tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18993570
Lý luận phê bình văn học
10.01.2011
Tư liệu
Về tập thơ Cây ánh sáng của Nguyễn Quang Thiều

Ra đi từ đêm


 


Và bây giờ, những con bò bóng tối, đã đến


 


cánh đồng cuối cùng


 


Suốt đêm tiếng rống đàn bò


 


rền rĩ những cách đồng câm lặng


 


Suốt đêm hơi thở đàn bò


 


phả nóng như một đêm mùa hạ


 


Chúng đã đi hết đường cày cuối cùng


 


những chiếc ách biến mất gần sáng


 


dấu chân chúng đã điểm chỉ


 


trên những cánh đồng thế gian


 


Trong ban mai đàn bò mỗi lúc vàng rực


 


và tan vào ánh sáng


 


những tiếng rống vọng lại


 


dàn kèn đồng trong xóm đạo nhỏ


 


đang tập buổi cuối cùng


 


để đón lễ Phục sinh


 


Giờ chỉ còn những đám mây


 


phiên bản của đàn bò


 


bay trên cánh đồng


 


của những con bò khác


 


Nguyễn Quang Thiều


 


 


Cây ánh sáng và câu chuyện “hoa tiêu” của thơ hiện đại


Nguyễn Tri


In xong và nộp lưu chiểu tháng 5/2009, nghĩa là cách đây đã gần 2 tháng, nhưng tập thơ mới nhất của Nguyễn Quang Thiều, người có ảnh hưởng rộng lớn trên thi đàn hiện đại lại vô cùng lặng lẽ. Điều đó với tôi thật khó hiểu. Trong 10 năm trở lại đây, bạn đọc đã chờ đợi “cơn bão mới” của nhà thơ có bút lực mạnh mẽ “như chảy tràn trên mặt đất” này. Vì thế mà việc chưa một dòng chữ nào trên các báo, trên mạng giới thiệu về Cây ánh sáng của ông chỉ có thể giải thích là ý muốn riêng của Nguyễn Quang Thiều, bởi rất có thể người ở “trung tâm” của thông tin và rất sẵn những công cụ truyền tin mạnh, đôi khi lại muốn “náu mình”.


Nàng lại bước qua cầu và lại biến thành thiên nga Cô gái choáng váng rời khỏi nơi mà đối với chính mình là một lâu đài mơ ước để trở về với ngôi nhà thường nhật, sau khi sẽ phải vượt qua một cây cầu nhỏ bắc ngang dòng nước đục ngầu... Nào, đi thôi, chỉ cần vài bước nữa cô sẽ đặt chân lên cầu, và mấy cái nhịp bê tông trơ lì ấy sẽ đưa cô về một nơi chốn cũng trơ lì không kém. Cô vẫn phải bước lên cầu vì cái cảm xúc tuyệt diệu cô vừa được nếm trải nó đã trôi qua. Giờ là lúc cô về với thực tại.


Cái cảm xúc tuyệt diệu ấy thực ra nó chẳng “thoáng chốc” và “vụt qua” trong nháy mắt như các nhà thơ thường sầu não và ủy mị thế. Nó vẫn đấy, dừng lại, nấn ná, thậm chí còn cố tìm nơi cư trú trong những tâm hồn hiện đại khô cằn. Thế đó, cô gái cứ đinh ninh và yên tâm rằng, những điều kì diệu của mình đã “vụt trôi” nên mình sẽ “yên ổn và chán nản” sống với đời sống thường nhật của mình. Điều kỳ lạ là đúng vào lúc đó, lúc mà người đàn bà bước chân lên cầu và cảm thấy yên ổn nhất thì chuyện khác thường xẩy ra. Người đàn bà bước lên cầu và cơn rùng mình chạy khắp từ ngón chân lên tới đỉnh đầu.” “Nàng lại bước qua cầu và lại biến thành thiên nga”. Những điều kì diệu đánh trúng đỉnh đầu người đàn bà đúng ở nơi cô ta vững tâm yên ổn nhất. Và cái khô khan, trơ lì, mệt mỏi, chán nản nhưng yên ổn của cuộc sống thường nhật được rắc men, được ấp ủ, và được thúc ép dậy hương. Câu chuyện thơ ca này cũng giống như những điều kỳ diệu trên nằm trong tim Nguyễn Quang Thiều chảy suốt trong hai tập thơ gần đây: Nhịp điệu châu thổ mới, Bài ca những con chim đêm. Đó cũng chính là điều chúng ta cần “hình dung” về thơ ca của Nguyễn Quang Thiều trước khi đọc tập thơ Cây ánh sáng, một tập thơ khó, rất khó đọc ngay cả với những người được gọi là biết đọc thơ và biết làm thơ trong đời sống hiện đại này.


Lõi sắt nung đốt trong lò luyện Câu chuyện về người đàn bà hóa thiên nga thì không đổi nhưng cái sức mạnh của tia sét “đánh đúng đỉnh đầu” thì thay đổi rất nhiều. Tia sét ấy cường lực hơn, chi tiết hơn và “ẩn giấu” hơn. Trước đây, trong thơ Nguyễn Quang Thiều, mỗi khi tia sáng lấp lánh phóng xuống, hào quang thường tỏa rọi, tỏa ra rất nhiều lớp cảm xúc. Những cảm xúc ấy dẫu sao cũng khiến cho người đọc cảm thấy thân thuộc hơn, dễ gần hơn và dễ đọc hơn rất nhiều. Cây ánh sáng, mặc dù ngay trong ngôn ngữ, chúng ta có thể cảm nhận được dụng ý của “một cây” thay cho “một tia” hoặc “những tia”, nhưng lại không tỏa ra những lớp cảm xúc như mọi người cứ ngỡ là sẽ được gặp. Không. Gần như là tuyệt không! Cái “chất kì diệu” trong Cây ánh sáng khác nhiều so với những điều mà người đọc hiện đại hay cảm về nó. Nó giống như một lõi thép được tôi trong lò luyện, ban đầu những gỉ sắt được nung đỏ, tóe ra, bắt lửa cháy rừng rừng như những tia hào quang rất quyến rũ. Những lớp hào quang cháy lên từ gỉ sắt ấy chính là lớp cảm xúc mà người đọc ao ước và luôn nghĩ sẽ được thưởng thức nó. Nếu vậy họ nên đứng ra một bên, nên gấp sách lại, nên tránh xa lò luyện vì lửa đã chín muồi, độ nóng đã đạt cái giới hạn cần phải có. Không còn một tia sáng nào bắn ra cả, có nghĩa là không còn một gỉ sắt nào còn tồn tại nữa. Mọi thứ phù du ấy đã được thiêu trong lửa và trước khi kết thúc sứ mạng phù du của mình, cũng kịp hiến dâng cho cuộc đời một tia hào quang sáng chói. Bây giờ chỉ còn lại một thứ, đó chính là cái lõi sắt, cái “chất kì diệu” độc đáo mà chúng ta vừa đề cập đến ở trên.” Một hơi thở lớn phả ấm những quả đồi, đâu đấy thì thầm giọng nói bên những ô cửa, bấy giờ là lúc nửa đêm, lộng lẫy tuyết bay/ Vẫn những ngôi nhà ấy, những con đường ấy, những hàng cây ấy/ Giờ mang một hình ảnh mới/ Tất cả dấu vết chết chóc được xóa đi/ Người đàn ông tha phương không ngủ nhìn tuyết nghĩ về một thế giới mới/ Máu thức tỉnh như những dòng sông và chảy, dưới tuyết, dưới làn da người, và chảy” (Tuyết lúc nửa đêm, trang 16).  Cuộc sống mới ấy, cuộc sống giao hòa giữa con người và tự nhiên, chảy dưới “tuyết và da người” ấy, theo như Nguyễn Quang Thiều, là cái chuyển động liên miên, bất tuyệt của cái đẹp. Sự chuyển động ấy, vốn không phải là bản chất của cái đẹp nhưng nó chính là sứ mệnh của cái đẹp. Cái sứ mệnh làm sục sôi mọi vật, thúc đẩy mọi vật, kêu gọi mọi vật, tha thứ cho mọi vật và thậm chí cưỡng đoạt mọi vật. Đúng thế. Có những vật trơ lì và say ngủ đến mức có cả ngàn quả chuông thiêng mời gọi cũng không khiến chúng rời bỏ những giấc mê sâu đắm được. Phải cưỡng đoạt những vật u mê đó. Đó là một phần trong sứ mệnh khắc nghiệt nhưng bao dung của cái đẹp. “Đâu đấy ánh sáng không bao giờ tắt trong cả những đêm/ Và sự chuyển động mỗi lúc một mãnh liệt trong cái kén bất động/ Rồi đột ngột xuất hiện, trong sự chờ đợi của đất đai, của cây cỏ và bầu trời, một sự sống diệu kỳ với vẻ đẹp mong manh/ Đâu đấy, không chỉ một đâu đấy, mà tràn ngập bất tận/ Từ bóng tối đến ánh sáng, mở ra những cánh bướm/ Và theo luồng hơi thở ấm áp và rộng lớn của tháng Giêng/ Chúng mang vẻ đẹp của đời sống đi khắp thế gian/ Mà không để lại một tiếng động nhỏ’’.( Sự chuyển động của cái đẹp, trang 40).


 


“Bẻ ghi” thơ hiện đại sang một làn đường mới


Người đàn bà mệt nhọc “hóa thiên nga” phía trên được thay bằng một hình ảnh ly kỳ hơn, sắt đá hơn, quyết liệt hơn, và cường lực hơn trong tập thơ này. Chúng ta có thể tìm thấy điều đó trong bài Hoa tiêu (trang 31), một bài thơ có thể giúp chúng ta tiếp cận với Cây ánh sáng nhanh hơn. “Hãy nhắm mắt lại”. “Hãy rẽ trái” là hai mệnh lệnh vang lên liên tục và xuyên suốt cả bài thơ. Thế giới hiện đại có quá nhiều các giá trị tương đương và tưởng như tương đương, quá nhiều các giá trị đối sánh. Điều đó khiến con người hiện đại không còn tin vào chính “tia sét giáng xuống” cuộc đời mình nữa. Đó là một bi kịch dù đau đớn nhưng lại rất phổ biến, thậm chí gần như toàn bộ nhân loại hiện đại đều mang bi kịch đó. Vậy thì tâm hồn hiện đại cần một Hoa tiêu, cần một sức mạnh lớn, không mời gọi nữa, không khuyến khích nữa, không khuyên bảo nữa mà là “cưỡng ép”, mà là “chịu định đoạt” theo một sức mạnh lớn hơn và hoàn hảo hơn sức mạnh của tâm hồn đó. Sức mạnh hoàn hảo đó, đơn giản chính là cái “chất sống” đang được tôi luyện trong lò lửa nhân gian.” Hãy rẽ sang bên trái/ Có nghe thấy tôi nói không/ Nhưng đừng mở mắt/ Chỉ hé mở một lần anh sẽ suốt đời không dám bước thêm một bước/Anh còn nhớ cái cây ở ngã tư đường nơi có một kẻ đi theo anh/ Và gã viết một con số vào chiếc sổ nhỏ hơn lòng tay của gã... Anh phải rẽ trái một lần nữa/ Đừng ngờ vực/ Và chuẩn bị rẽ trái một lần nữa... Nào chuẩn bị rẽ thêm một lần nữa.Nhưng vẫn là rẽ trái/ Chỉ có rẽ trái. Đó là lần rẽ trái cuối cùng/ Và bây giờ anh hãy mở mắt ra” (Hoa tiêu, trang 31) Tập thơ Cây ánh sáng đã bẻ ghi thơ hiện đại sang một làn đường mới thế nhưng thật khó để cho các nhà thơ và bạn đọc nhận ra ngay được điều đó. Điều đó thật dễ hiểu vì sự phức tạp và khác biệt của cấu trúc ngôn ngữ, thể hiện ý tưởng trong tập thơ này. Hy vọng với một ngày xa vừa đủ, giống như kỳ hạn của các  phép lạ chúng ta vừa nhắc đến phía trên, tập thơ Cây ánh sáng sẽ được đọc và được nghiền ngẫm theo đúng chất “hoa tiêu” mà nó khởi xướng. Từ bóng tối đến ánh sáng, mở ra những cánh bướm/ Và theo luồng hơi thở ấm áp và rộng lớn của tháng Giêng/ Chúng mang vẻ đẹp của đời sống đi khắp thế gian/ Mà không để lại một tiếng động nhỏ’’. (Sự chuyển động của cái đẹp, trang 40).


 


Nguyễn Tri


thethaovanhoa.vn.


 


“Cây ánh sáng”sinh ra từ vẻ đẹp và sự sợ hãi


Trần Sáng


Sâu sắc và khó hiểu, như vẫn thường thế - Nguyễn Quang Thiều, thi nhân đứng riêng một cõi, với những thi phẩm chập trùng biểu tượng và xao xuyến nỗi niềm bản thể. “Cây ánh sáng” Tập thơ gần đây nhất của anh, đã xuất hiện, gần mười năm, kể từ sau “ Sự mất ngủ của lửa” (tập thơ được giải thưởng của hội nhà văn Việt Nam 1993).


Không phải cách tổ hợp các âm tiết, cũng không phải những thi ảnh lộng lẫy và huyền hoặc, bí hiểm, cũng không phải phép tu từ điêu luyện…


Mặc dù đây cũng chính là những thành tố quan trọng để làm nên sự độc sáng đầy cá tính của một bản ngã sáng tạo mang tên Nguyễn Quang Thiều. Song rõ ràng không phải là những yếu tố đó, mà chính là sự ám ảnh về cái đẹp và sự sợ hãi đã tạo nên vụ mùa của anh, một thi nhân, đang gieo hạt mầm hiện đại xuống cánh đồng thi ca truyền thống.


 


Không một mùa đông nào làm tàn lụi được những quả đồi


 


Vĩ đại hơn những tư tưởng/lộng lẫy hơn những lâu đài


 


Chúng ta những đứa trẻ cô đơn sợ hãi đứng nhìn bất động


 


Những cái cây cổ thụ im lặng trong gió thổi


 


Trong mây bay, trong hỏa hoạn thành phố


 


(Những ngọn đồi ban mai).


 


Những câu thơ đầu tiên, trong khổ thơ đầu tiên, của bài thơ mở đầu tập thơ, nói về vẻ đẹp của những ngọn đồi, những cái cây. Song thực ra, nó không chỉ nói về những ngọn đồi và những cái cây. Đó chính là sự hiền minh của thiên nhiên, được hiện hình qua những ngọn đồi, những ngọn đồi trầm mặc đẫm ánh ban mai với những tán cổ thụ lặng im trong gió thổi. Một vẻ đẹp mà nếu không biết cách lắng nghe, không có một khoảng không đại im để thưởng ngoạn, thì chúng ta không bao giờ cảm nhận được. Ở đây dường như đã có một sự thể nhập. Trong một khoảng khắc hiếm hoi diệu kỳ nào đó, cái tiểu ngã bé mọn của nhà thơ đã gặp gỡ với cái đại ngã vô cùng .


 


Trong “cây ánh sáng” cũng như trong thơ của Nguyễn Quang Thiều, có một thi ảnh thường được trở đi trở lại, đó là hình ảnh Ban mai.


 


Một ngọn đồi trầm mặc đẫm sương đêm, đang rạng dần trong ban mai, với những liên tưởng về một vẻ đẹp phồn thực, về một giấc mơ sinh nở.


 


Chúng ta đẹp như ban mai đầy ước mơ sinh nở


 


Ý nghĩ ấy vụt qua bầu trời chợt mở.


 


Hay một ban mai với linh ảnh của những chú Bò vàng rực đang tan dần vào ánh sáng (linh hồn những con Bò). Cũng có thể là một ban mai cận kề chết chóc, bên những con đường xuyên qua sa mạc Trung Á, đầy hung hiểm, với đạo quân bịt mặt bằng khăn đen và những con Lạc Đà è lưng thồ vũ khí, lầm lũi bước đi dưới tiếng kêu của những con Quạ không ăn xác chết (những con Quạ thành phố Karachi). Một ban mai ùa ra theo cánh cửa mùa hè vừa hé mở….Ban mai, đó là một sự bắt đầu, một khởi nguyên trong vắt, chỉ có làn gió ướm lạnh se se đang run rẩy thổi, và tiếng Sẻ ri lích rích gọi bầy đang dần dà ngự trị không gian, cái đẹp lúc khởi đầu mong manh như pha lê, con người ta lúc khởi đầu tinh khôi trong cả ý nghĩ.


 


Khước từ sự mọi niêm luật và bỏ qua sự vòng vèo của vần điệu. Nhưng trong “Cây ánh sáng” vẫn hiện ra một tiết nhịp, thật mơ hồ, nhưng không thể chối bỏ sự tồn tại của nó, sự chuyển động của các thi ảnh được kết nối bởi các động từ. Đó là sự vận động của bản thể, của tự nhiên, sự hoán chuyển qua lại giữa hữu thể và hư vô trong một hiện thực duy nhất.


 


Đó là cái đẹp phồn thực, qua hình ảnh của những con côn trùng đang xòe cánh bay đến đẻ trứng trên các phiến lá trong hơi thở ấm áp của tháng giêng.


 


Cái đẹp luôn tồn tại quanh chúng ta, hoặc mơ hồ, hoặc rõ nét, nhưng nó luôn đâu đây, và luôn luôn không ngừng chuyển động, như những đài hoa đang khai nhụy dưới tà cánh khép im lìm, như những cánh Bướm đang mơ hồ khép mở, trong vỏ kén lặng câm. Cái “động” tàng ẩn trong cái “tĩnh”. Đó là một ẩn dụ nghệ thuật tuyệt đẹp đậm thiền chất phương đông.


 


Đâu đây, ánh sáng không bao giờ tắt trong cả những đêm


 


Và sự chuyển động mỗi lúc một mãnh liệt trong cái kén bất động


 


Rồi đột ngột xuất hiện, trong sự chờ đợi của đất đai, cây cỏ và bầu trời


 


Một sự sống diệu kỳ với vẻ đẹp mong manh.


 


(Sự chuyển động của cái đẹp)


 


Bên cạnh cái đẹp là sự sợ hãi. Như một biện chứng của đời sống .Trong “Cây ánh sáng” cái đẹp luôn cận kề với sự sợ hãi. Nói cách khác, thì đó chính là nỗi bất an xao xuyến luôn tiềm phục trong sự vật. Là một diễn ngôn khác về tính đa nguyên của đời sống sai biệt đa thù. Một đời sống mà nếu qui hồi về tận cùng của bản thể, thì sự vật lại cùng gặp nhau ở một chỗ. Có thể có khác nhau đâu đó về cách hành ngôn, nhưng nỗi bất an xao xuyến trong “Cây ánh sáng” của Nguyễn Quang Thiều, ta có thể tìm thấy trong các nhà huyền học đông phương, từ Lão Đam, Trang Chu, đến Gudjieff, Aurobindo, hay Krisnamurti, Osho… Từ hàng nghìn năm trước đến bây giờ, ngay trong những giây phút khải hoàn hoan hỷ và cả khi số phận nhân loại tưởng chừng đã bị đẩy đến bờ vực của sự khốn cùng. Họ luôn nhắc chúng ta về sự khô cằn của tâm hồn con người, về những nguy cơ khả thể đang hung hãn xâm chiếm nhân loại, về một thế giới đang tha hóa bởi những ham muốn không có điểm dừng.


 


“Cây ánh sáng”, đã biểu hiện điều đó qua bi kịch về ước mơ phồn thực của những con cá được sinh nở, được xòe vây phun trứng giữa dòng hải lưu ấm nóng, đã bị chôn vùi trong chiếc chum sành tăm tối, giữa các hạt muối như những kí ức biển còn vương vãi. (những con cá ướp). Song cuộc sống kỳ vĩ ở chỗ nó tồn tại như một dòng sinh lực bất tận. Những con bò đã cày xong đường cày cuối cùng, móng guốc của chúng đã in dấu trên cánh đồng thế gian và linh hồn của chúng thanh thản trôi theo những đám mây và hòa tan vào ánh sáng. Chỉ còn lại dư âm của tiếng rống rền vang, như đang quay lại cười nhạo những thừng chão, roi da, dao bầu và chum sành đựng tiết.


 


Nguyễn Quang Thiều là một trong số không nhiều những nhà thơ Việt Nam đương đại, đã khá thành công trong việc xây dựng thế giới nghệ thuật của mình, qua trùng trùng những biểu tượng. Từ những hình ảnh thơ đến những biểu tượng, từ các biểu tượng đến những suy niệm bản thể. Những con Cá ướp với giấc mơ về tự do, linh hồn những con Bò đưa đến những suy niệm về sự sống và sự chết. Những con Quạ không ăn xác chết ở thành phố Karachi rũ bóng tối trên đôi cánh và cố bay đến một bình minh cát trên những vòm thánh đường hồi giáo rền vang lời cầu nguyện và trên những con đường chở vũ khí xuyên qua sa mạc Trung Á, chính là niềm hy vọng cho một hiện thực tuyệt vọng. Những vẻ đẹp sầu muộn “trong cầu nguyện ở thánh đường Thomas more” ánh sáng từ những bông tuyết rơi lúc nửa đêm, hay sự tỉnh thức giữa khe hẹp những cơn mê lầm, của “ông già thổi kèn rắn,….đều phảng phất những dự cảm âu lo cho thân phận giòn mỏng của cái đẹp giữa một hiện thực hung hãn.


 


Và sự sợ hãi.


 


Lành-dữ; sống-chết; sáng-tối, sự lo âu và niềm thanh thản, hạnh phúc - bất hạnh; thiện lương và tà ác…những cặp phạm trù song sinh này được trở đi, trở lại trong các thi phẩm. Tác giả luôn bị giày vò bởi câu hỏi bản thể: Đời sống là gì? Đời sống của chúng ta có phải là một đời sống đích thực an lành? Và những nghi vấn u ám đang trở đi trở lại ấy, lại được cứu rỗi bằng Ban mai tinh khiết.


 


Cánh cửa vừa mở, ban mai tràn ra



Thế gian như buổi đầu tiên, những dòng sông cất tiếng


 


Ban mai âu yếm rọi sáng những ngọn đồi trầm mặc, những mái vòm thánh đường Hồi giáo, những hạt giống đang cựa mình thức giấc trên nhũng cánh đồng, trên cả giai điệu ân ái diệu kỳ của tuổi trẻ. Ban mai xua đi sự phiền não và đánh thức cái đẹp và đem đến cho thế gian một ngày mới.


 


Sự tổ hợp của âm tiết, sự chuyển động của các động từ, trong mối tương giao với những danh từ, như những dòng hải lưu cuồn cuộn dưới mặt biển êm đềm đã tạo nên những chuyển động âm thầm và mãnh liệt của cái đẹp, đã tạo lên một trầm tích ngữ nghĩa khôn cùng trong “cây ánh sáng” của Nguyễn Quang Thiều. Một trầm tích mà mỗi âm tiết đọc lên chỉ như một tiếng nổ khẽ, mõi kí hiệu lọt vào trường thị giác chỉ như một chấm phá, để mở ra một cõi mênh mông.


 


Nhà thơ, đối với Breton, là người giải phóng, và là tiền trạm của tương lai. Trong “cây ánh sáng” của Nguyễn Quang Thiều, đời sống hiện hữu dường như mới là một gợi ý cho các dự phóng về tương lai, trực nhận với đời sống sai biệt đa thù, nhà thơ dường như đã khai mở được huệ nhãn quang minh. Những biểu tượng, những thi ảnh trập trùng, bí hiểm chính là những mật ngữ của đời sống mà chủ thể tiếp nhận không thể không bắt tay vào trong một cuộc khám phá không hứa hẹn sự dễ dàng, song chắc chắn sẽ đầy hứng thú.



 


Có một mạch ngầm chảy suốt trong thơ Nguyễn Quang Thiều. Mạch chảy đó khiến cho thơ anh, từ cách diễn đạt hình ảnh, cấu trúc ý tưởng thơ, đều rất hiện đại. Thoạt qua, đã thấy rất gần với thơ triết học, loại thơ của trí tuệ, tư tưởng, hình ảnh, chứ không phải loại thơ thiên về tình cảm, vần điệu. Tuy nhiên, nếu đồng hành cùng Nguyễn Quang Thiều, mới thấy, cái mạch ngầm chảy suốt đó được bắt nguồn từ Làng Chùa quê anh, từ những những miền đất anh đã đi qua, trên đất nước này. Từ “ngôi nhà tuổi mười bẩy”, “những người đàn bà ghánh nước sông” đến “ sự mất ngủ của lửa” “ bài ca những con chim đêm” “nhịp điệu châu thổ mới” cho đến “ cây ánh sáng”…ẩn hiện đâu đó là gương mặt người cha đêm đêm ngồi hút thuốc Lào, những chim khách kêu đầu ngõ, rậu Dâm Bụt, nàng Tô Thị bồng con, tiếng Muỗi ran đêm, tiếng Cuốc gọi hè, là những người đàn bà vác dậm đi qua đại lộ, tiếng gà lúc hoàng hôn…Chính những thi ảnh trập trùng ấy đã tạo nên một mạch nguồn, cái mạch nguồn ấy, đã tạo nên dòng sông thi mộng, in bóng thảm vàng, hoa cải, thoảng thoảng mùi bùn non và ì ũm tiếng cá quẫy. Chính mạch nguồn ấy, đã khiến cho những ý kiến qui kết thơ Nguyễn Quang Thiều là thơ “ thơ tây giả cầy, là tắc tỵ, đứt mạch truyền thống” …trở thành những định kiến đầy ác ý và võ đoán. Tuy nhiên điều tác giả bài viết muốn chứng minh ở đây, là theo suốt cả thi trình Nguyễn Quang Thiều, dù ở giai đoạn truyền thống hay cách tân, thì đằng sau vẻ đẹp của ngôn từ của thi ảnh trùng trùng, rợn ngợp vẫn ẩn mật sự ám ảnh về cái đẹp và nỗi sợ hãi. Đó là “tiếng rít thuốc Lào như khoan thủng đêm đen” là con chim khách hoảng loạn, luýnh quýnh kêu đầu ngõ, là bông Dâm Bụt đỏ mắt đợi chờ, là người Mẹ đá bồng con chạy giặc. (Biên giới mùa này đạn giặc xé rừng đêm/nàng Tô Thị bồng con qua lối tắt-Đêm sân ga), là tiếng gà châu thổ, se sắt buồn…


 


(Ta khóc vụng một chiều thưa bóng mẹ/Tiếng gà buồn mổ rỗ mặt hoàng hôn.(mười khúc cảm). Từ những hình ảnh quen thuộc đích thực chắt ra từ kinh nghiệm của một người con đồng bằng châu thổ bắc bộ, trong “ngôi nhà tuổi mười bảy”, “ những người đàn bà ghánh nước sông”… đến những hình ảnh vượt ngưỡng ý thức, trong “ sự mất ngủ của lửa” , “cây ánh sáng”. Thì hiệu ứng nghệ thuật từ các thi phẩm của Nguyễn Quang Thiều, thủy chung vẫn là nỗi niềm bất an xao xuyến sinh ra từ cái đẹp và luôn cận kề với sự sợ hãi


Cũng qua đó mà anh đã định vị mình, khi anh nói lên những linh cảm mơ hồ về ranh giới của cái nhất thời sự sự trường cửu. Khi anh báo động về lằn giới mong manh giữa cái đẹp và sự vô luân.


 


Những cái cây, ngọn đồi, hoàng hôn, ban mai,Lửa, nước, đất, không khí, cầy, cuốc, mùa màng, sống, chết, tình yêu, ánh sáng , bóng tối, bình yên và chiến tranh… trong thơ anh đã tạo nên một vũ trụ ngữ học giàu có, ở đó những phức tạp và nghịch lý, luôn giày vò và đối chất nhau trong kinh nghiệm con người. Giữa cõi sống mong manh, hư phù đó, cái đẹp khiến cho con người có lí do để tồn tại còn sự sợ hãi thì buộc con người ta luôn nhận thức về sự tồn tại đó.


 


Trần Sáng


hoinhavanvietnam.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 26.04.2017
Nhân tính và nhân phẩm trong tập truyện Ký thác của Bình Nguyên Lộc - Vinh Lan 25.04.2017
Lời trong đời sống và trong thơ - Voloshinov 22.04.2017
Nỗi đau trong văn chương - Trần Đình Sử 22.04.2017
Hai cách đọc bài thơ Khiển hoài của Đỗ Mục - Hà Văn Thùy 21.04.2017
Đồng thuận xã hội - Một số vấn đề lý luận - Chu Văn Tuân 18.04.2017
Nguyễn Đăng Na và những thành tựu nghiên cứu văn học trung đại - Trần Đình Sử 05.04.2017
Những giới hạn của lý thuyết văn học nước ngoài ở Việt Nam - Trương Đăng Dung 31.03.2017
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
xem thêm »