tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19728990
Tiểu thuyết
11.01.2011
Hoài Anh
Luật sư đỏ

VỀ CÁC ĐIỀU LUẬT VÀ VỀ VIỆC THÀNH LẬP TÒA ÁN BỔ SUNG


Ở Đông Dương, cái tổn hại tồi tệ nhất là ở chỗ quyền hành chính và quyền tư pháp ở trong cùng một tay; vì vậy dù quan có làm hại dân, dân cũng không dám nói gì; nếu ai có dám chống lại thì tội vạ sẽ đến ngay: nhẹ thì phạt tiền hoặc khổ sai, nặng thì bị đi đày hay bị chém; đó là nguyên do sự ca thán của dân.


Trước đây tôi đã có đề nghị với quan Toàn quyền lập các tòa án, nhưng một năm đã trôi qua mà tôi chẳng thấy gì.


Nay tôi vinh hạnh đề nghị ngài Bộ trưởng, vốn đã biểu lộ ý định tiến hành những cải cách ở Đông Dương, cho cải tổ lại luật pháp, lập các tòa án bổ sung và phân quyền: các quan chức ngạch hành chính lo việc cai trị, quan chức ngạch tư pháp coi xử việc pháp luật. Làm như vậy, những thiệt hại mà dân chúng phải gánh chịu sẽ ngày càng bớt đi.


 


BÃI BỎ CÁC BIỆN PHÁP CẤM SÁCH TRUNG HOA


Lập hội dịch sách Pháp và sách Trung Hoa sang chữ quốc ngữ và mở các phòng đọc sách.


Mấy năm gần đây, dân chúng An Nam rất xôn xao: những quy định ở Đông Dương cấm nhiều thứ sách Trung Hoa vì cho rằng những sách ấy kích động dân chúng căm ghét Chính phủ Pháp. Nhưng người ta đã không thấy được là tất cả những sách ấy đều có ích cho dân; như là các sách Âu Châu cũng như sách Pháp đã được dịch sang tiếng Trung Hoa và cũng nhờ có các sách ấy mà những người biết chữ Nho được mở mang trí tuệ. Người ta cũng lại không nhận ra rằng: nếu triệt bỏ những sách ấy thì mọi người sẽ nghĩ rằng Chính phủ muốn để dân An Nam ngu tối và rằng do Nhà nước đã lập trường học tiếng Pháp nên loại trừ các sách Trung Hoa.


Vì vậy tôi đề nghị bãi bỏ các biện pháp cấm đoán đó và cho lập các hội dịch các sách Trung Hoa sang chữ Quốc ngữ cũng như cho lập các phòng đọc sách để tạo thuận lợi cho những người muốn học hỏi.


 


VỀ VIỆC ĐÓNG CỬA CÁC TRƯỜNG HỌC


Sự trừng phạt đối với những người lập trường học và việc họ bỏ trốn ra nước ngoài.


Năm 1908, vào lúc dân chúng xin giảm thuế, một số người đã đứng ra lập các trường học cũng như một số thầy giáo đã bị bắt; còn các trường học của họ đều bị đóng cửa hết.


Ở Phú Lâm, một trường học cho con trai và con gái do dân hùn tiền lập đã bị các quan phá, rồi sửa lại làm chuồng ngựa và lập đồn.


Ở làng Than Buong (đúng ra là Thạnh Bình, quê Huỳnh Thúc Kháng – PTM) một trường học cho trai và con gái cũng do dân hùn tiền lập, trong hoàn cảnh tương tự đã bị lấy làm trường hàng tổng.


Trong làng tôi, có một trường học do dân mở, cũng bị lấy làm trường hàng tổng. Về số dư của tiền dân góp làm trường và để nuôi thầy giáo lúc này, tôi không rõ sự thể ra sao. Tôi không thể rõ vì từ lúc tôi bị bắt giam, mọi thư từ của gia đình tôi cũng như của bè bạn tôi gửi đến đều bị thu giữ cả.


Còn ở những làng khác, tôi cho rằng các trường học cũng bị triệt bỏ theo cách ấy.


Một số người đã lập nên hội buôn và hội học. Những người đó một khi bị bắt đều bị giam, những người còn lại đã bỏ trốn ra nước ngoài. Tôi đề nghị xem xét lại: Trước hết là không buộc tội họ vì vốn họ không có tội gì để buộc. Hiện nay chính quyền vẫn tìm bắt họ vì cho rằng họ muốn nổi loạn. Ngoài ra, tôi đề nghị trả lại cho dân chúng các trường học do họ đã lập nên và cho phép họ lập thêm các trường khác để mỗi làng có một trường (vì mỗi tổng chỉ có một trường thì không đủ)[1].


Lúc đầu Roux giúp tạm thời nhưng sau đó ngày 13 – 6 – 1911. Sarraut đã có thư đề nghị Bộ Thuộc địa xin Bộ Quốc phòng cho Roux giúp hẳn cho đến khi Sarraut đi Đông Dương (9 – 1911). Trong suốt thời gian giúp việc trên Roux được Sarraut hài lòng và đã đề nghị Bộ trưởng Thuộc địa cho chuyển đến Bộ quốc phòng, yêu cầu có chế độ khen thưởng đặc biệt cho ông.


Ngày 23 – 6 – 1911 thì có quyết định từ Phủ Toàn quyền Đông Dương gởi sang, trả lời thư Foures ngày 30 – 4 là đồng ý rút thời hạn lưu trú của Phan Châu Trinh xuống còn 4 tháng.


Theo báo cáo của Fourès gởi Sarraut thì trong tháng 7 cả Phan Châu Trinh và con đều bị ốm. Fourès đã cho mời bác sĩ William Bas (đã chữa bệnh cho đại sứ Trung Hoa và gia đình trong 3 năm qua) đến khám tại nhà và điều trị khỏi bệnh. Foures đề nghị Sarraut nên cám ơn. Sarraut đã có thư 22 – 7 – 1911 đồng ý và ủy thác cho Fourès đại diện cám ơn.


Ngày 20 – 7 – 1911, Roux viết bức thư thứ hai giữ Phan Châu Trinh cho hay ông đã dịch xong các điều tường trình của Phan và đã chuyển lên Sarraut. Trong thư Roux tỏ ra rất tin tưởng ở thiện chí và những lời hứa hẹn của Sarraut và khuyên Phan cũng nên tin tưởng như vậy. Thư đầu tiên ngày 26 – 5 rất khách sáo và gọi Phan là quan lớn, nhưng thư này khác hẳn gọi Phan là em, xưng anh và lời lẽ rất chân tình tha thiết chứng tỏ giữa hai người đã có quan hệ kết nghĩa anh em. Thư Roux cũng báo tin là Sarraut đã đồng ý cho Phan ở thêm 1 năm nữa và sẽ xem xét giải quyết kinh phí.


Phan Châu Trinh đã viết thư vắn tắt cám ơn Sarraut ngày 29 – 7 – 1911.


Tuy nhiên, Sarraut cũng thận trọng qua Jules Roux dặn dò Phan Châu Trinh không tiếp xúc trao đổi với người khác, sợ họ sẽ đưa lên báo chí những nội dung trần tình của ông. Nhưng Phan Châu Trinh không để cho thực dân bịt miệng. Biết rõ tác dụng của báo chí, ông đã vượt qua sự cấm cản của Fourès để trả lời phỏng vấn của báo Le Temps (Thời đại, tiền thân của tờ Le Mond nổi tiếng). Nguyễn Như Chuyên đang học trường Jules Ferry ở Versailles được phóng viên mời đến phiên dịch. Bài phỏng vấn đầu tiên đó do phóng viên Philippe Millet thực hiện được đăng ngày 17 – 7 – 1911. Báo Courrier’d, Haiphong (Tin tức Hải Phòng) ngày 26 – 8 – 1911 đã đăng lại bài đó.


“Vị khách chúng ta là Pham Chu Trinh([2]) đang sống trong một ký túc xá đại học nhỏ ở cuối một vùng ngoại ô lao động. Chính ở đó, trong khung cảnh phương Tây của một mái hiên giản dị, trước những ô sách gỗ trắng của một thư viện học đường, được điểm xuyết bằng ba bốn bức tranh, ông đang hoàn thành bản thảo chữ Hán của bản điều trần về tình hình dân bản xứ theo yêu cầu của Chính phủ Pháp. Vì sau khi đã nổi tiếng là người chống Pháp mạnh mẽ, sau khi đã dính líu vào vụ nổi loạn 1908 ở Trung kỳ, viên quan Phan Chu Trinh giờ đây đang cố gắng hợp tác với nước Pháp vì lợi ích của đồng bào ông. Không ai đủ tư cách hơn ông để cho chúng ta biết các vụ lạm quyền mà những người dân Đông Dương của chúng ta đã phải chịu đựng quá nhiều. Ông ta đang dốc sức làm việc này một cách vừa đúng mực vừa thông minh.


Vì vậy tôi đã nghe ông ta hơn một tiếng đồng hồ với niềm thích thú hiếm có khi gặp dịp khám phá được những thực tế sinh động qua lời lẽ của một con người chân thành. Ngồi trước tôi, ông Pham Chu Trinh nói một cách hoạt bát, thỉnh thoảng lại dùng móng tay vạch những đường dài trên tấm trải bàn. Con trai ông, một cậu bé da vàng với đôi mắt tinh anh đang đi lại giữa phòng với đôi guốc cũ. Thỉnh thoảng để cho đỡ mỏi, Phan Chu Trinh lại co chân, đầu gối lên tới vai, trong khi cậu phiên dịch, một sinh viên trẻ của trường Jules Ferry dịch ý nghĩ của ông bằng tiếng Pháp cực hay.


Trước tiên, theo Pham Chu Trinh, dân bản xứ yêu cầu Chính phủ quan tâm vấn đề tổ chức tòa án, tuyển chọn quan lại và thu thuế.


Ông nói: Chúng tôi mong muốn có sự phân quyền để một viên quan không đồng thời cai trị và xử án. Sự phân quyền này đã có ở Nam kỳ và mặc dù chưa phải việc xét xử luôn được công minh nhưng tổ chức tòa án nhìn chung khả dĩ được dân chúng chấp nhận. Tiếc thay, ở Bắc và Trung kỳ thì không được như vậy. Các viên chức Chính phủ tự quyền xét xử hoặc ra lệnh cho các tòa án bản xứ xét xử mọi vụ án.


Pham Chu Trinh kể ra mấy vụ lạm quyền do lẫn lộn giữa hành pháp và tư pháp. Trước khi xảy ra nổi loạn ở Trung kỳ năm 1908, dân bản xứ trong tỉnh Quảng Nam thấy rõ bị một võ quan nhũng nhiễu, bắt dân phục dịch thêm nhiều trong việc xây dựng một con đường. Họ kêu lên Công sứ tỉnh nhưng viên quan này không lưu ý và một mực bênh vực tên quan kia.


Lại còn một vụ nghiêm trọng hơn. Cũng trong thời kỳ trên, một vị quan nguyên quán tỉnh Quảng Nam được bổ nhiệm Quan Hao ở Bắc kỳ, bị nghi là có liên quan đến vụ nổi loạn ở Trung kỳ. Ông ta bị bắt, bị quan trên kết án và đem chém luôn trong đêm đó. Án ấy không được công bố cho dân chúng biết mặc dù đã có luật qui định rõ ràng phải làm như vậy. Do đó mà dân bản xứ không tin vào công lý ở Đông Dương.


Điều cải cách bức thiết thứ hai theo Phan Chu Trinh là hệ thống quan lại. Không thể chấm dứt sự lạm dụng như hiện có với phương pháp tuyển dụng viên chức bản xứ như hiện nay.


Ông nói trước khi Pháp chiếm đóng thì các quan lại thường được chọn theo năng lực và chỉ được thăng tiến khi họ cai trị liêm khiết. Ngày nay, ngược lại toàn do sự ưu ái của quan trên, có khi ở chính quốc cũng như Toàn quyền cũng không được rõ. Tất cả đều được định giá: Mua giá 1.500 đồng một chức tri phủ, tương đương với chức quận phó ở Pháp. Một quan chức chỉ được thăng bậc khi nộp thêm tiền cho người nắm quyền đặt để chức vụ.


Tôi yêu cầu Phan Chu Trinh kể cho một trường hợp cụ thể. Ông ta có vẻ không muốn chỉ rõ tên tuổi một số nhân vật. Ông ta lấy chuyện bên Tàu làm ví dụ: Một viên tri huyện phạm tội bạo hành (đốt nhà giết người) bị dân kiện. Hắn liền nghĩ ra một thứ thuế mới đánh vào việc buôn bán heo là nguồn sống quan trọng của tỉnh, món thuế đó đã giúp hắn không những thoát mọi trừng phạt mà còn được thăng từ tri huyện lên tri phủ.


Để chấm dứt tình hình đó, Phan Chu Trinh nói tiếp: Chính phủ cần kiểm soát lại chặt chẽ hơn việc bổ dụng quan chức bản xứ, cũng cần gấp rút cải cách giáo dục và thi cử để chọn quan chức. Hiện nay người ta vào quan trường qua con đường thi cử bằng chữ Hán. Nhưng người bản xứ là những kẻ đầu tiên đòi hỏi phải có nền giáo dục hiện đại và chuyên sâu. Nếu có được những trường chuyên nghiệp như châu Âu, và nếu muốn trở thành quan thì không những phải tốt nghiệp ở các trường đó mà còn phải học đầy đủ các môn học cần thiết thì số viên chức bản xứ sẽ có học thức hơn và ít hơn. Người ta sẽ không còn thấy ở Đông Dương số người bản xứ chỉ có bằng mà không có chỗ làm, và đó là những mầm mống của sự bất mãn.


Nhưng có lẽ những tuyên bố của Phan Chu Trinh về vấn đề thuế lý thú hơn cả. Trước khi cải tạo được chính sách, ông nghĩ là Chính phủ Pháp phải lo bảo vệ người dân nộp thuế chống bọn tham nhũng đang bóc lột ở Đông Dương.


Trước hết nhân dân bản xứ bất bình về nạn đi xâu. Loại thuế này được qui định mỗi năm bốn ngày, nhưng thường thì dân phu bị gọi đến khiêng các viên chức người Âu được giữ lại một hay hai tháng bằng đủ mọi cớ. Và suốt thời gian ấy chỉ được trả 8 đến 10 xu thay vì 20 thường lệ. Ngoài ra còn có những cuộc lễ lạt đón tiếp quan trên, người dân bản xứ bị buộc mất nhiều ngày công ngoài những ngày xâu qui định. Tất cả những sự lạm dụng ấy làm người dân không thể chịu nổi.


Việc thu thuế ruộng đất lại còn ghê gớm hơn. Ấn định mức thuế và thu thuế đều trong tay một mình lý trưởng. Họ lợi dụng để ưu đãi cho người thân quen. Có lúc tay Công sứ tỉnh muốn phạt một xã nào lại tùy tiện nâng số mẫu ruộng (1 mẫu = 3600m2) mà xã đó phải trả thuế. Nhưng không chỉ có vậy, mỗi người bản xứ khi nộp thuế lại phải nộp thêm một khoản “quà đút lót” cho lý trưởng, có khi ngang bằng mức thuế phải nộp. Tiền phải nộp vì thế thành gấp đôi khoản thuế thực phải nộp theo luật.


Đến phiên mình, lý trưởng khi đem thuế lên nộp quan trên lại phải kèm một khoản “quà đút lót” tương xứng với vị thế của viên quan đó. Vì phải nộp các khoản đó trong một thời hạn nhất định, nên nhiều khi lý trưởng phải đi vay nặng lãi của người Tàu cho vay đến mức 60% lãi và tiền đó nhiều khi lại rút từ các ngân hàng địa phương.


Phan Chu Trinh đã nói những điều đó. Giọng ông ta không hề biểu lộ hận thù hay nóng giận. Ông ta cũng tránh khuyến cáo Chính phủ Pháp. Quá lắm là ông ta nhắc tôi rằng ở Ấn Độ, người Anh đã chấm dứt các lạm dụng tương tự bằng cách thực hiện đo đạc hoàn chỉnh toàn bộ ruộng đất. Ông ta đủ tinh tế để hiểu là không có bất cứ lời bình luận hùng biện nào có thể sánh với sự trình bày mộc mạc và đơn giản những thực tế như vậy”.


Sau khi viên phiên dịch Trần Văn Đẩu trở về nước ngày 10 – 9 – 1911, Phan Châu Trinh và con đến ở nhà bà Melon tại số 78 đường Assas là một địa chỉ tin cậy do ông Roux giới thiệu. Người trong nhà rất quý mến và giữ bí mật cho ông, địa chỉ này đã được thông báo cả về cho bạn bè ở Hà Nội (Lương Văn Can) ở Côn Đảo và lực lượng cách mạng Trung Hoa để liên hệ. Còn Phan Châu Dật thì được vào học một trường làng ở Montparnasse. Do chuyên cần và chăm chỉ trong 6 tháng Dật đã luôn giữ vị trí đầu bảng trong một lớp gần 46 học sinh.


Thời gian đầu Phan Châu Trinh và Phan Châu Dật được cấp mỗi tháng 300 phờrăng bằng 2 học bổng du học tối thiểu. Như vậy ông cũng đã lo về đời sống của mình và của con.


Vốn tính tiết kiệm, mỗi ngày ông chỉ mua những món lòng heo, gà, dê, hai cha con ăn mà sống, sống để mà phụng sự cho quốc dân, tấm thân dù khổ, chỉ lấy làm khổ mỗi khi nhớ tới quốc dân còn đang chìm đắm nhất là nhớ bà vợ hiền ở Quảng Nam cùng hai cô con gái Phan Thị Châu Liên (cô Đậu) và Phan Thị Châu Lan (cô Mè) nay vẫn chưa thành gia thất.


Sau khi bài phỏng vấn được đăng, bọn mật thám tăng cường theo dõi ông.


Thư của J. Fourès ngày 9-02-1912 gửi Sarraut có đoạn viết:


“Từ sau thư số 9 ngày 30 – 12  vừa rồi không có sự kiện gì đặc biệt gây xáo động với Phan Chu Trinh, chỉ có đợt rét gay gắt mấy ngày gần đây đã làm ông ta bị cảm lạnh và nay vẫn chưa bình phục hẳn. Có ba thầy thuốc An Nam luân phiên đến thăm và ông ta làm theo lời khuyên đơn giản của họ là: đừng ra khỏi nhà.


Theo các thông tin tôi nhận được thì người An Nam Phan Văn Trường ít gặp ông ta so với trước đây.


Tôi có nghe nói là các học sinh An Nam ở trường thuộc địa kể chuyện là ông Phan Châu Trinh tuồng như có đi cùng với ông quan ba Roux đến rạp hát Vaudeville ít ngày trước đây. Việc này theo tôi là không quan trọng lắm, hơn nữa tôi cũng không có chứng cứ gì để biết có đúng như vậy không. Ngược lại, tôi được khẳng định là ông Phan Châu Trinh không hề ra khỏi nhà buổi tối, nhất là chỉ về vào nửa đêm. Một sự vi phạm thói quen như vậy chắc phải được sự lưu ý của những người trong nhà trọ tư nhân ông ta đang ở. Hơn nữa, ông Trinh không biết tiếng Pháp thì làm sao thấy hứng thú khi xem vở kịch kể cả khi có người dịch giỏi bên cạnh vì người này nói thì sẽ bị sự phản đối của khán giả khác”.


Sự thực là ông Roux đã đưa ông Phan đi xem vở kịch Những con châu chấu do Emile Fabre soạn và dàn dựng để chế diễu quan chức thuộc địa. Thư ông Bùi Kỷ lúc ấy ở Pháp gửi cho Ngô Đức Kế cho biết chính ông Phan đã trò chuyện với Emile Fabre và gợi ý cho ông này sáng tác. Ông đã cùng ông Phan Văn Trường và nhiều đồng bào đi dự buổi diễn đầu tiên và vỗ tay nhiệt liệt. Bọn Tây thuộc địa rất tức. Vở này diễn được 20 buổi thì bị cấm. Ông Roux dịch để gửi sang Việt Nam cũng bị ngăn chặn. Nhân vật Nam Triệu trong kịch là hình ảnh của Phan Châu Trinh.


Salles tổng thư ký Ủy ban Paul Bert rất bảo thủ, cũng đã mời Phan Châu Trinh đi thăm và giới thiệu trường Parangon mà ông ta đã bố trí phần lớn con em người Việt ăn học.


Nhưng sau đó chính Salles lại thay đổi ý kiến. Trong thư của Fourès báo cáo toàn quyền đề ngày 18 – 10 – 1911, viết:


“…Ngài đã bảo tôi đưa Phan Châu Trinh và con trai ông ta vào trường Parangon nhưng mặc dù tôi đã hết sức vận động ông Hiệu trưởng Rousseau vẫn khăng khăng không chịu nhận vì ông Salles Tổng thư ký Ủy ban Paul Bert đã phản đối, ông này cho rằng y sẽ biến học trò An Nam đang học ở đây thành đồ đệ các tư tưởng cải cách của y. Sự phản đối của ông Salles khá bất ngờ vì ta nhớ chính ông ta đã đưa Phan Châu Trinh đến Parangon như là khách danh dự của trường này và trong suốt cả buổi chiều đã đưa ông ấy đi xem khắp lượt cho thấy tất cả tiện nghi của trường.


Trước sự phản kháng không thể vượt qua của ông Salles tôi đã cố gắng thu xếp để cha con Phan Châu Trinh đến ở chỗ con trai cả của ông Rousseau hiện đang điều khiển một cơ sở dành cho thanh niên phần lớn là ngoại quốc ở Joinville la Pont nhưng ông Salles vẫn không đồng ý để Phan Châu Trinh ở đó… Với một sự thay đổi ý kiến kỳ lạ ông ta vẫn sợ ảnh hưởng của Phan Châu Trinh dù ở xa mặc dù từ khi đến Paris tới nay người An Nam này cũng tỏ ra rất đàng hoàng, tư cách không có gì đáng chê trách cả.


Trước tình hình đó ông Rousseau sợ nếu không tuân theo, ông Salles sẽ rút lui các học sinh An Nam (khoảng 20 người) hiện ở trường ông ấy.


Ông Rousseau đề nghị thu xếp cho Phan Châu Trinh và con đến ở tại một gia đình nơi con thứ hai của ông ta đang làm trợ lý phái viên Chính phủ (substitut de Procureur de la République) ở Newfchatel-en-Bray gần Dieppe. Ông Rousseau con này sẽ là người liên hệ với cha con Phan Châu Trinh. Cậu con trai sẽ học trường tiểu học nơi đó. Hàng tháng tôi có thể đến đó vài lần để hỏi chuyện mà không tốn kém mấy. Chỉ có vấn đề là khí hậu ở đó khá lạnh ít hợp với thể trạng Phan Châu Trinh còn ngoài ra thì rất bảo đảm về mọi phương diện…”.


Đọc xong báo cáo của Fourès, Sarraut cười ngất:


- Rõ khéo anh chàng này chỉ tạ sự đổ vấy tất cả cho Salles rồi phủi tay. Đúng là một Pilat([3]).


Sarraut giở báo cáo mật của Fourès ngày 5 – 8 – 1911 gửi cho mình ra đọc lại, và lấy bút chì đỏ đánh dấu những đoạn cần thiết:


“Đáng lo là Phan Châu Trinh sẽ bị lôi kéo bởi một vài thành viên công đoàn có xu thế cách mạng, thậm chí tới một số người Pháp có thiện chí nhưng có những suy nghĩ sai lầm. Ông ta lại còn có thể thích gần gũi các học sinh sinh viên An Nam có mặt tại Paris, khoảng 40 người. Tác động của ông ta cũng như ở Trung và Bắc kỳ là bằng những cuộc diễn thuyết. Ông ta chỉ cần lặp lại các kiểu đó ở Paris và sẽ dễ dàng tìm thấy ở tiệm ăn Tàu đường Cardinal Lemoine hay ở một nơi nào khác chỗ hội họp để phát huy ảnh hưởng của mình. Ảnh hưởng đó đã rõ rệt và thấy được rồi đó. Bà quản lý nhà bên trái Đại học Guyau nơi ông Phan Châu Trinh ở ba tháng gần đây đã báo với tôi là bà ta rất ngạc nhiên khi thấy một số sinh viên và học sinh đến thăm Phan Châu Trinh, cho thấy rõ uy lực của ông ta đối với đồng bào mình. Bà ta bảo: ông ta nói trong một tiếng rưỡi hay hai tiếng và không phải là một cuộc trò chuyện vì những người đến hầu như chỉ nghe, hầu như chỉ há mồm ra tiếp thu lời ông ta. Ta có thể nghĩ điều gì sẽ xảy ra nếu trong sinh viên và học sinh ở Paris sẽ xuất hiện một thanh niên Đông Dương năng nổ trong hành động như Phan Châu Trinh đã thể hiện trong nói năng, và nếu người thanh niên Đông Dương đó lại có mối quan hệ với các sinh viên trung học hoặc Nhật ở tiệm ăn Tàu hoặc đôi nhà cải cách Ấn Độ theo xu hướng cực đoan.


…Tóm lại các cung cách của ông Phan Châu Trinh từ khi ông đến Paris, các cố gắng của ông ta để đặt quan hệ với các sinh viên và học sinh ở Paris hoặc quanh Paris, các tìm kiếm đó đã được một số đồng bào chúng ta giúp đỡ. Những người này thật lòng nghĩ rằng họ đang phát hiện một vụ Dreyfus([4]) mới hoặc vô tình đã giúp ông ta thực hiện ý đồ tuyên truyền (cuộc gặp ông Salles, thăm trường Parangon ở Joinville le Pont, ý muốn rõ ràng của ông ta muốn được người nghe, muốn có tín đồ, những cuộc viếng thăm thường xuyên ở tiệm ăn Tàu, nơi ông ta biết sẽ gặp người An Nam. Tất cả những điều đó làm ta nghĩ là ngài Bộ trưởng Messimy đã thấy ngay những gì cần phải làm. Và theo tôi đó là cách giải quyết trước mắt vấn đề Phan Châu Trinh mà tôi cho là nguy hiểm cho tương lai theo kinh nghiệm của vụ Kỳ Đồng([5]).


Sarraut lại giở thư của Salles đề ngày 3 – 10 – 1911 gửi cho Bộ Thuộc địa rồi Bộ Thuộc địa sau chuyển cho mình ra đọc lại:


“Tôi không tin là những kẻ lãnh đạo, những tên cầm đầu (phong trào quốc gia người Việt – HA) ấy sẽ từ bỏ kế hoạch của họ. Trong những điều kiện ấy tôi cho rằng sẽ rất phi chính trị, rất nguy hiểm nếu để Phan Châu Trinh tiếp xúc hàng ngày trực tiếp với nhóm học sinh An Nam khá đông mà chúng ta đã bố trí ở Parangon. Chúng ta đang có kế hoạch Pháp hóa những đầu óc non trẻ ấy và tôi tin là chúng ta sẽ đạt được mục tiêu đó, thế mà bên cạnh chúng lại có một nhà Nho cũng sẽ rất có kế hoạch cố sức phá hoại hoạt động của chúng ta mà chúng tôi sẽ không thể nào can thiệp được vì ông ta sẽ không phụ thuộc vào Ủy ban chúng tôi.


Tôi nghĩ rằng chẳng cần phát triển lâu hơn cái ý nghĩ đó, nhưng tôi xin trình bày với ngài ngay bây giờ cũng như tôi sẽ trình ra trong cuộc họp sắp tới của Ủy ban Paul Bert để tôi sẽ khỏi bị quy trách nhiệm của cá nhân tôi đối với việc đào tạo về tư tưởng và tình cảm của các trẻ An Nam do Ủy ban chúng tôi đỡ đầu”.


Vốn là một tên thực dân cáo già, Sarraut không đồng ý đề trong đề nghị của Fourès báo cáo đề ngày 5 – 8 – 1911 xin đưa Phan Châu Trinh đến Baudol cách Toulon 18 cây số hay một nơi nào đó ở bờ biển Địa Trung Hải nơi đầy đủ các điều kiện tương tự như Baudol với mục đích tách rời Phan Châu Trinh khỏi môi trường sinh viên, học sinh ở Paris.


Ngày 19 – 10 – 1911, Albert Sarraut viết cho Bộ trưởng Thuộc địa như sau:


“Do các vấn đề được Alliance franÇaise tuyên bố về việc đưa Phan Châu Trinh đến ở Parangon xin báo ngài là theo đề nghị của ông Fourès – Giám đốc Phái bộ giáo dục Đông Dương: cha con Phan Châu Trinh sẽ tiếp tục ở Paris tại nhà trọ gia đình họ hiện nay đang ở tại số 78 đường Assas. Con trai Phan Châu Trinh sẽ tiếp tục học trường làng trong quận Montparnasse”.


(còn tiếp)


Nguồn: Luật sư đỏ. Tiểu thuyết ca Hoài Anh. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 







[1] Dẫn theo Lê Thị Kinh (Phan Thị Minh - Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, NXB Đà Nẵng, 2001.




([2])  Viết theo nguyên văn.




([3])  Quan tòa La Mã sau khi ký lệnh đóng đinh chúa Jésus thì rửa tay.




([4])  Cuối thế kỷ 19, Dreyfus là một sĩ quan trong Bộ Tổng tham mưu Pháp đã bị vu khống làm phản, bị kết án lưu đày, toàn nước Pháp đã dấy lên một phong trào bảo vệ người vô tội. Từ phong trào này đã đưa đến thành lập “Liên minh Nhân quyền và Quyền công dân”.




([5])  Kỳ Đồng tức Nguyễn Văn Cẩm đã tổ chức phong trào chống Pháp năm 1890 ở Nam Định và năm 1900 ở Yên Thế.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »