tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19375683
Tiểu thuyết
05.01.2011
Hoài Anh
Luật sư đỏ

Mới đầu bọn thống trị thấy việc làm của Đông Kinh Nghĩa Thục chỉ có tính chất cải lương nên phỉnh phờ chưa can thiệp ngay, chỉ tìm cách kiềm chế và cho thám tử vào trong để dò xét. Nhưng sau đó phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục ngày một lan rộng nhiều làng xung quanh thành phố Hà Nội và những tỉnh có những phần tử tiến bộ đã tự động lập chi nhánh của Đông Kinh Nghĩa Thục hay mở ra những trường hướng học tập theo kiểu của Đông Kinh Nghĩa Thục như ở làng Đông Ngạc (quê Phan Tuấn Phong, Phan Văn Trường), Mai Lâm Nghĩa Thục (Hoàng Mai), Ngọc Xuyên Nghĩa Thục (Ngọc Xuyên, Hoàn Long) v.v… gây thành một phong trào yêu nước kết đoàn, bọn thực dân Pháp không thể giữ thái độ phỉnh phờ được nữa. Tháng 12 năm 1907, chúng đóng cửa trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Kế đó cuộc “Hà thành đầu độc” bị bại lộ, thực dân Pháp liền thẳng tay đàn áp phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Những tài liệu của Đông Kinh Nghĩa Thục đều bị cấm lưu hành và tàng trữ. Những người lãnh đạo phong trào đều bị bắt. Pháp điều tra được biết từ giữa năm 1900, các chí sĩ trong Đông Kinh Nghĩa Thục đã bàn nhau mở một hiệu bào chế thuốc bắc ở phố Hàng Bông lấy tên là Tuy Phương dược phòng và giao ông Võ Hoành chủ trì, vì ông giỏi nghề thuốc bắc. Thực chất hiệu thuốc có vai trò như một trạm liên lạc và là nơi để các đồng chí lui tới bàn công việc chung.


Vào một ngày đầu năm 1908, ông Võ Hoành mời ông Cai Nga tới hiệu thuốc nói chuyện. Trong buổi rượu đó, có cả ông Lê Đại và một vài người khác nữa cùng dự. Mấy tháng sau xảy ra vụ binh biến bất thành, ông Cai Nga bị Pháp bắt giải vào Hà Đông giao cho tổng đốc Hoàng Trọng Phụ tra hỏi. Ông Cai Nga bị chúng tra tấn kìm kẹp cực kỳ dã man, thương tích đầy người, nhưng vẫn kiên quyết không khai báo một câu nào, và cũng không nhận quen biết bất kỳ ai trong đám chí sĩ bị bắt.


Nhưng chẳng may, hôm ông đến cửa hiệu Tuy Phương lại có dắt theo một đứa cháu nhỏ còn đang tuổi thiếu niên cùng đến để đem mấy thang thuốc bắc về trước. Không hiểu sao bọn mật thám Pháp biết chuyện này, liền bắt đứa cháu nội rồi cho nhận diện các chí sĩ bị giam. Đứa bé nào có hiểu biết gì, lại sợ hãi vì bị đe dọa, nên đã nhận đúng được hai người có mặt trong buổi hôm đó là Võ Hoành và Lê Đại. Cuộc nhận diện xong, cả hai ông đều bị liệt vào hạng trọng phạm và bị biệt giam vào trong xà lim. Khi bị tra hỏi về các đồng chí khác thì hai ông nhất định từ chối không thèm khai điều gì. Sau một thời gian, hai ông cùng các đồng chí khác bị giải ra Hà Nội giam tại ngục Hỏa Lò.


Khi hội đồng đề hình của Pháp xử, Lê Đại, Võ Hoành, Nguyễn Quyền bị kết án khổ sai chung thân. Dương Bá Trạc bị 15 năm đi đày ra Côn Đảo.


Hoàng Tăng Bí bị 5 năm, nhưng được bố vợ là Hiệp biện Cao Xuân Dục bảo lãnh, xin cho vào ở nhà cụ ở Huế để học hành chờ thi Hội.


Phan Tuấn Phong, Phan Trọng Kiên tuy chưa bị bắt nhưng cũng bị ghi vào sổ đen, theo dõi ngày đêm.


Sau vụ xin xâu và chống thuế ở Trung Kỳ, Pháp ra sức khủng bố. Một sĩ phu có danh vọng lúc bấy giờ là Trần Quý Cáp, huấn đạo Nha Trang đã bị kết án “yêu trảm” (chém ngang lưng). Các thân sĩ nổi tiếng trong phong trào hoặc có xu hướng duy tân đều bị bắt, tra hỏi như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện, Nguyễn Thành, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Dương Thạc, Trương Bá Huy, Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân, Phạm Văn Ngôn… đều bị kết án tù và đày đi Côn Đảo.


 


V. Phố Gambetta[1] ở khu vực phố Tây, phần đông chỉ người Pháp hoặc nhà người “An Nam” là công chức cao cấp hay giàu có, sang trọng. Nhà nhà vườn, tường hoa, cổng sắt, ô tô riêng. Có nhà có hàng rào tường hoa ti-gôn đỏ như máu. Bờ hè viền xi măng hay bọc vỉa đá xanh. Dọc đường trồng cây si, cây xanh, cây sấu tỏa bóng mát. Phố Tây vắng bóng người qua lại, phần nhiều chỉ là những người đi làm bồi bếp, tài xế, các cô khâu đầm, chị hai giữ trẻ nhà Tây.


Phố Gambetta đi thẳng từ ga Hàng Cỏ đến bến Phà Đen. Quãng giữa phố có một khu đất rộng, chỗ này Pháp bắt đầu làm trường đua ngựa, sau làm khu đấu xảo.


Nhà số 25 phố này là nhà Phan Cao Lũy, làm thông ngôn tòa Thượng thẩm. Do Phan Văn Trường chưa có gia đình nên về ở với vợ chồng người em út. Cũng nhờ Phan Cao Lũy làm ở tòa Thượng thẩm nên đã khéo che chở cho anh, nên Phan Văn Trường không bị liên lụy về vụ Đông Kinh Nghĩa Thục và Hà thành đầu độc, mặc dầu ông có hai anh là Phan Tuấn Phong và Phan Trọng Kiên tham gia những vụ đó, và thường đến thăm trường Nghĩa Thục làng Đông Ngạc do ông Hoàng Tăng Bí lập. Ông Bí là người cùng làng, hậu duệ của các tiến sĩ Hoàng Nguyễn Thụ, Hoàng Tế Mỹ, Hoàng Tương Hiệp. Hồi nhỏ, Phan Văn Trường từng theo học cụ thân sinh ông Bí, nên dù ông Bí kém ông bảy tuổi, ông vẫn coi là bậc thế huynh.


Do quen biết ông Maitre, giám đốc trường Viễn Đông Bác Cổ, Phạn Văn Trường được giới thiệu đi làm phụ giảng ở Pháp. Trong hồ sơ xin đi Pháp của ông, chánh văn phòng tòa Thống sứ nhận xét như sau:


“Được giao làm các công vụ chính thức, Trường hoàn thành nhiệm vụ rất cẩn thận và khéo léo. Có trí thông minh thực sự vô song, Trường sẽ là một phán sự cực giỏi, có thể thay hẳn một viên chức người Âu. Nhưng sau những lời khen ngợi hết sức thỏa đáng như trên, tôi thấy cần phải nói thêm ngay là nếu tôi tiếp tục giữ chức trách Chánh văn phòng thì tuy có tiếc, tôi cũng sẽ đồng ý cho điều đi ngay một phụ tá có những biểu hiện cứng đầu rất rõ rệt và những hành động gần như vô kỷ luật”.


Sở dĩ có những lời nhận xét cuối cùng là vì mật thám đã báo cho ông ta biết đặc biệt từ tháng 7-1907 cho đến khi bị bắt ngày 31-3-1908, Phan Châu Trinh hoạt động sôi nổi ở Hà Nội và Bắc Kỳ, có quan hệ nhiều với các học giả Pháp ở trường Viễn Đông Bác Cổ.


Trong số những trí thức tân học có quan hệ với ông Maitre, Phan Châu Trinh đã nhận ra Phan Văn Trường là người có chí khí bất khuất, nhất là Phan Tuấn Phong cũng đã giới thiệu với ông nhiều về người em của mình, nên ông cũng coi Phan Văn Trường như em ruột.


Đầu năm 1909, ông tới Paris theo quyết định của Toàn quyền cử ông làm phụ giảng tiếng Việt ở trường Ngôn ngữ phương Đông ký ngày 8 – 11 – 1908 tại Hà Nội, có quy định mức lương 3000 phờrăng/ năm lấy vào ngân sách Đông Dương nhận việc đầu 1909. Trong bốn năm làm phụ giảng và là phụ giảng cực tốt ở trường Ngôn ngữ phương Đông, Phan Văn Trường đã học luật đến trên bậc cử nhân và đã trình một luận án tiến sĩ xuất sắc về đề tài luật bản xứ. Trong thời gian học luật ông đã xin vào quốc tịch Pháp để làm “áo giáp” cho hoạt động trong phong trào yêu nước.


Từ 8 – 5 – 1912, ông đã tốt nghiệp tiến sĩ luật (tuy chưa chính thức) được ghi vào danh sách luật sư Tòa phúc thẩm Paris và gia nhập Luật sư đoàn của Pháp.


Ông thuê dài hạn căn hộ ở tầng 2 nhà số 6 Villa des Gobelins, trong một khu thợ thuyền và sinh viên có xen lẫn người nước ngoài. Lúc đó người Việt ở Pháp chỉ mới có khoảng dưới một trăm người.


Sau khi tới Pháp, ông có người vợ ngoài giá thú là Louise Vert ở nhà số 58 đường Côte Pavé thành phố Toulouse, sinh cho ông một con trai là Robert Phan. Vì muốn giữ bí mật về vợ con nên họa hoằn ông mới về thăm viếng, thư bà gửi đến cho ông đều ghi gửi cho ông Khánh Ký. Thỉnh thoảng ông lại nhận được một bức thư rất cảm động của bà Louise Vert  nói về Robert Phan và cả về cảnh sống thiếu thốn về tình cảm nhưng ông vẫn không nản lòng lo việc cứu dân cứu nước đang đắm chìm dưới ách nô lệ.


Mỗi khi nhìn trời Paris tuyết xuống ông lại nhớ đến quê hương Đông Ngạc của ông ông nghe văng vẳng đâu đây tiếng chuốt giang làm quang gánh, tiếng quay đất lặn nồi, tiếng giã giò rao nem… Ông nhớ những kỷ niệm êm đềm thời thơ ấu, mẹ ông thường tráng bánh khoai, bánh sấy cho ông ăn. Ngạn ngữ xưa đã có câu: “Giò Chèm, nem Vẽ” và “thứ nhất bánh cuốn Thanh Trì, thứ nhì khoai phồng làng Vẽ”. Nem Vẽ đã đi vào phố phường Hà Nội, phục vụ khách buôn bán sành ăn. Còn nghề làm bánh khoai, bánh phồng, người làm phải đúng mực thước, giàu kinh nghiệm, phải biết xem thời tiết mà làm. Bánh khoai được làm từ gạo nếp và khoai sọ. Gạo nếp được ngâm trong nước bồ kết rồi thổi xôi. Xôi và khoai sọ sống được giã thành thứ bột quánh. Bột nhào nhuyễn, dát mỏng, cắt thành từng miếng bằng đồng 5 xu, đặt vào nong thưa, đem phơi nắng hanh một tuần lễ. Thắng đường kính có pha nước giềng và gừng rồi cho những miếng bột vào chảo nước sôi đun đều cho bánh nổ phồng to. Bánh chín tới xốp và trắng to bằng quả trứng ngỗng, nhưng khi cho vào mồm ăn thì nó tóp lại, giòn thơm và ngon ngọt. Bánh sấy được làm từ thịt lợn, thường là thịt thăn non. Thịt lạng mỏng pha thành từng miếng trong bằng đồng bạc hoa xòa. Tẩm thịt trong nước giềng gừng, giành có pha nước mắm ngon và trộn đường kính. Cầm dao đập miếng thịt trên mặt thớt cho đến khi thịt mỏng như bánh đa nem mới bóc lá chuối, đem gài từng miếng vào mặt trong cái cót quây xung quanh một lò than hồng trên đậy nong thưa. Đảo bánh đều tay cho đến khi bánh trong cứng, mỏng tròn. Ăn ngay lúc đó rất ngon, nếu sau mới ăn thì trước khi ăn tẩm qua gia vị hơ trên bếp than hồng ăn thơm ngon đủ mùi vị bùi, béo, cay, ngọt rất thú vị. Bánh thường bán rất chạy vào dịp tết, nhất là vào những ngày chớm lạnh. Bánh sấy được đưa tới khắp các chợ nông thôn đã trở thành một loại bánh đặc sản quen thuộc có ngôi thứ.


Phan Văn Trường nhớ nhất là Văn chỉ làng, nơi khi còn ở làng mình đi dự họp tư văn, nghe các vị khoa bảng trong làng hội tụ thẩm văn, bình thơ khai xuân, khai bút hàng năm vào những ngày đầu xuân. Văn chỉ có bức đại tự “Địa linh nhân kiệt” (Đất thiêng người giỏi) cùng nhiều câu đối. Trong đó có đôi câu đối:


“Thiên niên lai, Đường bảng, Tống khoa, tiền hậu tương thừa, nhân kiệt địa linh thành tuấn vực.


Ngũ châu nội, Á tự, Âu văn, cựu tân đồng hóa, dân lương tục mỹ đạo tiên hà”(1).


Từ xưa người làng Vẽ có câu ca:


“Kẻ Vẽ có lịch có lề,


Có sông tắm mát có nghề đâu hơn”.


Làng Vẽ có những nghề thủ công như xóm Lò Nồi chuyên làm nồi, chum vại tiểu sành, xóm Hàng Quang chuyên làm nghề song quang, bàn ghế mây. Rải rác các xóm nghề là người làm quạt lá vả, làm khăn xếp bằng lượt, làm chậu trồng cây cảnh bằng đất nung, làm gạch ngói, làm đồ sơn mài, nhuộm vải bằng củ nâu, làm vàng mã. Đầu thế kỷ 20, ở đây có thêm nghề làm mũ cứng bằng dút lợp vải, nghề làm mũ nan sau thành nghề làm mũ panama, làm mũ “đầm chếch”.


Làng Vẽ là một làng thanh lịch, người làng Vẽ hễ ra đường là quần chùng áo dài. Nam thì khăn xếp, áo the, giầy Chí Long, nữ thì khăn mỏ quạ áo tứ thân. Học trò không kể gần xa, dù chỉ dăm ba người học ngay trong nhà cũng áo dài quần chùng, đồng phục đàng hoàng. Chả thế trong dân gian đã có câu:


“Lượt mượt kẻ Vẽ. Gọn ghẽ kẻ Chèm”


Truyền thống văn hiến của làng đã thúc đẩy Phan Văn Trường đêm ngày đèn sách để mong “lập thân, dương danh, hiển phụ mẫu”.


Nghe tin Phan Châu Trinh nhờ Liên minh Nhân quyền Pháp can thiệp, được ân xá, sau đó xin sang Pháp, đã tới Paris, Phan Văn Trường vội ra ga đón ông. Biết Phan Châu Trinh chưa biết tiếng Pháp, còn bỡ ngỡ trước lề thói sinh hoạt ở xứ người, Phan Văn Trường đã hết sức giúp đỡ ông trong bước đầu lạ nước lạ cái.


Giữa lúc cánh tả trong nghị viện Pháp do Jean Jaurès cầm đầu, công kích kịch liệt chính sách thuộc địa của Pháp ở Đông Dương, Bộ trưởng Thuộc địa Messimy và Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut đều cam kết thay đổi chính sách, Sarraut còn muốn lợi dụng phái cải cách do Phan Châu Trinh đứng đầu để chống lại phái chủ trương bạo động do Phan Bội Châu và Duy Tân hội cầm đầu.


Pierre Guesde chủ sự văn phòng và trợ lý Bộ trưởng Thuộc địa được giao làm báo cáo về Phan Châu Trinh. Guesde đã liên hệ hỏi ông Jules Roux. Ông này là một sĩ quan tòa án binh đã ở Đông Dương bốn năm (1 – 1906 đến 12 – 1909) có tiếng trung thực liêm khiết, có cảm tình với đất nước và dân tộc Việt Nam, học khá tiếng Việt, tuy đã tích cực tham gia cuộc vận động ân xá Phan Châu Trinh nhưng chưa hề trực tiếp quen biết ông Phan. Roux đã hồ hởi đáp ứng bằng bức thư đề ngày 20 – 3 – 1911 gửi Guesde trong có đoạn viết:


“Tôi vô cùng sung sướng viết gấp báo cáo này cho ông ngay sáng nay, khi ông có lòng tin cậy yêu cầu tôi viết về vụ Phan Châu Trinh.


Mở đầu vụ này là:


1) Những buổi diễn thuyết mang tính chất được coi là chống Pháp mà Phan Châu Trinh đã làm ở Hà Nội và trong các địa phương ở Bắc kỳ năm 1907.


2) Và nhất là trong bức thư tuyệt diệu, với một dũng khí khác thường mà nhà yêu nước đáng cho tất cả các thế hệ sau học tập này đã có can đảm viết gửi Thống sứ Bắc kỳ năm 1907.


Không ai khỏi xúc động khi đọc ông ta lên án cung cách của một số quan lớn với đồng bào ông và đề xuất với nhà cầm quyền Pháp những lời khuyên thẳng thắn sáng suốt với tầm nhìn xa.


Tiến triển của vụ việc:


Các quan lớn và triều đình Huế đã thù ông chủ yếu về bức thư trên. Họ đã cố sức gắn các vụ rối loạn ở Trung kỳ và Bắc kỳ vào cái gọi là các âm mưu của Phan Châu Trinh mà các lời lẽ đã ít nhiều bị bóp méo cũng như ý nghĩa của các buổi diễn thuyết có lẽ do chung quanh Phan Châu Trinh (mà tôi tin và tôi biết ông ta là một người chân thành ủng hộ Pháp và chỉ mong Pháp thay đổi phương pháp cai trị mà thôi) có những kẻ chống Pháp nấp bóng ông ta và chủ tâm lợi dụng tình hình rối ren để hoạt động quấy rối.


Phan Châu Trinh có uy tín lớn ở Bắc kỳ dù chỉ nói đến điều tôi biết rõ mà thôi. Và khi còn ở bên đó, tôi biết tên tuổi ông ta đã có vầng hào quang của một nạn nhân khi triều đình Huế kết án tử hình và sau đó được cải án đày chung thân…


Kết luận:


Theo tôi thi kết luận sự việc trên là chính phủ Pháp phải đền bù một cách vang dội cho một con người có giá trị như Phan Châu Trinh sau khi làm sáng tỏ một cách không thể chối cãi cái điều khuất tất trong vụ này. Nếu sau cuộc điều tra rất tế nhị được tiến hành do một người đáng tín nhiệm, thạo tiếng, rất dễ tìm ra trong giới quân sự hoặc dân sự ở Bắc kỳ hay Trung kỳ. Phan Châu Trinh được xác nhận là tốt thì nước Pháp sẽ có lợi rất lớn khi dùng nhà yêu nước lớn mà tôi thấy ở người tù nhân đã qua lưu đầy ở Côn Đảo này làm một kẻ tích cực hoạt động cho ảnh hưởng của Pháp ở Đông Dương”.


Ông Roux đã cùng đi trong chuyến thăm Đông Dương của Viện sĩ Hàn lâm De Brieux cuối năm 1909 để giúp việc phiên dịch và hướng dẫn qua chuyến đi này ông đã khẩn thiết yêu cầu ông De Brieux can thiệp để ân xá Phan Châu Trinh.


Một loạt thư và tư liệu giới thiệu của ông Roux, Guesde đã sử dụng để báo cáo lên lãnh đạo ngày 24 – 4 – 1911 với nội quy rất thuận lợi cho Phan Châu Trinh.


Qua lời lẽ trong các thư viết cho Guesde ta thấy Roux có quen biết với Geusde từ trước, còn Sarraut đã từng làm Thứ trưởng Bộ quốc phòng (1909 – 1910) chắc cũng có biết Roux. Vì vậy Roux đã được nhất trí chỉ định làm người tiếp cận với ông Phan để làm trung gian và phiên dịch giữa Messimy – Sarraut và Phan Châu Trinh.


Phan Châu Trinh và con là Phan Châu Dật được đi Pháp trong khuôn khổ học bổng theo “Nhóm giáo dục Đông Dương”, nhóm này do chính Toàn quyền Beau đề xuất năm 1907 khi ông báo cáo có một phong trào lôi cuốn một cách không cưỡng được các dân tộc Viễn Đông đi theo nền học vấn phương Tây. Chính phủ cần nắm lấy phong trào này ở Đông Dương và hướng nó vào những con đường có lợi nhất cho hành động của Pháp. Thế là một thế hệ thống trường hiện đại đã được lập ra ở Đông Dương và trong cuộc cải cách học đường năm 1906 ở Trung kỳ có cả chủ trương hiện đại hóa các trường dạy chữ Nho. Đồng thời để chống lại chủ trương Đông du của Phan Bội Châu, Phủ Toàn quyền đã tổ chức nhóm giáo dục Đông Dương tại Pháp, một nửa “Tây du sang mẫu quốc”. Năm 1911 nhóm này do Jean Fourès làm khâm sứ, phụ trách.


Ngày 01–4–1911, Phan Châu Trinh và con là Phan Châu Dật đáp chuyến tàu thường kỳ rời Sài Gòn. Cùng đi có Trần Văn Đẩu thư ký phủ Toàn quyền làm thông ngôn.


Đoàn đến Marseille sáng 27 – 4 đã được đón về Paris theo tàu tốc hành. Được bố trí ở tạm khách sạn đường Gaylussac từ 27 - 4  đến 2 – 5. Sau đó chuyển đến ký túc xá Guyau của sinh viên, số 32 đường Vouillé quận 15 do bà Challemet quản lý.


Ngày 23–5–1911 chưa đầy một tháng sau khi đến Paris, Phan Châu Trinh đã được Bộ trưởng Thuộc địa Messimy và toàn quyền Albert Sarraut cùng tiếp, ông Roux phiên dịch. Thực ra vai trò chính lúc này đã là Sarraut vì Messimy sắp chuyển sang Bộ Quốc phòng và Sarraut đã nắm công việc ở Đông Dương. Đây là lần đầu tiên Jules Roux gặp Phan Châu Trinh và đã được giới thiệu sẽ giúp Bộ Thuộc địa trong quan hệ với ông Phan. Trong cuộc gặp này, Phan Châu Trinh đã đặt thẳng vấn đề xin ở lại 1, 2 năm để học hỏi.


Ngày 26 – 5 – 1911, Roux đã viết bức thư đầu tiên gọi Phan là “quan lớn” và mời ông đến nhà ở số 7 phố Odessa gần ga Montparnasse, bắt đầu các buổi tường trình để Roux dịch. Từ 31 – 5 đến 5 – 6 – 1911, Roux đã liên tục có những buổi gặp gỡ. Phan nói tiếng Việt cho Roux ghi chép nội dung và sau do Roux dịch ra tiếng Pháp, trình lại cho Sarraut. Dưới đây là nội dung một số bản tường trình:


YÊU CẦU XÉT LẠI CÁC BẢN ÁN XỬ CÁC NHO SĨ TRUNG KỲ


Trước đây ở Trung kỳ, nhiều vụ án đã bị xử rất bất công nhưng không đến nỗi quá bất công như các vụ án đã xử vào lúc xảy ra vụ dân chúng xin giảm xâu. Vì vậy, tôi trân trọng xin ngài Bộ trưởng mở lòng thương đối với người dân An Nam và lệnh đưa hồ sơ các vụ án dân Trung kỳ nổi loạn vào năm 1908 về để xem xét lại. Ngài sẽ có thể hiểu thấu sự cai trị ở xứ An Nam như thế nào.


VỀ BÁO CHÍ VÀ DIỄN THUYẾT


Hiện nay ngài Bộ trưởng sẵn lòng muốn cho người An Nam tiến bộ, tôi xin ngài cho phép ra các tờ báo làm kim chỉ nam hướng dẫn cho dân chúng lớp dưới. Bằng cách ấy, các tầng lớp thượng lưu cũng được mở rộng tầm nghe, thấy, điều đó sẽ có thể giúp các quan chức cai trị xứ này dễ dàng hơn.


Nếu được như vậy những tờ báo này sẽ ấn định phương hướng cho sự giáo dục học đường và có thể sửa chữa phong tục, tập quán của người An Nam.


Trẻ em sẽ có nhà trường để học, người có học sẽ có sách báo để đọc; còn đám người dốt nát thì hiện chưa có cách gì (trong lúc này) để mở mang trí tuệ cho họ. Cho đến nay, đám người này thường hay gây lộn xộn và luôn luôn bị lừa gạt, cho nên, tôi xin cho lập các trụ sở diễn thuyết để dạy cho họ con đường ngay thẳng và cách thức trực tiếp cư xử cũng như sự hiểu biết điều hay, dở. Làm như thế cũng là tạo sự thuận lợi cho việc cai trị xứ sở.


(còn tiếp)


Nguồn: Luật sư đỏ. Tiểu thuyết ca Hoài Anh. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 







[1] Nay là đường Trần Hưng Đạo.




(1)  Có đến ngàn năm, bảng Đường, khoa Tống, trước sau theo nếp, người giỏi đất thiêng, làng nổi tiếng.


     Khắp trong năm cõi, chữ Á, văn Âu cũ mới hiểu thông, dân hiền tục đẹp đạo khơi nguồn.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
xem thêm »