàng năm. Nếu trong tộc có người về tảo mộ thì đến nghỉ tại nhà người trông mộ, hôm sau chỉnh biện 2 lễ gà xôi, trầu rượu, trong đó một lễ cáo với Sơn thần, một lễ tạ mộ Tổ, việc chuẩn bị do nhà ấy giúp sửa, năm nào cũng thế.


Còn 3 sào ruộng thờ tại xã Nội Lãng, do trước kia bản xã tu sửa cầu đá trước ngôi mộ, đã làm cam kết với bản tộc xin đem bán để chi vào việc công. Nhưng hàng năm cứ đến tiết Thanh minh, trước đó một hai ngày, có người trong họ về tảo mộ, thì xã này vẫn phải giữ theo lệ cũ. Các  Kì mục phải biện 2 lễ tảo mộ, theo như trước, nếu thiếu sẽ bị phạt tội. Còn mọi người cứ chiếu theo lệ 2 xã đó mà sửa lễ quét dọn mộ phần. Về phần sửa lễ đã có người chuyên lo. Hàng năm mọi người trong họ về tảo mộ không phải lo việc chi phí các khoản. Nay kính cẩn biên chép giao cho Trưởng chi - cháu đời thứ 7 là Tạc giữ gìn. Trước mỗi kì tảo mộ phải biện 5 mạch trình lên bậc tôn trưởng, giao cho một hai người trong họ có kiến thức nhận số tiền đó đến tảo mộ để bản tộc được yên ổn, khiến mọi người cũng không phải lo lắng.


        *Khoản thứ 9: Lệ lan nhai (lệ cheo cưới) trước lệ định nhà nào trong họ có con gái gả cho người cùng xã lệ định nộp 1 quan tiền, gả cho người xã khác nộp 2 quan tiền, đem đến Từ đường trình nộp. Nay kính cẩn tuân phụng, mãi mãi làm phép thường.


Phụng sao Gia lễ gồm 7 tờ (14 trang).




NGHI THỨC VĂN TẾ Ở TỪ ĐƯỜNG CHÍNH.


- Hàng năm vào ngày mùng 7 tháng 12 là ngày giỗ của cụ Dưỡng tổ khảo, làm văn tế mùa Đông:


Duy! Ngày mùng 7 (can chi) tháng 12 (can chi) năm ... (can chi) đời vua... cháu đời thứ 7 là ..., cháu đời thứ 8 là ..., cháu đời thứ 9 là..., cháu đời thứ 10 là..., cháu đời thứ 11 là..., cùng mọi người trong tộc họ, kính cẩn dâng xôi thịt, nước, trầu cau cùng các lễ.


Kính cáo trước bài vị của: Hiển dưỡng tổ khảo, được phong tặng là Đặc tiến kim Tử vinh lộc Đại phu, Tán trị xứ Hưng Hóa, Tham chính sứ Thừa chính sứ ty, tước Triệu Nghĩa hầu, Lê tướng công, tên tự là Trực Tính, được ban thụy là Chất Hậu, rằng:


Có lễ tất cáo


Kính nhớ cụ Tổ


Nghiệp lớn kiệm cần


Ân sâu nuôi dưỡng


Lộc lưu cháu con


Cho đến ngày nay


Vào tiết cuối Đông


Ngày giỗ đã đến


Kính cẩn tế cáo


Tỏ chút lòng thành.


Kính cẩn dâng lên cụ Hiển thủy tổ khảo được phong là Đặc tiến kim Tử vinh lộc Đại phu, Thượng thư bộ Công, tước Phong Trạch hầu, Lê tướng công, tên tự là Phúc Thiện, được ban thụy là Ôn Nhân, cùng cụ bà họ Đào, được phong là Phu nhân, tên hiệu là Từ Thục, tên thụy là Trinh Ý.


 Cùng các Tổ khảo (các cụ ông), Tổ tỷ (các cụ bà) đời thứ 2, thứ 3, thứ 4, thứ 5 và thứ 6 đã nói rõ ở trước. Bài vị (bên đông, bên tây). Cùng các vị Phúc Thần và các vị Hậu thổ trên đất này cùng về hâm hưởng. 


- Hàng năm vào ngày 13 tháng 3 là ngày giỗ của Thủy tổ khảo, làm văn tế mùa Xuân:


Duy! Ngày 13 (can chi) tháng 3 (can chi) năm ... (can chi) đời vua... cháu đời thứ 7 là ..., cháu đời thứ 8 là ..., cháu đời thứ 9 là..., cháu đời thứ 10 là..., cháu đời thứ 11 là..., cùng mọi người trong tộc, kính cẩn dâng xôi thịt, nước, trầu cau cùng các lễ.


Kính cáo trước bài vị của: Hiển Thủy tổ khảo là ... rằng:


Có lễ tất cáo:


Kính nhớ cụ Tổ,


Dòng dõi Lý gia.


Danh truyền Đình Bảng,


Chuyển đến Vị Dương.


Sau không khảo được,


Chỉ chép đến đó.


Vùng đất Diên Hà,


Đời trước mở ra.


Lúc đầu may mắn,


Giữa chừng lao đao.


Tìm về hai em,


Họ tộc dài xa.


Chia đều của cải,


Tạo phúc vô biên,


Nghĩ tới công đức.


Trăm đời chẳng quên,


Nhân ngày giỗ tổ.


Đúng vào tiết Xuân,


Kính dâng văn tế


Tỏ tấc lòng thành.


Kính dâng lên các cụ tổ khảo, tổ tỷ đã nói rõ ở trên cùng về hâm hưởng.


- Hàng năm vào ngày 24 tháng 6 là ngày giỗ cụ Thủy tổ bà, dâng bài văn cáo:


Duy! Ngày ...  tháng... đời vua ....


Kính cẩn cáo trước bài vị của: Hiển thủy tổ tỷ là ... khấn rằng:


Năm tháng dần trôi,


Ngày giỗ đã đến.


Cảm kích nhớ tới,


Mãi mãi chẳng quên.


Kính cẩn dâng lên các cụ tổ khảo, tổ tỷ cùng về hâm hưởng.


- Hàng năm vào ngày 28 tháng 12 là ngày giỗ của cụ Hiển đệ nhị thế tổ (cụ tổ đời thứ 2), được phong là Đặc tiến kim Tử vinh lộc Đại phu, Thượng thư bộ Binh, tước Diên Xương hầu, Lê tướng công, tên tự là Phúc Lý, được ban thụy là Huy Cung, bao phong là Phúc thần Đại vương.


Trước bài vị khấn rằng.


Có lễ tất cáo:


Kính nhớ cụ tổ,


Tư chấthiếu hiền.


Địa lí tinh thông,


Nghiệp nhà chăm giữ.


Khởi dựng vô cùng,


Nay nhân ngày giỗ.


Đúng tiết mùa Đông,


Cảm kính nhớ đến.


Một chút lòng thành,


Xin về hâm hưởng.


- Hàng năm vào ngày mùng 2 tháng 12 là ngày giỗ cụ Hiển đệ nhị thế tổ (cụ tổ bà đời thứ 2) người họ Phạm, được phong ấm là Quận phu nhân, tên hiệu là Từ Kính, tặng thụy là Đoan Từ.


- Hàng năm vào ngày 26 tháng Giêng là ngày giỗ cụ Hiển đệ tam thế tổ (cụ tổ đời thứ 3). Cụ tổ đời thứ 3 đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn, là Đặc tiến kim tử Vinh lộc Đại phu, Nhập thị tả chính ngôn, Thượng thư bộ Hình, nắm giữ triều nghi, về hưu, sau đó lại được tái phục chức, phong là Thái bảo Hà quận công, Lê tướng công, hiệu là Văn Trinh tiên sinh, ban thụy là Trung Hiến, bao phong là Thượng đẳng Phúc thần Đại vương.


Cụ tổ bà đời thứ 3 họ Trương được ấm phong là Quận phu nhân, gia phong là Thái phu nhân, hiệu là Nhân Hậu.


* Cụ tổ đời thứ 4 đỗ Đệ nhất giáp Tiến sỹ cập đệ khoa Nhâm Thân, là Đặc tiến kim tử Vinh lộc Đại phu, Nhập thị đồng tham tụng chưởng phủ sự, hành hộ Phiên cơ mật viện, Chưởng đốc binh chính tài phú, Thượng thư bộ Công, Quốc sử tổng tài, phong tặng Thái phó Dĩnh quận công, Lê tướng công, hiệu là Minh Đạo tiên sinh, ban thụy là Văn Trung.


Cụ tổ bà đời thứ 4 họ Lê Hữu được ấm phong là Quận phu nhân, hiệu là Hiền Mục, ban tặng thụy là Đoan Hiếu.


 * Cụ tổ đời thứ 5 là Thị trung trực học sỹ, kiêm Thái thường tự khanh, bồi tụng sự vụ bộ Lễ, hành Sơn Nam thượng trấn hiệp trấn, thăng là Hữu tham tri bộ Lễ, tước Lãng Phái hầu, về trí sỹ, Lê tướng công, hiệu là Ôn Lương tiên sinh.


Cụ tổ bà đời thứ 5 họ Nguyễn được ấm phong là Chánh phu nhân, hiệu là Đoan Lương, ban tặng thụy là Hiệt Uyển.


Kế Chánh phu nhân họ Trương tên hiệu là Đoan Chính.


Kính cẩn dâng tiến:


*Cụ Thiếu tổ[5] đời thứ 2 - chi 2 Lê tam lang[6], hiệu là Phúc Ân tiên sinh.


*Cụ Thiếu tổ con trai cả họ Lê, đời thứ 3 - chi 3 (chi út), hiệu là Phúc Minh tiên sinh.


Các tôn linh được thờ tòng tự phía tây là:


*Cụ Thiếu tổ con trai cả họ Lê, đời thứ 4- chi thứ 2, Tri phủ phủ Trường Khánh, tước phong Gia Nghĩa tử, hiệu là Phúc Chiêu tiên sinh.


Các vị Thiếu tổ đời thứ 4 - chi 3 (chi út) như sau:


*Cụ đỗ Giải nguyên kì thi Hương, thụ chức Thị nội câu kê, tặng Tham chính xứ Quảng Yên, Lê tướng công, hiệu là Phúc Khánh tiên sinh.


*Cụ được triều đình ban là Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, từng nhậm chức Đốc đồng kiêm Tham hiệp nhung vụ, thăng thụ Thiêm đô ngự sử, tước Phụ Thành hầu, Lê tướng công, hiệu là Tốn Trai tiên sinh, ban thụy là thụy Ôn Nhượng.


*Cụ làm Hình hiến sát phó sứ, Khâm sai xứ Hải Dương thăng làm Thái bộc tự khanh, Lê tướng công, hiệu là Cương Chính tiên sinh. Cụ đỗ khoa Nhâm Tuất, Khâm sai Tri phủ phủ Lạng Giang, tước Tiến Đức hầu, Lê tiên sinh, tên hiệu là Minh Triết, tên thụy là Trung Hiếu.


*Cụ Thiếu tổ đời thứ 5 chi 2 đỗ Hương cống, nhậm chức Huấn đạo Nho học phủ Trường Khánh, Lê tiên sinh, hiệu là Lỗ Am cư sỹ, tên thụy là Thanh Thận.


Các vị Thiếu tổ đời thứ 5 - chi 3 (chi út) như sau:


*Cụ được phong tặng là Đặc tiến kim tử Vinh lộc Đại phu, Thái bộc tự khanh xứ Thanh Hóa, tước Hào Xuyên bá, Lê tướng công, hiệu là Văn Diễn tiên sinh, tặng tên thụy là Thông Mẫn, bao phong là Phúc thần Đại vương.


*Cụ đỗ Giải nguyên kì thi Hương, là Đại lí tự tự thừa, Quốc sử tu soạn, Lê tướng công, hiệu là Văn Nghị tiên sinh, bao phong là Phúc thần Đại vương.


*Cụ Thiếu tổ chi 2 đời thứ 6 là Giám sinh trường Quốc tử giám, thụ chức Huấn đạo huyện Ý Yên, Lê tiên sinh, hiệu là Trực Thành, tên thụy là Cung Doãn.


* Cụ Thiếu tổ chi 3 đời thứ 6, sắc ban Văn Lâm lang, Tri châu Mộc Châu và châu Lộc An ấn vụ Lê phủ quân, tên tự là Hòa Phủ, thụy là Công Mẫn.


*Cụ Thiếu tổ chi 2 đời thứ 6, làm Phấn uy Tướng quân Thần Vũ vệ, Thiên hộ phi kị úy đời nhà Lê, Lê tiên sinh, tự là Duy Mại, hiệu là Hùng Đoán.


*Cụ Thiếu tổ chi 3 đời thứ 5 là Nho sinh chánh võ úy, Phấn uy tướng quân, Lê tiên sinh, tự là Trọng Hoàn, hiệu là Cương Nghị.


Các vị Thiếu tổ đời thứ 6 như sau:


*Cụ ông họ Lê làm Thủ hợp, tên tự là Huy Đĩnh, tên hiệu là Quả Đoán


*Cụ ông con trai cả họ Lê làm Tú lâm cục, tên tự là Trọng Hàm.


Kính thỉnh: Các vị tiên tổ khảo tỷ họ nội về hâm hưởng.


 Lại kính thỉnh các vị tiên tổ khảo tỷ họ ngoại, họ Đào, họ Phạm, họ Trương cùng về hâm hưởng.


*Cụ ông họ Lê, hiệu là Phúc Hiền.


*Cụ ông họ Lê, tên hiệu là Phúc Nhã.


*Cụ ông họ Lê làm Hiệu sinh tên tự là Hữu Bản.


*Cụ ông họ Lê làm Hiệu sinh, tên tự là Hữu Đăng.


*Cụ Thiếu tổ đời thứ 2 hệ nhà bác, con trai thứ 2 họ Lê, hiệu Phúc Lương.


*Cụ Thiếu tổ đời thứ 2, thúc hệ, là con trai thứ 4 họ Lê, hiệu là Phúc Điền.


* Cụ là con trai thứ 1 họ Lê, hiệu là Phúc Vinh.


*Cụ Thiếu tổ đời thứ 3, trọng hệ (chú), là con trai thứ 2 họ Lê, hiệu là Phúc Doãn.


*Cụ Thiếu tổ đời thứ 3, thúc hệ họ Lê, hiệu là Phúc An tiên sinh.


*Cụ Thiếu tổ đời thứ 4, hệ giữa con trai cả họ Lê, hiệu Phúc Khánh.


*Cụ con trai thứ 3 họ Lê, làm Huyện thừa, hiệu là Phúc Đạo.


*Cụ con trai thứ 4 họ Lê (chú), làm Huyện thừa, hiệu là Phúc Thực.


*Cụ Thiếu tổ đời thứ 4, thúc hệ họ Lê, hiệu là Phúc Tâm.


Các vị Thiếu tổ đời thứ 4 - chi 3 (chi út) như sau:


*Cụ con trai cả họ Lê, làm Thủ hợp, hiệu là Phúc Long.


*Cụ con trai thứ 2 họ Lê, làm Vệ úy, tên hiệu là Phúc Chính.


*Cụ con trai thứ 6 họ Lê, làm Trung úy, tên hiệu là Phúc Lộc.


*Cụ con trai thứ 7 họ Lê, làm Trung úy, hiệu là Quý Bằng.


*Cụ con trai thứ 8 họ Lê, làm Mậu Lâm lang, tự là Quý Ngạc, hiệu là Tiết Nghị.


Các vị Thiếu tổ đời thứ 5 - chi 2 như sau:


*Cụ ông họ Lê, tên tự là Hữu Thường, tên hiệu là Thiện Chính.


*Cụ con trai thứ 2 họ Lê, làm Nho sinh, tên tự là Trần Hoan.


*Cụ con trai thứ 4 họ Lê, làm Huyện thừa, tên tự là Trọng Hân.


*Cụ con trai thứ 5 họ Lê, làm Vệ úy tên tự là Trọng Huyên.


*Cụ con trai thứ 6 họ Lê, quan Viên tử , tên tự là Duy Thanh.


*Cụ con trai cả họ Lê, là Sinh đồ, tên tự là Bá Giao.


*Cụ con trai thứ 2 họ Lê, làm Điện tiền Ty ngục thừa, tên tự Đình Lâm.


*Cụ con trai cả họ Lê, làm Bá hộ tên tự là Đình Điềm.


*Cụ con trai thứ 2 họ Lê, làm Bá Hộ, tự là Đình Tiên.


*Cụ con trai thứ 3 họ Lê, làm Tiên chỉ tự là Đình Tộ.


*Cụ con trai thứ 4 họ Lê, là Hương lão tự là Đình Dị.


*Cụ Thiếu tổ đời thứ 5, chi 2, con trai thứ 3 họ Lê, tự là Phúc Thái.


Các vị Thiếu tổ đời thứ 5- chi 3 như sau:


*Cụ con trai cả họ Lê, làm Cai hợp, tự là Đình Cao, hiệu là Phúc Hiển.


*Cụ con trai thứ 2 họ Lê, tự là Đình Cơ, hiệu là Pháp Trí.


*Cụ con trai thứ 3 họ Lê tên tự là Đình Vi.


*Cụ con trai cả họ Lê, tên tự là Đình Toản, hiệu là Phúc Huệ.


*Cụ con trai thứ 2 họ Lê, tên tự là Đình Nguyên.


*Cụ con trai thứ 3 họ Lê, tên tự là Đình Dục, hiệu là Phong Nhã.


*Cụ con trai thứ 4 họ Lê, tự là Đình Chiếm, ấm phong là Hoằng tín đại phu, chức Đông cung Thị nội thư kí, tước Uy Chính bá, hiệu là Mai Đình.


*Cụ họ Lê, làm Quan viên phụ, tên thụy là Đôn Giản, hiệu là Thành Chí.


*Cụ con trai thứ 2 họ Lê, làm Nho sinh, tự là Quý Vĩ, hiệu là Cương Nghị.


*Cụ con trai thứ 4 họ Lê, làm Tổng trưởng, tước Quỳnh Ngọc nam, tên hiệu là Cương Phương.


*Con trai thứ 5 họ Lê, Chiêu Văn quán, tên tự là Quý Túc, hiệu là Phúc Thụy.


*Con trai cả họ Lê, làm Quan viên tử , tự là Quý Dung, hiệu là Tuyên Từ.


*Con trai thứ 2 họ Lê, làm Tả đồn tham luận, tự là Quý Độ, hiệu là Nhã Trai.


*Con trai thứ 3 họ Lê, làm Quan viên tử, tự là Trung Ngạn, hiệu là Thành Mẫn.


*Con trai thứ 6 họ Lê, làm ở Tú lâm cục, tự là Quý Loan, hiệu là Phúc Tường.


*Con trai cả họ Lê, làm Tổng trưởng, tự là Duy Thung, hiệu là Xuân Trường.


*Con trai thứ 3 họ Lê, là Hương lão, tự là Duy Thực, hiệu là Trung Thành.


*Cụ Thiếu tổ đời thứ 6, chi 2 họ Lê, tên tự là Trọng Trương, hiệu là Thuần Hậu.


*Cụ Thiếu tổ đời thứ 6, chi 3 con trai cả họ Lê, tên tự là Quý Sử.


*Con trai cả họ Lê, làm ở Chiêu Văn quán, hiệu là Phúc Đạt.


Kính thỉnh các vị Thiếu tổ đời thứ 7- chi 3 như sau:


*Con trai thứ 2 họ Lê, làm Suất đội, hiệu là Ôn Nhu.


*Con trai thứ 2 họ Lê, làm Trưng sỹ, tự là Duyệt Chi, hiệu là Lan Đình.


*Con trai cả họ Lê, là Hương lão, tự là Quý Soái.


Kính lạy: Các vị Phúc thần cùng các vị Hậu thổ tại đất này cùng về hâm hưởng.


Văn tế cụ Tổ khảo đời thứ 3: Theo bài văn cúng ngày giỗ cụ Tổ đời thứ 2, trước bài vị khấn rằng: 


Có lễ tất cáo:


Kính nghĩ cụ Tổ,


Tích phúc nhân từ.


Khoa cử mở đầu,


Vẻ vang sau trước.


Phả không ghi xuể,


Nay gặp ngày giỗ.


Đúng dịp tiết Xuân,


Nhớ tới tổ tiên.


Lòng thành bày tỏ,


Kính thỉnh các vị tổ khảo, tổ tỷ như trên.


Văn tế khánh thành Từ đường ngày ... tháng 2 năm Mậu Dần, niên hiệu Bảo Đại 13 (1938).


Trước bài vị khấn rằng:


Ngày tốt khánh thành.


Có lễ tất cáo.


Kính nghĩ tổ tiên,


Nếp nhà hiếu nghĩa,


Nổi tiếng trung thành.


Khoa cử vẻ vang,


Tiếng thơm muôn thuở.


Vào tiết trọng Xuân,


Tu sửa Từ đường.


Tập hợp thuê thợ,


Lễ mỏng dâng lên.


Xin về chứng giám,


Tỏ rõ lẽ thường.


Kính thỉnh các vị.


Oanh hót hoa tươi, thiều quang rang rỡ, gửi vào tấc giấy, chúc mùa xuân về, kính khải việc bản tộc trùng tu gia miếu, đón thợ tu sửa, bày biện cỗ bàn, đặt yên thần vị, thiết nghĩ việc thờ cúng phải có nơi, coi hậu điển lễ, giữ trọng nhân luân, về đây ca hát, cùng là báo công, sùng kính ơn đức tổ tiên, lễ mỏng kính dâng.


Ngày ... tháng ..., cùng nhau hội họp cáo yết, họ Lê Quý kính thỉnh cùng về chứng giám.


Lại kính thỉnh Thổ địa của bản tộc:


Thiều quang rực rỡ,


Chúc mùa xuân vui.


Kính tại:


Từ đường đại tôn,


Các vị khai sáng,


Từ đời Lê sơ.


Trải qua các đời,


Gần hai trăm năm.


Đến nay đã lâu,


Từ đường mục nát.


Chưa lần tu sửa,


Trên rất linh thiêng.


Vậy thì:


Trên là đối với tổ tiên linh thiêng trên trời, dưới không lấy gì để an ủi nỗi hoài vọng của con cháu họ tộc.


Nay đã sửa sang, tập trung thợ khéo, chọn ngày ... tháng ... năm ... khởi công. Công việc hoàn tất, kính các vị trong họ tộc đến làm lễ bái yết ngày ... tháng ... năm ...


Bản tộc viết tại xã Phú Hảo, đệ trình lên bậc Tôn trưởng cùng các vị trong họ tộc tại quý xã chứng giám.


Hà Nội, ngày 8 tháng 10 năm 2010


       Người dịch: Ths. Nguyễn Kim Măng


Hiệu đính: PGS.TS Đỗ Thị Hảo


Viện Nc. Hán Nôm xác nhận bà Nguyễn Kim Măng


Bà Đỗ Thị Hảo (nguyên) là cán bộ của Viện.








[1] Mất chữ.




[2] Cụ tổ nuôi.




[3] Là đơn vị đo lường thời xưa, ở đây là các loại đấu đong dùng để đong thóc.




[4] Đơ vị tiền tệ thời Nguyễn, mỗi tiền tương đương một hào.




[5] Chỉ những người ở các chi thứ.




[6] Lê tam lang tức con trai thứ 3 nhà họ Lê, cũng như Lê nhất lang là con cả, Lê nhị lang con thứ 2, Lê tứ lang con thứ 4 ...



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Stalin và vấn đề ký ức lịch sử của nước Nga - Tư liệu sưu tầm 23.09.2017
Sau vụ xử Bạc Hy Lai: Tham nhũng có đe dọa tương lai Trung Quốc? - Tư liệu 21.09.2017
Một Việt Nam khác? Vương quốc họ Nguyễn ở thế kỷ 17 và 18 - Li Tana 19.09.2017
Chuyến du lịch Việt Nam của vị Nga Hoàng cuối cùng - Tư liệu sưu tầm 19.09.2017
Franklin Roosevelt – Người duy nhất đắc cử ba nhiệm kỳ tổng thống Mỹ - Tư liệu sưu tầm 18.09.2017
Tưởng Giới Thạch – Tổng thống Trung Hoa Dân quốc - Tư liệu sưu tầm 18.09.2017
Mao Trạch Đông trong mắt người Trung Quốc hiện nay - Lý Lỵ & Chương Lập Phàm 18.09.2017
Huyện Kiên Lương: Vững vàng hội nhập và phát triển/ Du lịch đảo ở Kiên Lương - Nhiều tác giả 17.09.2017
Huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang - Tư liệu 17.09.2017
Vài ký ức về ba tôi: Bộ trưởng Vũ Trọng Khánh - Vũ Trọng Khải 10.09.2017
xem thêm »