tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18420819
Những bài báo
19.01.2011
Tư liệu
Phùng Quán vẫn sống mãnh liệt trong lòng bạn đọc

Vừa qua bạn đọc trong nước, người Việt ở nước ngoài vui mừng trước sự kiện di hài hai vợ chồng thi sĩ Phùng Quán được đưa về quê theo di nguyện của ông lúc còn sống. Người đứng ra thực hiện di nguyện này là nhà thơ Ngô Minh ở Huế và bạn bè văn chương. Thưa bạn đọc, nhà thơ Ngô Minh, khách mời tuần này của chúng tôi.


 


Nguyễn Minh Sơn (NMS): Xin nhà thơ cho biết lý do ông thực hiện di nguyện của thi sĩ Phùng Quán?


 


Ngô Minh (NM): Đúng là anh Phùng Quán sinh thời luôn khao khát trở về quê mẹ. Phùng Quán trốn mẹ đi theo đội trinh sát thiếu niên của Trung đoàn 101 Trần Cao Vân ở Huế năm 14 tuổi, cho đến khi qua đời ở tuổi 64 (1995) anh xa quê tới 50 năm. 16 năm từ sau khi bị trọng bệnh qua đời, vì còn vợ con, nên mộ Phùng Quán vẫn an toạ ở nghĩa trang quê vợ là làng Kiều Mai, xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Như vậy, cuộc đời Phùng Quán đã xa quê tới 66 năm.


 


       Có lần vô Huế chơi, anh mơ sở hữu một chiếc đò nhỏ để trong những ngày cuối đời, được đêm ngày câu cá uống rượu đọc thơ với bạn bè dọc Sông Hương. Năm 1994, trước khi qua đời một năm, về quê xây mộ ba mẹ (là ông Phùng Nguyện và bà Tôn Nữ Thị Tứ) ở trên vùng đồi ở phía tây Thuỷ Dương, nhà thơ đã tự đắp cho mình cái mộ gió cạnh mộ ba mẹ. Anh bảo rằng: Đây là chỗ mình nằm! Cái mộ gió ấy đến nay vẫn còn.


 


Trong những ngày cuối đời, nhà thơ cũng bày tỏ nguyện vọng được được cùng vợ về nằm giữa lòng đất mẹ Thủy Dương. Đối với tôi, Phùng Quán luôn là một nhà văn cốt cách nghĩa khí, một chiến sĩ Vệ quốc đoàn cương trực, quyết liệt, một thi sĩ tài hoa ngất ngưỡng và một nhân cách cao cả. Dù đời anh có quá nhiều tai ương, đau khổ, 30 năm bị “treo bút”, nhưng anh vẫn giữ vững bản lĩnh một nhà văn chiến sĩ: “Ngay thẳng tột cùng/sự ngay thẳng thuỷ chung/của mỗi dòng chữ viết “. Phùng Quán đã để lại hàng chục tác phẩm được nhiều thế hệ bạn đọc mến mộ, được tái bản hàng chục lần. Trong đó những bài thơ Lời mẹ dặn, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe, tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội, tạp văn Ba phút sự thật… là những tác phẩm để đời.


 


Đối với tôi, anh Quán là một người anh bao dung, nhân hậu. Tôi ra Hà Nội dù cơ quan có phòng khách vẫn luôn ở nhà anh. Hàng ngày anh đi chợ Châu Long về cởi trần nấu cơm. Khi tôi vô Huế, anh thức đêm nấu cơm, lấy lá chuối hơ nóng rồi gói cơm nắm, vót cật tre làm dao, cho sáng mai tôi mang theo ăn đường “cho an toàn”. Trong các cuộc nhậu ở Huế hay bất cứ đâu, anh không bao giờ sai đàn em đi mua thêm rượu hay thêm mồi. Hết rượu, hết mồi anh lẳng lặng mang dép lốp cao tổ bố đi mua. Vì thế tôi rất kính trọng và yêu quý anh Phùng Quán như anh trai của mình. Sau khi anh qua đời, tôi đã sưu tầm biên soạn ba cuốn sách để khẳng định chỗ đứng của anh trong lòng bạn đọc: Nhớ Phùng Quán (NXB Trẻ 2002), Phùng Quán còn đây (biên soạn cùng chị Bội Trâm, NXB Văn nghệ 2007), tổ chức bản thảo và viết lời giới thiệu cuốn tản văn Ba phút sự thật (Văn nghệ, 2007). Những cuốn sách đó được bạn đọc đánh giá rất cao. Nhưng tôi chưa có dịp để thực hiện việc đưa anh về quê.


 


Sau khi bà Vũ Thị Bội Trâm, người vợ sắt son chung thuỷ của nhà thơ Phùng Quán tạ thế (15.8.2010), nguyện vọng “về quê mẹ” của nhà thơ được con gái Phùng Đỗ Quyên cùng chúng tôi thực hiện. Bình tro hài cốt bà Vũ Bội Trâm hiện đang gửi ở Nghĩa trang Văn Điển, Hà Nội, chờ ngày cùng về quê với chồng. Cháu Phùng Đỗ Quyên, con gái nhà thơ đã thực hiện nhiều bước để đưa bố mẹ về quê nội. Đầu tiên là xin ý kiến và được hai họ, nhất là họ Vũ ở Hà Nội đồng ý. Tôi rất mừng. Ở Huế tôi nhờ bác sĩ Dương Đình Châu, nhà văn Nguyễn Đắc Xuân đi tìm đất mộ ở các chùa, nghĩa trang ở Huế. Nhưng bà con họ Phùng ở Thủy Dương bảo Phùng Quán phải về Thủy Dương. Thế là chính quyền Thủy Dương đã nhanh chóng ký giấy cấp đất. Cháu Đỗ Quyên cùng tôi và anh Phường Phướn, Phùng Quý Giáp, Nguyễn Thanh Cường (con rể họ Phùng), đã đến tận khu nghĩa trang Ngoại Viên Hưng để chọn đất. Đây là khu đất rất thơ mộng, nằm cạnh con đường nhựa từ Thuỷ Dương cắt QL1A lên đường tránh Huế. Người viếng mộ Phùng Quán có thể đi ô tô đến tận nơi. Phía tây có núi, có đồi thông, có hồ nước xanh trong. Thầy địa lý cho biết, theo thuật phong thuỷ thì đây là nơi đại cát, người có nhân cách lớn mới được nằm ở đây.


 


Trong Lễ an vị hương linh vợ chồng nhà thơ Phùng Quán tại nhà thờ gia đình ở Thủy Dương ngày 11.9.2010, tôi đã xin phép ông Trưởng họ Phùng cho anh em văn nghệ sĩ được góp một phần kinh phí xây lăng mộ Phùng Quán – Bội Trâm khi đưa về đất mẹ. Ông trưởng họ Phùng đã hoan nghênh ý kiến của tôi. Muốn góp phải có ít nhất vài ba chục triệu. Thế là tôi nghĩ ngay việc viết thư kêu gọi “Hãy góp chút cát đá xây lăng mộ Phùng Quán – Bội Trâm” trên internet. Trong thâm tâm tôi, việc kêu gọi “góp cát đá” là để một là một lần nữa tôn vinh nhà văn đã có những tuyên ngôn nổi tiếng: “Đã đi với nhân dân thì thơ không thể khác”, hay Yêu ai cứ bảo rằng yêu/ Ghét ai cứ bảo là ghét/ Dù ai cầm dao dọa giết/ Cũng không nói ghét thành yêu…”. Hai là dịp “sát hạch” xem thương hiệu Phùng Quán trong lòng độc giả bốn phương có còn sâu đậm như hồi anh còn sống không. Thứ ba mới đến việc có thêm ít kinh phí để góp với cháu Quyên, họ Phùng xây lăng mộ vợ chồng nhà thơ cho đàng hoàng. Thế mà cả ba mục đích đều thành công ngoài mong đợi.


 


NMS: Công việc cụ thể ra sao (tấm lòng của những người quyên góp cát đá)?


 


NM: Nhờ lời kêu gọi Góp cát đá… được công bố trên các trang mạng “nóng” như Bauxite Việt Nam, trannhuong.com; lethieunhon.com, blog quechoa của bọ Lập, rồi các trang mạng khác liên tục “nối bản”, nên có rất nhiều người đọc. Việc góp cát đá chỉ giới hạn trong tháng 10 và 11.2010, nhưng đến ngày 12.1.2011 tôi vẫn nhận được “cát đá” của vợ chồng nhà thơ Du Tử Lê từ Mỹ gửi về. Và số “cát đá” mọi người từ các nước Việt Nam, Mỹ, Úc, Canada, Pháp, Thụy Sĩ, Ba Lan… tự nguyện góp gấp gần chục lần mong ước của tôi (220 triệu đồng). Số tiền mọi người hỗ trợ đủ để lo toàn bộ việc xây lăng mộ và di chuyển hài cốt, lễ an táng vợ chồng anh Quán và còn 100 triệu đồng để lập “Quỹ Phùng Quán” để hàng năm trao phần thưởng cho các em học sinh xuất sắc của Thủy Dương quê hương anh. Tuy nhiên, do đất hẹp (chỉ 28 m2, kể cả 10 m2 chúng tôi tự ý mở rộng, phải nộp phạt 1 triệu đồng) và số tiền giới hạn, nên khu lăng mộ bị hạn chế diện tích.


 


Có nhiều chuyện cảm động trong việc góp cát đá. Nhà thơ Võ Quê ở Huế, vợ là chị Tiểu Kiều, đau thận phải chạy thận nhân tạo rất tốn kém suốt hai năm trời (chị Tiểu Kiều đã qua đời hôm 6.12.2010 ), thế mà anh cũng góp tiền xây lăng mộ Phùng Quán. Thật cảm động. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường nằm một chỗ, bảo tôi: “Cho mình góp với”. Tôi bảo Lâm Thị Mỹ Dạ đã góp rồi. Thế mà từ đó mỗi lần tôi đến nhà, anh đều hỏi: “Góp cát đá xây lăng Phùng Quán đến mô rồi?”. Ở Huế có anh Hoàng Trọng Định, một người làm thơ, bị bọn xấu tạt axít đến cong queo tay chân, hàng ngày người nhà phải nuôi, thế mà Định vẫn tìm đến góp “cho bác Quán” 50 ngàn đồng. Tôi cầm đồng tiền mà ứa nước mắt. Nhà thơ Bùi Minh Quốc ở Đà Lạt là người gửi tiền về sớm nhất. Ngày 1.10 kêu gọi, thì ngày 5.10 anh đã chuyển tiền vào TK. Nhà văn Cao Duy Thảo ở Nha Trang, lương hưu ba cọc ba đồng vẫn trích 1/3 lương tháng 10 để góp cát đá. Một người phụ nữ Huế ở Mỹ nhờ đứa cháu ở Huế tìm đến nhà tôi gửi hai triệu đồng để tỏ tấm lòng đối với nhà văn Phùng Quán, nhưng không nói tên thật, chỉ đề nghị ghi trong danh sách là Hoa Bèo. Anh Tạ Duy Hinh, chỉ mấy ngày đầu tháng 10 đã hô hào bạn bè góp được 15 triệu, ngày 7.10.2010 đã gửi tiền vào TK. Tôi không biết anh ấy ở Hà Nội hay Sài Gòn, thậm chí anh chẳng điện thoại bao giờ.


 


Nhà văn Nguyễn Quang Lập và nhà báo Huy Đức thì quá vất vả. Tiền chuyển vào tài khoản nhưng nó không hiện tên lên, chỉ hiện số tiền 2,5 triệu. Điện thoại qua về liên tục. Tôi ra ngân hàng sao cả danh sách gửi tiền, bắt họ ký đóng dấu, gửi thư EMS vào để Lập đến ngân hàng hỏi. Đến năm bảy ngày người ta mới phát hiện ra là gửi tiền không thuộc hệ thống cùng ngân hàng thì ít khi hiện tên và nội dung gửi. Thế là phải nhờ mấy o nhân viên BIDV Huế ở Bến Ngự lên BIDV trung tâm tra cứu, mới tìm ra. Chị Khánh Trâm ở Phân viện VHNT Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh cũng vậy. Tìm không ra tên. Chị phải gửi cả bản phôtô phiếu gửi tiền ra cho Ngô Minh để đi tra cứu. Thế mà hai tuần sau chị lại gửi tiền góp cát đá một lần nữa. Chị điện cho tôi: “Đây là tiền góp của anh Trần Hải, chồng em!”. Vợ chồng anh Tôn Gia Khai – chị Minh, chỗ quen biết của vợ chồng tôi ở Ba Lan đọc blog Ngô Minh biết có cuộc góp cát đá, cũng nhiệt tình điện đi điện lại mới biết được địa chỉ để gửi tiền qua dịch vụ Western Union. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã góp cát đá trong cuộc họp BCH Hội Nhà văn VN khóa VIII gồm 15 “nhà văn ưu tú”, còn gửi riêng năm triệu nữa với tin nhắn: “Với Phùng Quán bao nhiêu cũng không đủ”. Cô gái trẻ Lê Xuân Quỳnh ở Hà Nội, một người yêu thơ, sưu tập nhiều thơ hay, thơ thiền, đã rất sốt sắng với việc góp cát đá. Sốt sắng đến nỗi bận đi công tác ở Quảng Ninh cũng ra phố Hạ Long tìm ngân hàng để gửi tiền.


 


Có cô giáo trẻ ở Quảng Trị có cái tên rất đẹp, gửi thư thường cho tôi, trong thư bỏ một triệu đồng bọc trong tờ giấy trắng ghi mấy chữ: “Đề nghị chú Ngô Minh lên danh sách thì ghi “Cô giáo Quảng Trị mến mộ Phùng Quán, đừng ghi tên thật”. Anh Hà Dương Tường ở Pháp cũng email cho tôi anh sẽ vận động anh em nhóm thân hữu báo Diễn Đàn ở Pháp, Mỹ, Thụy Sĩ “góp cát đá” vì rất nhiều người mến mộ Phùng Quán. Có một số anh đã có tên trong danh sách. Nhưng nhiều người không muốn ghi danh tính. Coi như người đọc vô danh mến mộ Phùng Quán.


 


Nhóm “đồng môn” với chị Bội Trâm ở Sài Gòn gồm bảy người như anh Lê Văn Bài, chị Ngô Thị Hà Châu, Nguyễn Thị Dư Khánh, v.v. dự kiến gửi tiền từ tháng trước, nhưng vì anh Lê Văn Bài ốm đi viện cấp cứu. Thế mà tỉnh lại anh Bài liền nhắc gửi cát đá xây lăng mộ Phùng Quán. Người góp số tiền cao nhất là anh Lê Văn Hải, người Quảng Trị, sống ở Sài Gòn. Đây là người vô cùng yêu mến và kính trọng nhà thơ Phùng Quán. Năm 1992, hồi Lê Văn Hải làm ở công ty mì Vifon, anh tuyên bố sẽ cung cấp mì ăn liền để Phùng Quán ăn đến cuối đời. Thế là cứ một tuần lại có anh ở đại lý mì Vifon ở Hà Nội chở một thùng mì ăn liền đến chòi ngắm sóng của Phùng Quán. Trong danh sách góp cát đá có nhiều người nổi tiếng như NSND – đạo diễn Đặng Nhật Minh, nhà thơ Du Tử Lê, Bùi Minh Quốc, GS.TS toán Đỗ Long Vân (tiến sĩ không muốn nêu tên trong danh sách Góp cát đá công bố trên mạng), GS.TS toán Nguyễn Xuân Tấn… hoặc con của những người nổi tiếng như các con cụ Tôn Quang Phiệt, con cụ Trần Duy Hưng…


NMS: Xin nhà thơ cho biết gia cảnh hiện nay của thi sĩ Phùng Quán.


 


NM: Gia cảnh hiện nay của nhà thơ Phùng Quán rất buồn. Bố mẹ mất, hai đứa con mỗi người một nước. Anh Quán có hai người con. Con gái tên là Phùng Đỗ Quyên, sinh năm 1962, lấy chồng người Lào do hai người quen biết nhau ở Liên Xô cũ. Quyên đi phiên dịch tiếng Nga cho cho Đội công nhân xuất khẩu lao động của Hà Nội, còn Khăm Phết (tiếng Lào nghĩa là “vàng ngọc”) là sinh viên đi học ngoại giao. Hiện vợ chồng có hai con gái, định cư ở Viên Chăn. Khăm Phết làm việc ở Bộ Ngoại giao Lào. Còn con trai là Phùng Quân, sinh năm 1965, đến nay vẫn chưa có vợ, chưa giúp được gì cho gia đình vì cháu bị bệnh. Ngay cả khi cải táng và an táng bố mẹ ở Huế, cháu cũng không vào được.


NMS: Thưa nhà thơ, đến thời điểm này, ông có thể chắc chắn tin rằng dù ở đâu, hoàn cảnh nào, giá trị của đích thực của một nhà thơ chân chính sẽ được công nhận và đánh giá công bằng?


 


NM : Sau đợt kêu gọi góp cát đá xây lăng mộ Phùng Quán – Bội Trâm, điều tôi vô cùng thấm thía là: Phùng Quán vẫn sống mãnh liệt trong lòng bạn đọc người Việt từ khắp nơi trên thế giới. Tôi nhận ra sức sống trường tồn của “thương hiệu Phùng Quán”. Anh mãi mãi được các văn nghệ sĩ, trí thức, các thế hệ độc giả Việt Nam trong và ngoài nước yêu mến, kính trọng. Đó là niềm hạnh phúc , là phần thưởng lớn nhất đối với một nhà văn “đi với nhân dân”, “viết vì nhân dân”. Đúng là, dù ở đâu, hoàn cảnh nào, giá trị của đích thực của một nhà thơ chân chính sẽ được nhân dân và lịch sử công nhận và đánh giá công bằng.


NMS: Ông có thể nói gì với bạn đọc mến mộ thi sĩ Phùng Quán?


 


NM : Tôi vô cùng biết ơn các trí thức, văn nghệ sĩ, những người ngưỡng mộ Phùng Quán trên khắp thế giới đã nhiệt tình góp cát đá cùng tôi lo chỗ nằm đàng hoàng, vĩnh cửu cho vợ chồng nhà thơ Phùng Quán – nhà giáo Bội Trâm trên mảnh đất nhà thơ đã sinh ra. Bởi thế mà tôi đã khắc vào bình phong bia mộ câu “thân hữu văn chương và những người ngưỡng mộ trên khăp thế giới cùng gia quyến đồng phụng lập“. Chúng tôi đã có biển chỉ đường cắm ở bên QL1A địa phận Thủy Dương, Hương Thủy, cách Huế 3 km: “Mộ nhà văn Phùng Quán 3km”. Chúng tôi cũng đã xây tam cấp cho những người già dễ dàng leo lên đồi. Tôi mong mọi người mỗi khi ghé Huế hãy đến thăm lăng mộ và thắp cho vợ chồng nhà thơ Phùng Quán một nén tâm lòng, uống cùng hương hồn nhà thơ một ly rượu “quốc lủi”, và thứ lỗi cho chúng tôi về những ý tưởng chưa thực hiện được ở lăng mộ Phùng Quán vì “lực bất tòng tâm”.


NMS: Vâng, cảm ơn nhà thơ và hy vọng ý tưởng tốt đẹp trên được sớm thực hiện.


Nguồn: nguyentrongtao

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Huyền thoại tắm tiên Tây Bắc - Trần Vân Hạc 22.03.2017
Thi hoa hậu trong động Thiên Đường? - Nhiều tác giả 22.03.2017
Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ sau gần 50 năm ẩn dật - Lam Điền 20.03.2017
Người già chật vật kiếm sống và thách thức với kinh tế Việt Nam - Tư liệu 19.03.2017
Cần chính sách đãi ngộ xứng đáng - Nguyễn Mộng Giao 19.03.2017
Ghét người giầu, tiêu diệt người giầu như Pol Pot hay là khuyến khích họ, không làm hư hỏng họ?! - Nhiều tác giả 19.03.2017
Thu phí vỉa hè, Việt Nam có nên học người Pháp? - Tư liệu 16.03.2017
Cố nhà văn Hoài Anh đi xa đã 6 năm! - Nhiều tác giả 15.03.2017
Nhà văn Hoài Anh: Khi viết, tôi luôn tôn trọng lịch sử - Trần Hoàng Nhân 15.03.2017
​Gần 500 cựu chiến binh Trường Sa tưởng nhớ sự kiện Gạc Ma - Tư liệu 15.03.2017
xem thêm »