tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19332465
Lý luận phê bình văn học
19.01.2011
Tư liệu
hai bài rất nên đọc về thể loại Tiểu thuyết

Tại sao chúng ta đọc tiểu thuyết?


Héloise Lhérété


Tại sao chúng ta đọc Bà Bovary hay Mật Mã Da Vinci? Sao lại say mê những câu chuyện hoàn toàn bịa đặt? Khóc cho số phận của những nhân vật không có thật làm gì? Giải trí không phải là đóng góp duy nhất của văn chương. Bằng sự hư cấu, văn chương mở rộng kinh nghiệm của chúng ta, ban cho chúng ta một cái nhìn khác về thế giới và về chính mình.


 


  Tiểu thuyết đang còn rất sung sức. Tại  Pháp, số lượng tiểu thuyết bán ra nhiều  gấp sáu lần các loại sách về xã hội nhân văn, đó là chưa tính đến văn học dành cho thanh thiếu niên vốn rất dồi dào. Sao lại có sự thành công như vậy? Trả lời câu hỏi này thật không phải dễ. Tiểu thuyết không có tham vọng hướng đến sự thật, cũng không có ý đồ bảo đảm tính khách quan. Đọc tiểu thuyết đòi hỏi một sự nỗ lực trong nhiều giờ, nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần. Kết quả là gì? Được lợi gì? Người ta tìm tìm gì trong tiểu thuyết, những gì mà người ta không thể thấy trong các loại sách lý thuyết hay thực hành, trong phim ảnh cũng như trong vô số các loại hình giải trí mà người tiêu thụ ngày nay có thể có?


 


Cái đặc thù, cái phù du, cái bé bỏng


Trước khi bắt đầu cuộc khảo sát này, chúng ta thử tìm hiểu xem “tiểu thuyết” là gì? Khi nói đến tiểu thuyết là khi người ta nói về cái gì? Đằng sau hai chữ này có nhiều loại văn bản khác nhau: tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết tả thực, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết nhiều kỳ, tiểu thuyết thư tín, tiểu thuyết nhà ga, tiểu thuyết dành cho phụ nữ, tiểu thuyết dành cho thiếu nhi, tiểu thuyết kiếm hiệp, Phu nhân de Lafayette, Marcel Proust, Guillaume Musso… Chúng ta thường có cám dỗ là loại trừ ra khỏi thể loại tiểu thuyết truyện ngụ ngôn, truyện kể, truyện ngắn, truyện vừa, hồi ký. Nhưng đôi khi, chúng ta chấp nhận những hình thức tự sự mới được lưu hành trên internet hay điện thoại di động. Danh mục này không phải khi nào cũng có tính thuyết phục. Cảnh báo của Guy de Maupassant vẫn luôn có giá trị: “Tôi thấy nhà phê bình dám viết “cái này là tiểu thuyết và cái kia không phải là tiểu thuyết” có một sự sáng suốt rất giống với sự bất tài”(1).


Vậy là tiểu thuyết luôn ở số nhiều, đó là lý do tại sao không có lý do nguyên nghĩa nào giải thích tình yêu mà bạn đọc dành cho tiểu thuyết. Vốn là một thể loại luôn luôn biến hóa, tiểu thuyết chỉ có một thuộc tính không thay đổi, đó là tính hay thay đổi. Cho dù chuyển tải rất nhiều kiến thức và có thể chuyên chở những tham vọng lý thuyết, tiểu thuyết vẫn là một trong những diễn ngôn ít mang tính khoa học nhất. Tiểu thuyết không trình bày sự kiện, không khai thác khái niệm và không suy diễn ý niệm. Đối lập với tính chặt chẽ của khoa học, tiểu thuyết được đặc trưng bởi sự bấp bênh và tính khôn lường. Đối lập với tính toàn cầu và tính khái niệm, tiểu thuyết dựng lên tính đặc thù, tính phù du, sự bé bỏng, tính dục, cái duyên kỳ ngộ, nhịp đập của con tim, tình cảm mãnh liệt hay cãi cọ to tiếng... Vì thế mới có xu hướng xem việc đọc tiểu thuyết là một trong những hoạt động giải trí, thậm chí tình cảm, nơi mà những cuốn sách mang tính giáo huấn hơn lại được xếp vào gian hàng sách tri thức. “Lĩnh vực tri nhận đích thực là lĩnh vực khoa học, Ronald Shusterman, một chuyên gia mỹ học, khẳng định. Sách truyện không bao giờ chuyên chở nhận thức(2).”


 


Hiểu biết con người hơn


Mặc dù thế, có nhiều tiếng nói cất lên khẳng định “quyền lực phát hiện” hay “sức mạnh tri nhận” của văn chương. Điều mà chúng ta tìm kiếm trong tiểu thuyết, đó có lẽ là để “hiểu hơn” con người, thế giới, cuộc sống. Vì thế mà Tzvetan Todorov cho rằng “văn học là môn khoa học nhân văn hàng đầu”. Gérard Genette, Jean-Marie Schaeffer, Rainer Rochlitz đều khẳng định theo cách của mình rằng sự đóng góp của tiểu thuyết mang tính tri nhận. Các nhà sử học tìm kiếm trong văn học những “thực tế lịch sử”. Ngay cả các môn khoa học nhận cũng đóng góp vào việc xây dựng đài lý thuyết này: với những kiến thức về cơ cấu của bộ não, các môn khoa học tri nhận đang cố thâm nhập vào lĩnh vực phê bình văn học.(3)


Trong sự sôi động đó vẫn còn một câu hỏi làm cho các nhà nghiên cứu văn học, các nhà xã hội học và các nhà nghiên cứu tri nhận phải bối rối, đồng thời vạch ra những đường chia rẽ giữa họ với nhau: tiểu thuyết chuyên chở loại kiến thức đặc thù nào? Quả thế, tiểu thuyết có thể tái tạo một thế giới lịch sử, giải mã các mối quan hệ xã hội hoặc cho chúng ta biết tâm lý con người với một cách rất ấn tượng. Nhưng từ điểm nhìn này, tiểu thuyết không có gì gọi là đặc thù so với khoa học nhân văn, tiểu luận hay điện ảnh. Chính vì thế nên cần phân biệt nội dung kiến thức trong một văn bản và không gian tưởng tượng mà văn bản đó phô diễn. Cho rằng Jules Verne chỉ có vai trò phổ biến khoa học của thời đại mình là bỏ qua những lý do khiến cho các em thiếu niên say mê những giấc mơ của thuyền trưởng Nemo, làm lơ việc phô diễn những đam mê cổ nhất trong Hai mươi nghìn dặm dưới đáy biển (1870): ý chí mạnh mẽ, sự thái quá, chứng ghét người... Cũng như vậy, Người xa lạ (Albert Camus, 1942) ở một số phương diện là tổng hợp tất cả những chủ đề lớn của triết học hiện sinh: cô đơn, cái chết, tha nhân, phi lý. Nhưng đúng như Roland Barthes có nói, “cái biến Người xa lạ thành một tác phẩm văn học chứ không phải là một luận văn là ở chỗ con người trong đó không những có đạo đức mà còn có tính cách (4).” Chúng ta có thể nói đúng như thế đối với các tiểu thuyết của Michel Houellebecq. Houellebecq cho chúng ta biết về tâm lý tình yêu hay du lịch đám đông, nhưng giá trị cơ bản của tiểu thuyết của ông vẫn nằm ở không khí khác lạ toát ra từ trong mỗi tác phẩm. Không khí một thế giới nằm trên trang giấy hay tính cách của một nhân vật được sáng tạo hoàn toàn: bằng trực giác, chúng ta thấy rằng những gì tác giả nói diễn đạt “một cái gì đó” đặc biệt về thời đại mà chúng ta đang sống hay về bản thân chúng ta. Chính là bởi vì những tiểu thuyết đó được kết cấu từ những giấc mơ và sự chết chứ không phải từ những sự kiện và ý niệm. Tiểu thuyết vừa làm giàu năng lực ngôn ngữ của chúng ta vừa làm giàu quá trình chúng ta lĩnh hội thực tại. Làm nổ tung những loại hình có sẵn để tư duy về con người và xã hội, tiểu thuyết thậm chí còn là một “công cụ tuyệt vời để kích thích khả năng tưởng tượng của các nhà xã hội học”, như Anne Barrère và Danilo Martuccelli đã đánh giá.


 


Sống gửi


Về phần mình, triết học đạo đức quan tâm đến vai trò giáo huấn của tiểu thuyết. Martha Nussbaum, một trong những đại diện nổi tiếng nhất, nhấn mạnh khả năng của truyện kể trong việc chỉ ra điều mà triết học không thể chỉ ra. Nghệ thuật của tiểu thuyết gia là nhìn nhận thế giới ; nghệ thuật của người đọc là nhìn nhận bằng con mắt của kẻ khác, người kể chuyện. Về mặt này, tiểu thuyết cho phép người đọc lần lượt khoác lên mình bộ áo của một cảnh sát điều tra, của một người phụ nữ đang yêu, của một kẻ độc đoán hay một trẻ mồ côi. ở góc độ nào đó, sách truyện mang lại cho người đọc những cuộc sống gửi. Theo nghĩa này, sách truyện vận hành như một cái máy nhân bản kinh nghiệm, và nó hoạt động từ khi người đọc còn non trẻ. Sách truyện cho phép chúng ta tiếp xúc với sự phức tạp của chính cuộc đời chúng ta cũng như cuộc đời của những người khác. Nhà nghiên cứu người Pháp Michel Picard, trong cuốn Đọc như chơi (NXB Minuit, 1986), có nói đến “việc mô hình hóa bằng trải nghiệm thực tế hư cấu”. Trong khía cạnh nào đó, người đọc trải nghiệm các tình huống mà anh ta không thể kinh qua trên thực tế. Anh ta có thể chọn một số tình huống và khước từ các tình huống khác, thêm vào đó là thâu tóm được những ích lợi của những kinh nghiệm này mà không phải trải qua những nguy cơ có thật.


Về mặt này, một trong những chiều kích ấn tượng nhất của việc đọc tiểu thuyết, đó là chức năng thần giao cách cảm. Khi đọc tiểu thuyết, người đọc nào cũng ngạc nhiên khi trong đầu tuôn ra những suy nghĩ không phải của mình. Thế nên, khi đọc Hồi ký Hadrien của Marguerite Yourcenar (1951), tôi nhập thân vào cái “tôi” đang kể chuyện. Tôi bị đẩy vào đầu óc của một hoàng đế La Mã đang ở lúc cuối đời. Việc nội tâm hóa kẻ khác có thể giải thích vì sao chúng ta cảm thấy rất gần gũi với một số nhân vật. Chúng ta cảm thấy những nhân vật đó sống, nói năng, hành động “trong chúng ta”. Trải nghiệm đặc biệt khi phiền hà, khi tạo cảm giác khoan khoái này không bộ phim nào có thể diễn tả. Thế mới hiểu tại sao việc chuyển thể tiểu thuyết thành phim thường gây thất vọng đến nhường nào…


Là một quá trình nhận thức, việc đọc sách cũng được xem như một quá trình xúc cảm mãnh liệt. Tiểu thuyết nào cũng nói với trí tuệ của chúng ta, kể cả với trái tim của chúng ta nữa. Sau Umberto Eco, người so sánh việc đọc sách với trò chơi cờ (5), M. Picard dùng lại và làm phong phú thêm hình ảnh trò chơi này. Theo ông, việc đọc tiểu thuyết kết hợp nhuần nhuyễn hai hoạt động vui chơi khác biệt: game và playing. Game, như trò chơi cờ, ăn sâu trong lý trí: đó là trò chơi tư duy, gọi mời trí thông minh, khả năng thích ứng, đoán định và đầu óc chiến lược của chúng ta. Playing ghi sâu trong trí tưởng tượng của chúng ta: đó là trò chơi sắm vai, một trò chơi dựa vào việc nhập thân vào một nhân vật tưởng tượng. Một mặt, người đọc thoát thân cùng với nhân vật, phiêu lưu trong thời gian và trải nghiệm những tình tiết gây cấn; mặt khác, người đọc đưa ra những giả thuyết về phần tiếp theo của câu chuyện và có đầu óc phê bình về câu chuyện. Mô hình này có cái hay là tái tạo “hành trình tưởng tượng” mà truyện kể nào cũng có, nhưng không phải vì thế mà xem nhẹ khía cạnh tư duy của việc đọc sách.


 


Niềm vui trở lại


Theo hướng này, một số nhà lý luận văn học tìm hiểu về các khái niệm xúc cảm, hứng thú hay giải thoát. Bởi vì đại đa số người đọc khẳng định điều đó: họ đọc tiểu thuyết trước hết là để tự giải thoát và tiêu khiển hơn là để tư duy hay lĩnh hội kiến thức. Điều hiển nhiên này vốn bị các nhà lý thuyết văn học xem nhẹ trong một thời gian dài nay mới được nhiều nhà nghiên cứu khởi xướng một cách nghiêm túc. Thế nên Vincent Jouve, tác giả của cuốn Hiệu ứng-Nhân vật trong tiểu thuyết, đề xuất đặt lại nhân vật vào vị trí trung tâm của giao tiếp văn học (6). Nhà lý luận văn học này nhìn thấy trong sự nhập thân vào các nhân vật cơ sở của cảm xúc văn học: “bởi giữa chúng ta và Lucien de Rubempré có mối liên hệ tình cảm, cho nên khi đọc cuốn Những ảo tưởng tiêu tan, chúng ta quan tâm đến những lý do - tâm lý và xã hội - đã khiến cho Lucien thất bại. Bởi các nhân vật của Proust kẻ thì quyến rũ, kẻ thì đáng ghét hay khôi hài, cho nên người đọc thỏa thích trong thế giới của Đi tìm thời gian đã mất, chấp nhận nhân sinh quan và nghệ thuật quan được phản ánh trong đó(7)".


Chúng ta còn có thể đi xa hơn nữa, và khẳng đinh rằng những xúc cảm trong lòng, những giấc mơ diễn ra trong quá trình đọc sách có sự tác động không những đến cách chúng ta diễn giải tiểu thuyết mà còn đến cuộc sống của riêng chúng ta. Người đọc không nhất thiết phải hành động như các nhân vật (yêu Sade không nhất thiết phải trở nên loạn dâm, tìm hiểu Machiavel không khiến chúng ta trở nên xảo quyệt (machiavélique). Nhưng người đọc có thể chuyển tải vào trong cuộc đời mình những tâm trạng, xúc cảm hay những cách nói vay mượn từ tiểu thuyết mình ưa thích nhất. Câu nói của Oscar Wilde về một nhân vật của Balzac vẫn luôn nổi tiếng: “Cái chết của Lucien Rubempré là bi kịch lớn nhất trong đời tôi.”. Marco Vargas Llosa, một tác giả đương đại khẳng định theo cách của mình: “một số nhân vật tiểu thuyết đã in đậm trong đời tôi còn lâu hơn khá nhiều người bằng xương bằng thịt mà tôi đã từng biết.” Chúng ta cũng biết rằng cuốn Werther của Goethe (1774) đã đẩy các thanh thiếu niên đến chỗ tự sát và Nàng Héloïse mới của Jean-Jacques Rousseau (1761) đã thay đổi sự cân bằng tình cảm của nhiều thế hệ.


 


Khẳng định bản thân hay đối diện với chính mình?


Thế thì chúng ta tìm gì trong trải nghiệm này, một trải nghiệm nhiều khi có thể tạo nên cảm giác bất ổn? Và chúng ta đối diện với những nguy cơ nào? ở đây, chúng ta trở lại với tính đa thanh cơ bản của thể loại tiểu thuyết: tất cả đều phụ thuộc vào tiểu thuyết được chọn. Cái hay của các best-sellers (sách bán chạy) là giới thiệu cho chúng ta những nhân vật giống chúng ta. Giá trị của những nhân vật này chính là giá trị của chúng ta, đam mê của họ trò chuyện cùng chúng ta, chính xác là bởi đó là những nhân vật điển hình. Như vậy, những tiểu thuyết này động viên, khích lệ niềm tin cũng như mong đợi của người đọc. Đó là một cơ chế tâm lý xã hội khá nổi tiếng: bởi vì kẻ khác giống tôi và làm cho tôi an tâm. Thế là tôi được nhân vật trong tiểu thuyết che chở, động viên, và đáp lại, tôi yêu thích nhân vật đó. Ngược lại, một số tiểu thuyết tham vọng hơn cho phép chúng ta đối diện với sự khác biệt cơ bản. Chẳng hạn như Chàng ngốc của Fedor Dostoevski (1868), Lolita của Vladimir Nabokov (1955) hay Những kẻ thiện tâm của Jonathan Littell. Điều quan trọng không còn là những gì chúng ta tự nhận ra trong tiểu thuyết mà là những gì chúng ta có thể học hỏi từ mảng tối trong ta. Khi thì người đọc tìm cách khẳng định mình, khi thì người đọc tìm sự đối diện với chính mình. Trong mọi trường hợp, như V. Jouve nhận xét: “trong tiểu thuyết, kẻ khác, người kể chuyện hay bất kỳ nhân vật nào, luôn trả lại cho chúng ta hình ảnh của chính chúng ta qua sự khúc xạ (8)”.


 


Tham vọng của bài viết này là trình bày cái mới trong cách tiếp cận văn chương, về lý thuyết văn học cũng như về các khoa học nhân văn. Sự quan tâm đến người đọc, đến động cơ của người đọc, đến kinh nghiệm sống của người đọc - chứ không chỉ còn chú trọng đến văn bản văn học – là một trong những phương diện sống động nhất của phương pháp tiếp cận đó. Cho dù nhấn mạnh đến chiều kích tri nhận, đạo đức hay cảm xúc của việc đọc sách, cách tiếp cận này đoạn tuyệt với một giáo điều xưa cũ. Đọc sách không chỉ là đối thoại với các nhà văn lớn trong quá khứ cũng như đương đại. Đó là một trải nghiệm tư duy. Đó là tiếp nhận những ngôn ngữ khác, những thế giới khác, những tính cách khác. Đó là thấm nhuần những kiến thức và rung cảm mới. Đọc tiểu thuyết là gặp gỡ chính mình.


 


Nguyễn Duy Bình dịch


___________


(1) Guy de Maupassant, “Tiểu thuyết”, Lời nói đầu cuốn Pierre et Jean,  in trong Tiểu thuyết, Gallimard, “La Pléiade”, 1987.


(2) Ronald Shusterman, “Quand lire, c’est faire: la valeur non cognitive de la fiction” (Đọc là làm: giá trị phi nhận thức của truyện kể), Tropismes, số 11, 2003.


(3) Xem Rémi Sussan, “Sciences cognitives: vers une nouvelle critique littéraire?” (Khoa học tri nhận: hướng tới một loại phê bình văn học mới?), Le Monde, 30 tháng tư 2010.


(4) Roland Barthes, “L’étranger, roman solaire” , in trong Oeuvres complètes, t. I, 1942-1961, 1993, Tái bản. Seuil, 2002.


(5) Umberto Eco, Lector in fabula. Le rôle du lecteur, (Vai trò của người đọc), bản tiếng Pháp. Grasset, 1985


(6) Vincent Jouve, L’Effet-Personnage dans le roman (Hiệu ứng-Nhân vật trong tiểu thuyết), Puf, 1992.


(7) Vincent Jouve, La Lecture, (Đọc sách), Hachette, 1993.


(8) Sách đã dẫn.


 


 


M.Bakhtin với lý luận tiểu thuyết


Phạm Vĩnh Cư


Bạn đọc đang cầm trên tay một số trang viết chọn lọc của một trong những nhà khoa học nhân văn lỗi lạc nhất trong thế kỷ này.


 


Đã ba chục năm nay, tên tuổi và sự nghiệp của Mikhail Mikhailovich Bakhtin (1895-1975) thu hút sự quan tâm, mến mộ của giới nghiên cứu khoa học và công chúng trí thức ở Liên Xô và trên toàn thế giới. Mỗi lần những công trình khảo cứu về văn học, ngôn ngữ học, mỹ học, văn hoá học… của Bakhtin, nhờ nỗ lực phi thường của các học trò ông, đến được với bạn đọc, chúng làm chấn động dư luận khoa học trong và ngoài nước, gây nên những cuộc tranh luận làm sôi động đời sống tinh thần không chỉ riêng ở Liên Xô. Mặc dù phần lớn được viết từ những năm 20 – 40, những trước tác ấy đến nay vẫn giữ nguyên giá trị cách tân: chúng đặt ra cho khoa học một loạt vấn đề mới hệ trọng, cung cấp những phương pháp luận, cách tiếp cận mới, đầy hiệu năng, kích thích tinh thần tìm tòi, sáng tạo, nhận thức và nhận thức lại không ngừng trong khoa học. Nhưng Bakhtin cuốn hút người đọc không chỉ bằng tính cách tân: chất ấy không thiếu gì ở nhiều học giả khác trong thế kỷ khoa học phát triển gia tốc này (sính cách tân đã thực sự trở thành bệnh của thời đại). Nét độc đáo tạo nên cái “duyên” riêng ở Bakhtin chính là sự kết hợp nhuần nhụy tư duy khoa học hiện đại luôn luôn hướng về cái mới với cốt cách nho nhã của một kẻ sĩ gắn bó máu thịt với truyền thống văn hoá nhân văn cổ điển. Tinh thần nhân văn chủ nghĩa toát ra từ toàn bộ tác phẩm và từng trang viết của Bakhtin, tạo ra khoảng cách rõ rệt giữa ông với các học giả, nghệ sĩ “tiên phong chủ nghĩa”, mà trong đó không ít người muốn kéo ông về phe mình, biến ông thành đồng minh, cộng sự của mình. Đánh giá cao một số thành tựu của những trường phái nghiên cứu hiện đại như “phương pháp hình thức” ở Nga, cấu trúc học, ký hiệu học ở phương Tây, Bakhtin đồng thời luôn luôn phản đối khuynh hướng “phi nhân hoá” khoa học về con người, du nhập máy móc vào khoa học nhân văn, khoa học xã hội những phương pháp, tiêu chí của khoa học tự nhiên, khoa học chính xác. Những công trình khoa học của Bakhtin có một đặc điểm nữa, gắn bó chặt chẽ với điểm vừa nói tới: chúng rất giàu tính triết luận, chúng luôn luôn hướng tới những chân lý cuối cùng về thế giới và con người, hàm chứa nhiều ý niệm, tư tưởng cao sâu được tác giả hun đúc trong suốt cuộc đời mình và đã trả giá cho chúng bằng cả cuộc đời mình. Tất cả những đặc điểm ấy với những đặc điểm khác nữa hợp lại đã tạo nên cho Bakhtin một vị trí hiếm có trong làng danh nhân văn hoá thế kỷ này. Uy tín khoa học của Bakhtin hiện nay rất lớn, di sản của ông cần thiết, hữu ích cho nhiều bộ môn, trường phái khoa học nhân văn khác nhau. Nhưng vượt lên trên cái uy tín khoa học tất yếu có giới hạn thời gian ấy là vinh quang của một bậc đại trí, đại dũng, “một con người với số phận vĩ đại và những xác tín vĩ đại” (lời của nhà văn và học giả nổi tiếng Victor Shklovski), mà ngay cuộc đời, nhân cách, đặc điểm tâm tính cũng có sức hấp dẫn mãnh liệt. Phải chăng vì thế mà hiện nay tên tuổi Bakhtin được biết đến ở khắp các châu lục, ở hàng chục nước lớn và nhỏ, phương Tây và phương Đông nhiều môn đệ nhiệt thành nghiên cứu, truyền bá Bakhtin. Trong khi Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô còn đương chuẩn bị xuất bản Toàn tập Bakhtin thì những bộ sách như thế đã được in ở Nhật và Hà Lan.


 


Tập sách này chỉ giới thiệu một phần nhỏ nhưng rất trọng yếu trong di sản của nhà bác học Nga vĩ đại. Một trong những công lao lớn của Bakhtin là ông đã nâng lý thuyết thể loại – một bộ phận vốn không được quan tâm lắm của khoa học văn học, đặc biệt ở các nước xã hội chủ nghĩa – lên một vị trí quan trọng chưa từng thấy. Theo Bakhtin, thể loại chứ không phải phương pháp hoặc trường phái sáng tác là nhân vật chính của tấn kịch lịch sử văn học. Mỗi một thể loại, nhất là thể loại lớn, thể hiện một thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực, một cách cảm thụ, nhìn nhận, giải minh thế giới và con người. Thể loại là cái trí nhớ siêu cá nhân của nghệ thuật, nơi tích lũy, đúc kết những kinh nghiệm nhận thức thẩm mỹ thế giới. Mỗi thời dại lịch sử có hệ thống thể loại của mình, trong đó những thể loại chính thể hiện tập trung nhất, nổi bật nhất tâm thức, tầm nhìn, những mối quan tâm, những quan niệm và chuẩn mực giá trị của con người trong thời đại đó; những thể loại chính ấy như những mặt trời thu hút những thể loại khác vào trong quỹ đạo của chúng. Lịch sử văn học, theo Bakhtin, trước hết là lịch sử hình thành, phát triển, tương tác giữa các thể loại.


 


Trong tất cả các thể loại văn học, Bakhtin tâm đắc nhất với tiểu thuyết. Ông coi tiểu thuyết là sản phẩm tinh thần tiêu biểu nhất cho thời đại mới của lịch sử loài người, là thành quả rực rỡ, có giá trị như một bước nhảy vọt thực sự vĩ đại của hàng ngàn năm văn chương thế giới. Khảo cứu thi pháp tiểu thuyết với tư cách một thể loại “chúa tể”, Bakhtin xác định những đặc tính chung của tư duy văn học hiện đại. Theo dõi những chặng đường khúc khuỷu của kiểu tư duy ấy từ thời cổ đại Hy-La cho đến ngày nay, ông dự đoán vận mệnh dài lâu của nghệ thuật ngôn từ con người. Xây dựng lý thuyết chung về tiểu thuyết, Bakhtin kiến tạo một triết học nhân bản, một luận thuyết về con người như một Bản Ngã sinh tồn trong và bằng sự tiếp xúc đối thoại với các Bản Ngã khác, với Cộng Đồng Bản Ngã.


 


Trong các tiểu thuyết gia lớn của thế giới, Bakhtin sớm tìm ra cho mình hai người đối thoại chính, hai vĩ nhân khác nhau như nước với lửa, nhưng mỗi người tương hợp một cách riêng với những nhu cầu tìm tòi tinh thần nơi ông. Đó là Dostoievski và Rabelais. Chuyên khảo về Dostoievski là cuốn sách đầu tiên mang tên tác giả M. Bakhtin. In năm 1929, năm 1963 nó được in lại có bổ sung và sửa đổi, nhưng những bổ sung, sửa đổi ấy không đụng chạm đến tư tưởng cốt lõi của cuốn sách. Bakhtin đưa ra một quan niệm về Dostoievski như một thiên tài đã sáng tạo ra một dạng tiểu thuyết hoàn toàn mới chưa từng có trước đó trong văn học Nga cũng như văn học thế giới mà ông gọi ước lệ là “tiểu thuyết phức điệu” (thuật ngữ vay mượn từ lý thuyết âm nhạc). Thế nào là tiểu thuyết phức điệu, bạn đọc có thể tìm thấy định nghĩa trong trích đoạn được đưa vào tập sách này. Mặc dù luận điểm của Bakhtin sớm trở nên rất nổi tiếng ở trong và ngoài Liên Xô, (một phần do ảnh hưởng của Bakhtin ở phương Tây ở những năm 30 đã hình thành hẳn một trường phái “tiểu thuyết phức điệu” với những tác gia và lý luận gia riêng), cho đến bây giờ các nhà nghiên cứu phê bình văn học vẫn tranh luận nhiều với Bakhtin. Đa số, đặc biệt ở Liên Xô, không đồng ý với ông. Nhiều người chê trách Bakhtin đã cường điệu, tuyệt đối hoá vai trò cách tân của Dostoievski, đối lập ông với L. Tolstoi và các nhà văn xuôi cổ điển khác (có người buộc tội Bakhtin đã “phạm thượng” đối với nền văn học Nga vĩ đại!) Quả thật một ấn tượng như thế có thể có, nếu người ta đọc Bakhtin một cách hời hợt, hoặc với định kiến, hoặc do sự dốt nát đơn thuần (S. Averintsev, học trò xuất sắc của Bakhtin ở Liên Xô hiện nay, nói rằng những người hâm mộ dốt nát, hâm mộ do thời thượng chứ không phải do hiểu biết dã làm hại Bakhtin không kém những đối thủ ác ý). Cuốn sách của Bakhtin không tham vọng nói hết về Dostoievski, làm sao nói hết được, mà chỉ nói về những mặt tâm đắc nhất đối với Bakhtin ở Doxtoievski, những mặt mà, như Bakhtin quan niệm, sẽ có sức sống nhất, ảnh hưởng dài lâu nhất tới ngày mai của văn học. Nếu đa số các nhà nghiên cứu, từ thế hệ này đến thế hệ khác, mải miết phân tích, lý giải cái bề nổi trong tiểu thuyết Dosoievski: đề tài, cốt truyện, chủ đề tư tưởng, nhân vật…, xác định những quan hệ giữa cái bề nổi ấy với hiện thực xã hội bên ngoài tác phẩm thì Bakhtin chú mục vào những yếu tố cấu trúc tác phẩm nằm dưới bề nổi, những nguyên tắc nghệ thuật của Dostoievski. Cuốn sách của Bakhtin nói về thi pháp Dostoievski. Nó được viết cùng một thời kỳ với nhiều công trình thi pháp học khác xuất hiện ở Nga trong những năm 20, trong đó có những công trình xuất sắc của trường phái hình thức chủ nghĩa (Shlovski, Eikhenbaum, Tyniaanov…) Bakhtin khác với những người đồng nghiệp cùng lứa tuổi với ông thuộc trường phái ấy ở chỗ nếu họ dừng lại ở việc khám phá, phân tích, liệt kê các thủ pháp nghệ thuật, coi đó là nhiệm vụ cuối cùng của người nghiên cứu nghệ thuật, hoặc nói một cách khác, họ tự khép mình trong khuôn khổ văn bản, thì Bakhtin đi từ văn bản sang văn cảnh: ông cho thấy, với độ sáng rõ phi thường, bằng thủ pháp này hay thủ pháp kia người nghệ sĩ đã phát hiện được mặt này hay mặt kia của cuộc sống muôn màu muôn vẻ mà với các phép khác thì không thể phát hiện được.


 


Bakhtin viết về quan hệ giữa hình thức và nội dung trong nghệ thuật: “Hình thức nghệ thuật được hiểu đúng nghĩa không trình bày cái nội dung có sẵn, đã tìm thấy mà lần đầu tiên cho phép tìm thấy, trông thấy cái nội dung ấy”. Khảo cứu thi pháp, tư duy nghệ thuật của Dostoievski, Bakhtin lột tả cái mô hình mới về thế giới mà Dostoievski đã kiến tạo được nhờ cái tư duy nghệ thuật ấy. Cái mô hình thế giới “phức điệu” phản ánh tính cực kỳ phức tạp, nhiều tiếng nói khác nhau của bản thân sự sống ấy, theo Bakhtin, là cống hiến to nhất, có giá trị trường cửu nhất của nhà nghệ sĩ ngôn từ Dostoievski.


 


Có thể đồng ý hay không đồng ý với Bakhtin, có thể yêu Dostoievski vì những cái khác cơ, nhưng cần hiểu Bakhtin, cần nắm được nội hàm những phạm trù mỹ học đồng thời là triết học của Bakhtin, trong đó “phức điệu” (polyphonie), “nguyên tắc phức điệu” (polyphonisme) là những phạm trù trung tâm (1). “Nguyên tắc phức điệu” vừa thể hiện lý tưởng thẩm mỹ - nghệ thuật, vừa thể hiện lý tưởng nhân sinh của nhà bác học và nhà tư tưởng Nga. Ở thế giới nghệ thuật “phức điệu” của Dostoievski, nơi cùng tồn tại không hoà đồng nhiều tiếng nói và ý thức độc lập, bình quyền, đầy đủ giá trị, nơi tiếng nói của nhân vật bình đẳng với tiếng nói tác giả, tác giả không chỉ nói về nhân vật mà còn nói với nhân vật, quan hệ đối thoại với nhân vật, Bakhtin tìm thấy một mẫu mực về thế giới con người như Cộng Đồng của các Bản Ngã, mỗi Bản Ngã là một giá trị tự thân, không thể thay thế, một vũ trụ tinh thần giao tiếp đối thoại với các vũ trụ khác.


 


      Trong triết học nhân bản của Bakhtin, “đối thoại” là phạm trù nền. Những tổ từ như “giao tiếp đối thoại”, “quan hệ đối thoại” vừa có ý nghĩa phổ quát, vừa mang sắc thái tâm tình. “Đối thoại là bản chất của ý thức, bản chất của cuộc sống con người (…) Sống tức là tham gia đối thoại: hỏi, nghe, trả lời, đồng ý,v.v… Con người tham gia cuộc đối thoại ấy bằng toàn bộ con người mình và toàn bộ cuộc đời mình: bằng mắt, môi, tay, tâm hồn, tinh thần, hành vi. Nó trút hết con người nó vào lời nói và tiếng nói của nó gia nhập dàn đối thoại của cuộc sống con người, gia nhập cuộc hội thảo thế giớ (…). Bản Ngã không chết. Cái chết chỉ là sự ra đi. Con người ra đi khi đã nói lời của mình, nhưng bản thân lời nói ấy còn lại mãi mãi trong cuộc hội thảo không bao giờ kết thúc” (2) .


 


      Các nhà học phiệt chỉ trích, buộc tội Bakhtin thường không đứng trên một mặt bằng tư cảm với ông, Có lẽ vì thế Bakhtin không trả lời, không đối thoại với họ. Cuốn sách của Bakhtin về Dostoievski chắc chắn sẽ còn sống lâu cùng với trước tác Dostoievski, giúp bạn đọc tìm ra Dostoievski trong Dostoievski, như Bakhtin hằng ước vọng.


 


      Sau chuyên khảo về Dostoievski, cuốn sách nổi tiếng thứ hai của Bakhtin là công trình về Rabelais. Nó được in năm 1965, nhưng về cơ bản đã được hoàn thành trước năm 1940 (năm 1948, Bakhtin đã bảo vệ công trình này và đã được phong học vị … phó tiến sĩ, nhờ đó mà ông đã được nhận vào dạy học ở một trường sư phạm tại một khu tự trị thuộc Cộng hoà liên bang Nga). Người Pháp đến nay vẫn chưa hết ngạc nhiên vì sao sau bốn thế kỷ đọc, nghiên cứu, bình giải Rabelais một người ngoại tộc lại nói về thiên tài của họ trúng hơn, sâu sắc hơn hẳn những gì họ đã nói, đã giúp họ phát hiện lại Rabelais, “giải mã” Rabelais. Thế nhưng chỉ cần đọc chương dẫn luận được đưa vào tập sách này là ta có thể thấy ngay: những quan điểm, phương pháp kiến giải Rabelais của Bakhtin, nếu được vận dụng sáng tạo, có năng lực giúp chúng ta cắt nghĩa một loạt hiện tượng kỳ thú ngay trong văn học dân gian và thành văn của nước ta, tức là cái mảng văn chương trào phúng cổ mà mọi con người Việt Nam ta xưa nay vẫn rất tán thưởng, nhớ thuộc lòng, nhiều khi tấm tắc khen ngợi nhưng với giọng thì thầm, bởi vì nói to sao được, nói to sẽ bị huýt còi, sẽ bị chê ngay là “tục tĩu”, “thô bỉ”. Nhưng các nhà nghiên cứu ở các nước khác đã đi xa hơn thế nhiều: vận dụng Bakhtin, họ đã “giải mã” khá thành công cả những tác phẩm tiểu thuyết đồ sộ và hết sức phức tạp trong văn học thế giới thế kỷ này như Ulysse của nhà văn Anh gốc Irlandie F. Joyce, Nghệ nhân và Margarita của nhà văn Nga M. Bulgakov, Một trăm năm cô đơn của nhà văn Mỹ - La tinh G. G. Marquez…


 


      Bakhtin đến với Rabelais trong thời kỳ ông tập trung nghiên cứu lý thuyết, lịch


 


sử, thi pháp, ngôn ngữ tiểu thuyết. Có thể nói, cả thập niên 1930-1940 Bakhtin dành cho tiểu thuyết. Ông viết một loạt công trình lớn, có những công trình lúc tác giả qua đời rồi mới được in (Ngôn từ trong tiểu thuyết, Những hình thức thời gian và thời – không gian trong tiểu thuyết), có công trình về tiểu thuyết trong thế kỷ Ánh sáng bản thảo đã thất lạc. Suy ngẫm về cái bản chất thẩm mỹ hết sức đặc thù ở tiểu thuyết, cái bản chất một trời một vực cách xa các thể loại văn học “anh chị” ra đời trước nó (sử thi, bi kịch); về những nguồn phát sinh và nuôi dưỡng nó, những thuận lý và nghịch lý sinh tồn, những khả năng biến hoá của nó, tư tưởng Bakhtin dừng lại lâu hơn cả ở cuốn sách xưa nay vẫn được coi là tuyệt tác nhưng thực ra rất hóc búa và kỳ dị của Rabelais. Nếu các nhà tiểu thuyết học khác thường phóng nước đại vượt qua cuốn sách ấy bởi vì nó khác quá chừng so với những cuốn truyện khác mà cả thế giới quen xem là những tiểu thuyết điển hình thì Bakhtin, ngược lại, lấy cuốn sách của Rabelais làm một trong những cứ liệu chính để xây dựng lý thuyết chung về tiểu thuyết. Ở Gargantua và Pantagruel, Bakhtin nhận thấy sự hội đủ những đặc điểm cấu thành quan trọng nhất của thể loại chủ đạo trong nền văn học thời đại mới. Trong tiếng cười hoan hỉ, rền như tiếng pháo đùng, tiếng cười nghịch ngợm, bất kính và nhiều khi rất bất nhã của Rabelais Bakhtin nghe thấy tín hiệu đích thực về một tâm thế đặc thù của người viết tiểu thuyết: tâm thế ung dung, bình thản, tự tin, không run sợ trước bất cứ cái gì, không quá tôn kính cái gì, không thấy cái gì là quá tầm mình. Cái chất suồng sã thường gây sốc ở văn Rabelais có sức hấp dẫn mạnh mẽ với Bakhtin vì ông nhận thức: đây là biểu hiện “đến hạn” (phù hợp với tính chất thể loại hài) của một thái độ tiếp cận cuộc sống một cách thân mật, xoá bỏ mọi khoảng cách ngôi thứ, đặt mọi vật lên mặt bằng ngày hôm nay, mà cái hôm nay thì bao giờ cũng dang dở, chưa xong, chưa thể kết luận. Cái hôm nay, cái thì hiện tại chưa hoàn thành ấy như xuất phát điểm cho hoạt động nhận thức, theo Bakhtin, là đặc điểm quan trọng hàng đầu, không thể thiếu được trong tư duy tiểu thuyết. Chức năng hàng đầu, sứ mệnh của tiểu thuyết là xét lại, nhận thức lại, đánh giá lại tất cả. Do đó nó phải mang tinh thần phi giáo điều triệt để. Tinh thần phi giáo điều ấy quả xuyên suốt kiệt tác của Rabelais.


 


      Trong chuyên khảo về Rabelais và nhiều công trình khác, Bakhtin xác định và khẳng định quan hệ nhân quả giữa tiếng cười và tiểu thuyết. Tiểu thuyết, như Bakhtin viết, ra đời trong quá trình thân mật hoá thế giới và con người bằng tiếng cười. Tiếng cười có sức mạnh tuyệt vời kéo đối tượng lại gần để dễ nhìn thấy, nghe thấy, dễ sờ mó, chia cắt, phân tích v. v… Tiếng cười giải phóng con người khỏi nỗi sợ trước thế giới tự nhiên và thế giới xã hội với bao thế lực, quyền lực và quyền uy có sức mạnh đè bẹp nó, do đó mà nó phải kính nể, tạo nên thái độ tỉnh táo, quả cảm, không biết sợ, mà thái độ ấy là tiền đề cho mọi cuộc cách mạng, mọi bước nhảy vọt thực thụ trong đời sống xã hội. Ở châu Âu, theo Bakhtin, những thay đổi có tính chất cách mạng trong mọi lĩnh vực đời sống tinh thần thời Phục hưng đã được chuẩn bị bằng sự bùng nổ tiếng cười trong nền văn hoá dân gian. Các nhà văn hoá theo chủ nghĩa nhân văn thời ấy, mà đại diện tiêu biểu là Rabelais, nhạy cảm với nhu cầu giải phóng con người, đã tiếp thụ tiếng cười dân gian, học tập và “cải biên” ngôn ngữ của nó, sử dụng như một công cụ sắc bén để xây dựng lại những quan niệm về thế giới, đánh đổ thế giới quan trung cổ, thực hiện một cuộc cách mạng tư tưởng mở đầu cho thời đại mới trong lịch sử thế giới. Trong lĩnh vực văn học, cũng theo Bakhtin, tiếng cười đã chuẩn bị những tiền đề thiết yếu cho sự ra đời của một thể loại chủ đạo mới về bản chất là tiểu thuyết. Giữa kỷ nguyên của tiểu thuyết và kỷ nguyên sử thi là một thời kỳ hoạt động hết sức tích cực và hiệu nghiệm của các thể loại hài chế nhạo, giễu nhại các thể loại trang nghiêm, cao sang cũ. Các thể loại hài ấy, mà ngôn ngữ được sử dụng tập trung trong cuốn sách của Rabelais, đã đóng vai trò quyết định làm xói mòn tư duy nghệ thuật cũ, tích lũy những thành tố của tư duy mới làm chất bột gột nên thể loại tiểu thuyết.


 


      Không phải tất cả các nhà khoa học đều đồng tình với luận thuyết về tiếng cười của Bakhtin. Có người nói ông tư biện, khiên cưỡng, thổi phồng những hiện tượng phù hợp với luận điểm của mình và bỏ qua những gì không phù hợp. Nhiều tư liệu khoa học xuất hiện sau khi Bakhtin đã hoàn thành công trình về Rabelais và văn hoá dân gian trung cổ đã khiến công luận phải xét lại quan niệm về “đêm trường trung cổ”, từ đó mà một loạt vấn đề phải được nhận thức lại; nhiều quan điểm lịch sử học của Bakhtin cũng đang được minh xác. Cái phần chắc sẽ giữ được giá trị trường cửu trong chuyên khảo của Bakhtin là phần phân tích ý nghĩa mỹ học và triết học của tiếng cười hội hè dân gian. Bakhtin là người đầu tiên cắt nghĩa, “giải mã” được cái “tục” trong văn hoá hài dân gian, do đó mà ông đã “giải mã” được Rabelais, nhà văn “thô tục” nổi tiếng. Cái “tục” với hàm nghĩa “thanh” rất sâu rộng ấy rõ ràng vẫn sống trong văn hoá dân gian ngày nay và nuôi dưỡng văn học hiện đại. Kinh nghiệm thế giới trong thế kỷ này cũng xác nhận sự anh minh phi thường của tư tưởng Bakhtin về quan hệ giữa tiếng cười và tiểu thuyết. Tiếng cười đúng là môi sinh của tiểu thuyết; ở nền văn học nào vắng tiếng cười thì ở đó tiểu thuyết hoặc không thể trưởng thành, hoặc thui chột.


 


    Ở chuyên khảo về Rabelais, một lần nữa ta bắt gặp lối viết sâu và sáng của Bakhtin. Giữa và dưới những dòng tuyệt vời, thực sự phát sáng về văn hoá hội hè, về hội cải trang (carnaval) và số phận của nó, người đọc nào cũng đọc được những tâm tư sâu lắng của một trí tuệ lớn về số phận con người, số phận nền văn minh con người. Khi con người chưa là cá nhân, chưa là Bản Ngã, nó có Cộng Đồng với vô vàn giá trị siêu cá nhân của đời sống cộng đồng. Khi con người đã trở thành cá nhân, trở thành Bản Ngã, nó đánh mất đời sống cộng đồng, những giá trị siêu cá nhân bị mai một, mà thiếu những giá trị siêu cá nhân, cá nhân tồn tại một cách què quặt. Hai cuốn sách chính của Bakhtin, một cuốn về Dostoievski, một cuốn về Rabelais cho ta thấy ở Bakhtin hai mối bận tâm lớn, hai hướng tìm tòi, khẳng định chứng tỏ ông đúng là con người của thời đại chúng ta. Nếu bằng cuốn sách về Dostoievski Bakhtin góp tiếng nói khẳng định (trước tiên trước đồng bào của Dostoievski) giá trị độc lập, tự thân, cao quý nhất, không gì thay thế được của cá nhân, của Bản Ngã, thì bằng công trình về Rabelais ông nhắc nhở (trước tiên cho đồng bào của Rabelais) về những giá trị siêu cá nhân cũng không gì thay thế được của nhân quần, của cuộc sống Cộng Đồng. Hai địa chỉ người nhận được chọn rất có dụng ý.


 


      Tất cả những kết quả khảo cứu khoa học quan trọng nhất, những tư tưởng tâm huyết về tiểu thuyết đã được Bakhtin đúc kết thành bài viết năm 1941 mang tên Tiểu thuyết như một thể loại văn học. Bài viết này có sức nặng hơn nhiều pho sách. Lý luận tiểu thuyết ở đây đã đạt độ minh triết.


 


      Trong di sản của Bakhtin, những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ có giá trị không kém phần viết về văn học. Trong lĩnh vực này Bakhtin cũng mở đường. Cùng với dăm ba nhà ngôn ngữ học nữa Bakhtin đã khởi xướng một bộ môn khoa học mới – siêu ngôn ngữ học (métalinguistique) hiện nay khá thịnh hành ở châu Âu. Nếu ngôn ngữ học nghiên cứu tiếng nói của con người tách khỏi những chủ thể sống động của nó (tức là những người nói) thì siêu ngôn ngữ học nghiên cứu sự giao tiếp giữa các chủ thể lời nói và những quan hệ hình thành trong sự giao tiếp ấy. Làm văn, làm thơ là một hình thức nói, trong đó người làm văn, thơ là chủ thể tiếng nói, người đọc (người nghe) là người đối thoại.


 


      Tiền đề lý luận của Bakhtin: lời nói của con người mang tính đối thoại, tính đối thoại là thuộc tính phổ quát của ngôn từ và tư duy con người. Nói tức là nói với ai đấy. Ngay khi con người nói một mình, nó cũng nói với mình, nó lưỡng hoá con người mình. Nói tức là chờ đợi được trả lời. Khi ta nói với ai một cái gì (ít nhiều hệ trọng), ta cố gắng nói thế nào để vừa diễn đạt được cái ta muốn nói vừa nhận được lời đáp như ta mong đợi (“lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”). Lời nói của ta, với tất cả các đặc điểm, sắc thái, không chỉ phụ thuộc vào điều ta muốn nói mà còn phụ thuộc rất nhiều vào người đối thoại với ta. Đấy là thí dụ đơn giản nhất về tính đối thoại nội tại của lời nói.


 


      Trong văn chương, cũng như trong cuộc sống, tính đối thoại nội tại ấy của ngôn từ biểu hiện thiên hình vạn trạng, nhưng trong mỗi loại hình văn học khác nhau nó có mặt ở mức độ khác nhau: theo Bakhtin, ở thơ, nhất là thơ trữ tình thì ít, còn ở văn xuôi, đặc biệt văn tiểu thuyết thì lại rất nhiều. Lời thơ về cơ bản là lời đơn thanh (một bè), trong tác phẩm thơ chỉ có một tiếng nói trực tiếp và thuần khiết của nhà thơ nói cái của mình bằng ngôn ngữ của mình. Về phương diện phong cách học, có thể ví một bài thơ trữ tình với một bài hát diễn đơn không đệm hoặc một bản nhạc độc tấu viết cho đàn dây. Văn xuôi nghệ thuật, nhất là văn tiểu thuyết thì khác hẳn. Bakhtin ví một văn bản tiểu thuyết với bản tổng phổ một tác phẩm giao hưởng: ở đấy có rất nhiều bè, nhiều bộ với những cách đi bè, phối khí phức tạp; ai không nắm vững được nghệ thuật đi bè, phối khí thì có tài mấy cũng không viết được nhạc giao hưởng và các thể loại âm nhạc phức hợp khác. Bakhtin nói: tương tự như thế, người viết văn xuôi nào chỉ biết nói cái của mình bằng ngôn ngữ của mình, không biết nói cái của mình bằng ngôn ngữ của người khác (trong đó có ngôn ngữ của nhân vật), không biết đưa vào và “phối khí” trong câu văn của mình những tiếng nói khác nhau ở ngoài đời thì người ấy dù cố gắng thế nào cũng chỉ viết được những sáng tác bề ngoài rất giống tiểu thuyết nhưng không phải là tiểu thuyết. Theo chúng tôi, ý kiến này của Bakhtin rất đáng được các bạn trẻ viết văn xuôi ở nước ta hiện nay biết đến. Hai nhà tiểu thuyết lớn của chúng ta thời trước: Nam Cao với Chí Phèo và Sống mòn và Vũ Trọng Phụng với Số đỏ không hề đọc Bakhtin nhưng đã viết văn tiểu thuyết y như nhà bác học Nga sống cùng thời với họ quan niệm. Bakhtin còn nói nhiều cái hay nữa về ngôn ngữ tiểu thuyết, rất mong các bạn đọc kỹ chương hai của tập sách này.


 


      Như chúng tôi đã nói, tập sách này mới chỉ giới thiệu một phần nhỏ trong di sản của Bakhtin. Nhưng chúng tôi hy vọng nó sẽ góp phần đẩy nhanh tiến trình tiếp thu và vận dụng thông minh, sáng tạo những luận điểm khoa học của Bakhtin ở Việt Nam, đồng thời chấm dứt tình trạng dẫn Bakhtin không chú xuất xứ đã trở nên khá phổ biến ở nước ta.


 


      Dịch Bakhtin là một việc không dễ tí nào. Cũng như nhiều người mở đường trong khoa học, ông có hẳn một hệ thống thuật ngữ riêng, trong đó có những từ vốn có trong các Âu ngữ nay ông sử dụng đổi nghĩa và có những từ mới, trước và sau Bakhtin chưa ai dùng. Nhưng Bakhtin không chỉ là một nhà khoa học và nhà tư tưởng lớn mà còn là một nghệ sĩ ngôn từ thực thụ. Phong cách của ông không thể nhầm lẫn với bất cứ một ai (có người cho rằng chính phong cách viết thể hiện phong cách tư duy của Bakhtin mới là đóng góp lớn nhất của ông cho văn hoá tương lai của toàn nhân loại). Bản dịch này chắc chắn còn nhiều thiếu sót xét cả về mặt “tín” cũng như “nhã”, xin được các đồng nghiệp chỉ giáo.


 


1991


____________


* Lời nói đầu sách: M. Bakhtin. Lý luận và thi pháp tiểu thuyết. Trường viết văn Nguyễn Du. Hà Nội, 1992.


(1) M. Bakhtin. Mỹ học sáng tạo ngôn từ. M. 1979, tr.318, 326 (tiếng Nga)


Cần phân biệt “phức điệu” với “đa thanh”, Bakhtin sử dụng cả hai thuật ngữ âm nhạc này. Trong âm nhạc, “phức điệu” đối lập với “chủ điệu” (homophonie), cả nhạc phức điệu (thí dụ Bach) lẫn nhạc chủ điệu (thí dụ Beethoven) đều đa thanh (nhiều bè), nhưng trong nhạc phức điệu tất cả các bè đều bình đẳng, có giá trị như nhau, còn trong nhạc chủ điệu thì có bè chính và những bè phụ (đệm). Trong hệ thống khái niệm của Bakhtin, “phức điệu” là “đa thanh” ở độ phát triển cao nhất. “Tính đa thanh” trong văn chương là biểu hiện của “nguyên tắc đối thoại” được Bakhtin quan niệm như một thuộc tính phổ biến của tư duy con người. Toàn bộ văn xuôi nghệ thuật, theo Bakhtin, có chất đa thanh, chất đối thoại. Nhưng chất phức điệu, nguyên tắc phức điệu lần đầu tiên xuất hiện trong tiểu thuyết Dostoievski.   


vanhoanghean

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong “Thế giới xô lệch” - Trần Hoài Anh 24.05.2017
Nhân vật chấn thương trong “Thế giới xô lệch” của Bích Ngân - Đoàn Thị Ngọc 23.05.2017
Văn hóa lâm nguy - Pierre Bourdieu 21.05.2017
Puskin và Gogol - hai kiểu sáng tác trong văn học Nga - Đào Tuấn Ảnh 15.05.2017
Người con gái viên Đại úy - Lê Thời Tân 15.05.2017
Người viết tiểu thuyết lịch sử, anh là ai? - Hà Phạm Phú 15.05.2017
Nghiệp thơ - Lê Đạt 15.05.2017
Franz Kafka: Nỗi lo âu mang tên ngoại biên - Lê Thanh Nga 12.05.2017
Chỉ nhà thơ “Bên thắng cuộc” mới có cách tân? - Lại Nguyên Ân 10.05.2017
Nhà thơ Việt Phương: Thơ làm chết người như bỡn... - Ý Nhi 06.05.2017
xem thêm »