tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20525966
Tiểu thuyết
29.12.2010
Hoài Anh
Luật sư đỏ

 


IV. Phố Hàng Buồm là một phố cũ của Hà Nội, thời Pháp thuộc tập trung các thương gia Hoa kiều, có thương thuyền giương buồm chạy, chợ hàng buôn bán dọc sông Hồng. Những gia đình người Hoa này ở sát vách nhau, hai bên nhà đều treo các câu đối to dùng chữ Hán bằng gỗ sơn son thếp vàng rất đẹp. Phố có hai cửa hàng ăn “cao lâu” là Nhật Tân và Đông Hưng. Hiệu Nhật Tân kinh doanh các món ăn bình dân như síu mại (thiêu mai), síu dề (thiêu da), bánh sáng, cháo đêm, còn Đông Hưng là nơi hội tụ các nhà giàu phục vụ các món ăn đặc sản cao cấp như yến sào, bào ngư, long tu, hải quyển, gà nấu sữa, kim tiền kê… Lại có hiệu Tấn Phúc Điền, bán lạp sưởng đặc biệt kèm với dưa góp, các dịp tết Nguyên đán thứ thực phẩm này được khách hàng ưa chuộng, nhà nào cũng mua vài đôi hấp rán, ăn với xôi hãy còn nóng. Còn hai bên hè phố nhan nhản các sạp quả lê, táo, nho, xoài, mùa nào thức ấy. Hội quán người Quảng Đông cũng đặt ở đây. Lang Seo mở một hiệu thuốc nam ở nhà số 51 phố này, để làm nơi tụ họp đồng chí.


Một hôm Phan Trọng Kiên được Lang Seo mời đến nhà bàn việc. Lang Seo nói:


- Tôi đã đem ý của anh trình với quan Đề. Quan Đề rất hoan nghênh nhiệt tình của anh muốn đóng góp vào đại sự. Nay có việc phải nhờ đến anh đây.


Phan Trọng Kiên sốt sắng:


- Việc gì vậy?


- Nhờ anh soạn cho một bài ca vận động anh em lính tập quay súng bắn vào đầu giặc Pháp.


- Tưởng gì chứ cái đó thì không lo. Cùng lắm thì ta dùng đoạn thơ trong Hải ngoại huyết thư của ông Sào Nam cũng được.


- Anh thử đọc cho tôi nghe xem nào.


Phan Trọng Kiên cất giọng đọc:


Kìa những kẻ lưng đeo súng đạn


Dưới cường quyền theo bọn Pháp binh


Mũ vàng lẫn với khố xanh


Ấy là rặt lũ tập binh nước mình


Một nam tử tranh vanh trong nước


Vì thần tiền phải bước chân ra


Có đâu ta lại giết ta


Cũng là một gốc mọc ra nỡ nào!


Tưởng những lúc đương đầu giáp hạn


Bụng không đành mà vẫn không đang


Há vì mấy tháng đồng lương


Mà quên làng nước họ hàng hay sao?...


Cùng nhau mấy vạn đồng bào


Quyết đem tính mạng mà liều một phen


Cho người dưới hoàng tuyền mừng bụng


Chớ để quân bạch chủng cười mình


Tôi xin các bạn tân binh


Cùng nhau một bụng như anh em nhà…


Lang Seo reo lên:


- Hay lắm rồi!


Qua Lang Seo, Phan Trọng Kiên được biết Đề Thám tuy ngoài mặt giảng hòa với Pháp nhưng bên trong đang tích cực chuẩn bị lực lượng và thời cơ cho những cuộc đấu tranh mới. Một tổ chức bí mật lấy tên là Nghĩa Hưng do mấy thủ hạ của Đề Thám như Chánh Tỉnh tức Chánh Song, Nguyễn Viết Hanh tức Đội Hổ([1]), Lý Nho([2]) cầm đầu được thành lập và hoạt động ở Hà Nội.


Ở 20 phố Cửa Nam thành Hà Nội có một cửa hàng vừa bán cơm vừa cho trọ được nhiều khách ra vào tấp nập hàng ngày, đó là hàng cơm của ông Nhiêu Sáu tức Đỗ Văn Sáu, người làng Tương Mai, và vợ là bà Nguyễn Thị Ba. Trong đó phần đông là binh lính và bồi bếp. Ngoài ra còn một số khách giang hồ từ các nơi lại. Mấy thầy coi tướng, xem bói, đoán số tử vi cố nhiên không vắng mặt ở đây. Trong số thầy bói có ông Lang Seo là người của Đề Thám giả trang trà trộn vào. Trong cuộc đi lại, ra vào chuyện trò hàng ngày không bao lâu một số người đã trở nên quen biết nhau, đi dần đến thân mật và tỏ bày tâm sự với nhau. Mấy người trong có công binh pháo thủ của quân đội Pháp như Nguyễn Chí Bình tức Đội Bình, Dương Bê tức Nguyễn Văn Cốc tức Đội Cốc[3], Đặng Đình Nhân tức Đội Nhân[4], Nguyễn Đức A, tức Cai Ngá… đã trở nên đối tượng tuyên truyền của ông Lang Seo và các nhà nho, thầy dạy tiếng Pháp được các binh lính Việt tín nhiệm như ông Đỗ Văn Đàm[5], ông Quang, ông Đông Châu, Phan Trọng Kiên… Nội dung tuyên truyền gợi lên tinh thần thù giặc cứu nước, còn trộn lộn cả những thuyết thời vận và sự nghiệp cá nhân. Do những việc đối xử hàng ngày của bọn sĩ quan Pháp và sự chênh lệch giữa lính Pháp và lính Nam, các anh em binh lính đã chứa đầy những uất hận chồng chất, nên rất dễ thấm những lời tuyên truyền kia, rồi từ chỗ lòng yêu nước thù giặc được khêu gợi tiến nhanh đến chỗ kiên quyết khởi nghĩa.


Họ đã họp nhiều lần ở nhà Lang Seo bàn kế hoạch bạo động đánh chiếm Hà Nội mà lực lượng chính là dựa vào anh em binh lính người Việt trong quân đội Pháp. Nhật kỳ bạo động định vào trung tuần tháng 11 năm 1907, nhưng sau lại phải hoãn lại vì manh mối sơ hở, địch đã chú ý đề phòng. Tháng 5 năm 1908 họ lại dự định một kế hoạch bạo động khác, nhưng kết cục cũng lại phải hoãn vì chưa chuẩn bị kịp. Hoãn đi hoãn lại hai ba lần làm cho địch càng thêm chú ý đề phòng nên cần hoạt động gấp. Mà từ Yên Thế, Đề Thám cũng ra lệnh cần hoạt động gấp, nếu hoãn mà địch có thể dò ra manh mối khủng bố cơ sở hoặc đổi nhận mới đi nơi khác thì càng thêm khó. Vì vậy kế hoạch lần này ấn định nhật kỳ bạo động là ngày 27-6-1908.


Theo kế hoạch thì anh em binh lính trong cơ pháo thủ số 9 do một tập đoàn âm mưu khởi nghĩa lãnh đạo sẽ nhân một dịp nào đó có tiệc chiêu đãi các sĩ quan và binh lính Pháp, bỏ thuốc độc vào đồ ăn của chúng. Sau khi chúng trúng độc mê say rồi cuộc khởi nghĩa sẽ bùng nổ. Anh em binh lính sẽ thừa cơ chiếm lấy những cơ quan quân sự và khí giới của giặc. Trong khi đó sau ba phát súng đại bác làm hiệu, nghĩa quân phục sẵn ở ngoài cửa ô hay dưới thuyền ven sông ồ vào đánh thành Hà Nội chiếm lĩnh các công sở (máy đèn, máy nước, nhà băng, kho bạc…) hưởng ứng với binh sĩ từ trong đánh ra.


Điều đáng chú ý là ngoài một số anh em binh lính khố đỏ tham gia vụ đầu độc (bao gồm cả cai đội, còn một số đông là anh em bồi bếp, lính thợ chưa phải là quân nhân hoàn toàn như Hai Hiên[6], bếp Nhiếp, bếp Xuân, một số công nhân ở ngoài phố như Ba Đen, trừ Nguyễn Đình Chính, cai gác đèn ở vườn Bách thảo, Nguyễn Văn Ba làm bồi cho một Pháp kiều ở phố Sinh Từ, Trương Phổ chạy giấy ở phố Hàng Than, Nguyễn Văn Vinh cai thợ nề phố hàng Lọng, ông Phó tức Nguyễn Đăng Duyên làm vườn ở dinh Toàn quyền, Nguyễn Trương Cầu công nhân máy đèn. Lại có các phần tử trí thức như cụ Lê Đạt phố hàng Mắm, Trịnh Văn Học dạy học ở Hoàn Long ngoại thành Hà Nội, Trần Đức Quang học trò ở phố hàng Đậu, Đồ Đàm một nhà nho, một số yếu nhân Đông Kinh Nghĩa Thục như Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng Bí, Võ Hoành.


Việc hoãn đi hoãn lại nhật kỳ bạo động, sự gặp gỡ hẹn hò ở hàng cơm phố Cửa Nam cũng như các cuộc họp tại nhà Lang Seo 51 phố Hàng Buồm nhất là việc tổ chức thiếu chặt chẽ đã khiến địch chú ý đề phòng. Tổng chỉ huy quân đội Đông Dương Pien ngay từ mấy hôm trước đã nhận được một bức thư nặc danh báo rõ Đội Nhân, Đội Cốc, Đội Bình thuộc đại đội công binh pháo thủ số 6 sẽ cầm đầu vụ nổi loạn. Ngay buổi sáng ngày 27-6 trung úy Delmont Belet, chỉ huy đại đội cơ binh pháo thủ số 6, lại được cai Trương đã từng được họp bàn về kế hoạch bạo động tố cáo mọi chi tiết và những người cầm đầu. Tuy vậy, Trương cũng bị tống giam ngay trong khi chờ xác minh tài liệu. Ba người bạn của Trương sợ liên lụy liền đi báo với cố đạo Tây Dronet (tức cố Ân) ở Hà Nội. Thế là kế hoạch bạo động địch đã biết trước. Cùng với tin tức do sở mật thám luôn được chúng đã đoán ra kế hoạch đánh úp Hà Nội đêm 27-6 nên bố trí canh phòng cẩn mật, nhất là kho thuốc súng cạnh vườn Bách thảo và chung quanh phủ Toàn quyền, phủ Thống sứ và Sở phúc thư.


Mặc dù thế, chủ trương đầu độc vẫn được anh em binh lính giữ bí mật và đến phút cuối cùng vẫn được thực hiện ngoài sự ước đoán của địch.


Trưa ngày 27-6, trong khi địch bố trí tăng cường canh gác ác nơi xung yếu, thì bên ngoài các chiến sĩ ta cũng ráo riết chuẩn bị. Bên ngoài, Chánh Song, Đội Hổ và đồng đội đã tập hợp lực lượng võ trang chờ đến tối khi nghe súng đại bác nổ báo hiệu sẽ tiến vào Hà Nội bằng 3 ngả: một từ Lò Lợn qua phố Lò Đúc đánh vào đồn Thủy, một từ bờ sông tiến qua Sở thuốc lá đánh vào Cửa Bắc; một từ phía Sơn Tây qua Ô Cầu Giấy tiến qua phố Sinh Từ đánh vào Cửa Nam; ngoài ra còn có một toán nữa do Đội Hổ và Đồ Đảm chỉ huy bố trí quanh dinh Toàn quyền (chỗ đường Ngọc Hà bây giờ) đánh vào trại lính khố đỏ bằng cửa phía tây (đường Hoàng Diệu bây giờ) chiếm lấy đại bác đưa đến cầu Sông Cái và Cầu Giấy để chặn viện binh của địch từ Sơn Tây, Bắc Ninh hay Hải Phòng kéo về.


Cùng lúc đó, một toán võ trang của Đề Thám sẽ đánh úp Gia Lâm, phá nhà ga đường xe lửa và cắt dây điện thoại. Dân chúng các làng quanh Hồ Tây cũng ráo riết chuẩn bị hưởng ứng nghĩa quân.


Bên trong trại lính, sự chuẩn bị cũng được tiến hành chu đáo và bí mật. Một đội khố đỏ và một lính tối hôm đó sẽ ra đường phía Sơn Tây cắt dây điện thoại để không cho địch liên lạc với quân đóng ở Sơn Tây. Mấy anh em trong đơn vị pháo binh chuẩn bị cất giấu kim hỏa để làm tê liệt các khẩu đại bác. Anh em chuẩn bị cả truyền đơn kêu gọi binh lính: đó là những mảnh giấy nhỏ hình chữ nhật ở góc có mảnh lụa vàng làm dấu trên giấy có ghi: “Nhận được giấy này, hãy hạ súng đầu hàng!”.


Quan trọng nhất là việc chuẩn bị thuốc độc và làm cách nào bỏ được vào món ăn. Thuốc độc làm bằng cà độc dược đã được chế biến từ mấy hôm trước, do Nguyễn Đăng Duyên làm vườn ở dinh Toàn quyền phổ biến kinh nghiệm và đã thử ở nhà Ba Đen tức Nguyễn Đình Chính.


Việc đầu độc đã được thực hiện khéo léo. Từ bước đầu người phụ trách việc này([7]) đã đi khắp ba bếp của đơn vị pháo binh quan sát tình hình. Vào khoảng 5 giờ chềiu, người này đem thùng đến các bếp của đơn vị pháo binh xin một ít nước dùng, lấy cớ rằng bếp mình đang thiếu và hẹn một lát sau sẽ trả. Đến bếp của trung đoàn thuộc địa số 9 cùng một kế hoạch tương tự. Công việc rất đơn giản, được tiến hành rất tự nhiên và hết sức bình tĩnh khiến mọi người chung quanh không chú ý gì cả. Khôn khéo hơn nữa là thuốc độc không bỏ quá sớm là lúc bắt đầu giờ gác đêm, vì nếu làm sớm thì chỉ hơn một chục lính phải đi gác đêm ăn trước bị trúng độc, mà lại bỏ vào lúc gần 7 giờ là giờ ăn súp buổi tối của tất cả các đơn vị lính Âu.


Một lúc sau, thùng nước dùng này đã được trả lại cho các bếp. Thuốc độc tan trong nước phân phối khắp các bếp của đơn vị pháo binh và bếp của hai đại đội thứ 1 và thứ 2 của trung đoàn thuộc địa số 9.


Sáng sớm ngày 27-6, Lang Seo bảo Nguyễn Ngọc Công, người từng giả trang thầy tướng đến cửa hàng 20 phố Cửa Nam:


- Chú cùng một liên lạc viên tìm ngựa tốt phóng gấp lên Yên Thế báo cáo với quan Đề nói mọi việc bố trí đều hoàn tất.


Chiều, Nguyễn Ngọc Công và liên lạc viên trở về với một lá cờ lệnh lụa đỏ, mấy cây cờ lệnh nhỏ và một số chứng thư văn bằng và chấp chiếu thông hành.


Đúng giờ hẹn, Phan Trọng Kiên, Trần Văn Tuân tức Xã Tuân, Đồ Văn Đàm tức Đồ Đàm đến nhận lệnh.


Lang Seo nói với ông Xã Tuân:


- Đêm nay ông chỉ huy dân quân miền ngoại ô chiến Sở Ngân khố và nhà Đông Dương Ngân hàng.


Ông Xã Tuân nhận một lá cờ lệnh nhỏ.


Lang Seo lại nói với ông Đồ Đàm:


- Ông báo cho những thợ người Việt làm cho quân đội, đêm nay tập hợp gần Phủ Toàn quyền và đi phía Sở Pháo thủ để lĩnh súng trường sau khi ta chiếm xong kho súng.


Ông Đồ Đàm nhận một lá cờ lệnh nhỏ.


Lang Seo lại đưa cho Phan Trọng Kiên một số băng tay hiệu.


- Ông túc trực ở đường Quan Thánh phát những băng tay hiệu này cho đảng viên, màu tím cho cấp chỉ huy, màu vàng cho những người không cấp bậc. Trên băng có hai chữ “Sát Thát” có dấu son đỏ và hàng chữ “Tận trung báo quốc”.


Tôi phải đi gặp ông Hai Hiên vì có thư của quan Đề gửi cho ông ấy.


Nói rồi Lang Seo vội vã đi.


Đêm hôm đó, Phan Trọng Kiên tới đường Quang Thánh phát băng tay hiệu cho đảng viên.


8 giờ tối, trong quân đội Pháp có tiệc chiêu đãi các sĩ quan và binh lính. Những người phụ trách nấu ăn, dọn tiệc có chân trong tổ chức khởi nghĩa tiến hành theo kế hoạch đã định. Ngay lúc đầu đã có 125 lính Pháp thuộc cơ pháo thủ số 4 và 80 tên nữa thuộc cơ binh thuộc địa số 9 bị trúng độc. Nhưng thuốc độc làm bằng cà độc dược nên hiệu quả kém, chỉ làm bọn lính ngất đi bất tỉnh chứ không chết.


Tin đầu độc tung ra, bộ chỉ huy đã kịp đề phòng từ trước. Cùng lúc ấy tại xung quanh Hà Nội đã có những cuộc tụ họp đáng ngờ. Bọn chúng một mặt cứu kịp những sĩ quan và quân lính Pháp bị trúng độc, một mặt tước khí giới và giữ binh lính người Nam trong trại để tra hỏi và khám xét. Đồng thời chúng ra lệnh giới nghiêm phái quân đi tuần tiễu các cửa ô, vây từng khu phố, bắt những người tình nghi, lại tập hợp binh lính canh gác khắp nơi…


Kết quả cuối cùng là súng hiệu không nổ, kho súng không chiếm được nên nghĩa quân không đủ vũ khí, chờ mãi ở các địa điểm ven Hà Nội rồi rút lui và phân tán.


Đến 11 giờ, lính Pháp bắt được một người có băng hiệu tay, bị tra tấn người này nhận có cuộc khởi nghĩa dự định do các ông Đồ Đàm, Hai Hiến, Đội Bình, Đội Cốc, Đội Nhân… tổ chức.


Pháp điều tra được biết Đội Bình, Đội Cốc, Đội Nhân cầm đầu phong trào trong các trại lính, nên các ông không cho lính thuộc quyền ra ngoài trại, các ông ra lệnh phải túc trực đặng sẵn sàng trợ lực cho đại binh hơn 1.000 người của cụ Đề Thám đến tấn công. Ngay đêm 27-6, các ông bị Pháp bắt giam.


Quân Pháp vừa truy sát nghĩa quân vừa nhanh chóng ập đến số 20 phố Cửa Nam để bắt cô hàng cơm đã tham gia nổi dậy. Bà Nhiên Sáu bị bắt, nhưng chồng kịp thoát về Hải Phòng.


Pháp truy bắt được được bà Nhiên Sáu nhưng không lấy được lời khai gì để đánh phá nghĩa quân. Mật thám Pháp đóng đinh nhọn vào thùng gỗ, rồi nhét bà vào đó và lăn từ phố Cửa Nam vào đó và lăn từ phố Cửa Nam về ngục Hỏa Lò. Cuối cùng bà đã chết vì bị tra tấn và bệnh tật trong ngục. Một người cùng quê bán quán gần nhà giam đã phải mua chuộc cai ngục cho trả xác đưa thi hài bà về quê. Ngay trong đêm, con cháu bà và hàng xóm đã âm thầm nuốt nước mắt tiếc thương tiễn đưa người phụ nữ dũng cảm yên nghỉ trong một nấm mồ đất không dám khắc bia chí ở cánh đồng làng Trương Mai.


Vụ đánh úp Hà Nội đêm 27-6 không thành, nhưng việc đầu độc đã làm sôi nổi dư luận, nhất là bọn binh lính sĩ quan Pháp và các giới cai trị ở Đông Dương. Sau đó mấy hôm liền, bọn sĩ quan và lính Pháp không dám ăn cơm ở trại. Chúng bắt bọn cai đội phải thường xuyên kiểm soát nghiêm ngặt các chỗ nấu ăn, trước khi đem thức ăn lên chúng bắt bọn này cùng với nhà bếp phải nếm trước. Có một số lại đòi đuổi hết bồi bếp Việt Nam ra khỏi quân ngũ.


Trong một cuộc họp do nhà cầm quyền triệu tập ở khách sạn Hà Nội để giải thích tình hình cho Pháp kiều yên lòng, một bọn 250 tên đã xông tới dinh Toàn quyền chất vấn và đòi có biện pháp trừng trị thích đáng bọn phiến loạn. Bọn chúng đòi được phát vũ khí để tự vệ. Báo chí thi nhau công kích Bộ chỉ huy và Sở Mật thám, mặc dầu đã dò ra âm mưu bạo động từ trước mà vẫn để xảy ra đầu độc. Buổi chiều, một đơn vị lính khố đỏ qua phố một bọn Pháp kiều đã tỏ thái độ hằn học chửi bới và hành hung một người lính. Nhiều tin dồn dập đưa tới như tin Hội Tây (14-7-1908) binh lính người Việt sẽ nổi dậy cướp thành Hà Nội, đã làm cho bè lũ thực dân cuống quýt lo sợ.


Tin đưa vào đến Sài Gòn, nhân dân càng xao xuyến. Định chuẩn bị tăng viện cho Hà Nội, nhiều đơn vị trọng pháo 75 ly được lệnh sẵn sàng xuống tàu.


Để trấn tĩnh nhân tâm, ngày 28-6-1908 Hội đồng đề hình được thành lập cấp tốc với quyền hạn rộng rãi, thủ tục xét xử nhanh chóng để xử vụ đầu độc. Mặc dầu cuộc tra xét còn đang tiếp tục, ngày 6-7-1908.


Hội đồng Đề hình Bắc Kỳ do viên công sứ Hà Đông Jules Bose ngồi ghế chủ tọa đã đòi Đội Nhân, Đội Bình, Đội Cốc ra tra hỏi. Khi quan tòa khuyên họ chịu hỗi lỗi, chị khai để được tha chết, Đội Bình đã mắng lại quân Pháp là kẻ cướp nước. Đội Nhân khi nghe mình bị kết tội là “phản loạn” đã khảng khái trả lời: “Ta không làm loạn mà chỉ trung với nước!”.


Chủ tọa phiên tòa đã tuyên bố tước quân tịch và tuyên án xử tử hình Đặng Đình Nhân, Nguyễn Chí Bình và Dương Bê (tức Đội Cốc). Hôm sau, đơn chống án của ba ông bị Hội đồng bảo hộ bác. Và án tử hình thực hiện theo luật An Nam là chém bêu đầu thực hiện ngay trong sáng ngày 8-7-1908. Pháp trường được dựng vội vã trong đêm ở bãi Gáo, cột cờ Hà Nội[8]. Viên quan Pháp Duvillier giám sát thi hành án, còn đao phủ là một người Việt.


Buổi sáng đó rất đông người đến tiễn đưa các anh hùng. Trong đó có cả vợ ông Đặng Đình Nhân đang mang thai con gái, phải bôi mặt hóa trang thành phụ nữ khóc thuê để tránh mật thám Pháp theo dõi.


Đội thi hành án đã chuẩn bị sẵn xe kéo để đưa những người anh hùng ra pháp trường, vì nghĩ rằng họ có thể không đi được do mất tinh thần. Tuy nhiên, cả ba người đều hiên ngang, cổ đeo gông, tự bước ra pháp trường. Độc Cốc gọi đồng bào dặn: “Bao giờ nước nhà độc lập thì bà con nhớ đến chúng tôi đấy!”.


Ở pháp trường đã chôn sẵn ba cái cọc. Lính cột mỗi người vào một cọc. Tội nhân quỳ xuống đất, hai tay kéo ra sau lưng cột choàng vào cọc, một miếng vải bịt hai mắt. Tên và bản án được tuyên bố xong ba hồi chuông nổi lên. Kế đến là đao phủ làm việc. Có người đao phủ phải chém đôi ba nhát đầu mới lìa khỏi cổ. Tia máu phun đứng lên!


Chém xong ba người, quân Pháp đưa thủ cấp họ về nguyên quán để bêu thị uy. Đầu Đội Nhân bị bỏ rọ tre, treo ở cành đa cổ thụ, ngã tư Trung Hiền, cửa ngõ đông người qua lại ở làng Bạch Mai, nhưng trong đêm dân làng và thân tộc đã cướp lại được đầu ông và mang đi chôn.


Sau đó chúng bắt tới 80 người, xử chém 10 người nữa, trong số này có Cai Nga, Hai Hiên, Lang Seo, Cai Tôn, Đội Hổ, Đồ Đàm…, kết án tử hình vắng mặt 6 người (trong số này có Ngọc, Thiện và Bảy làm bếp ở đơn vị phúc binh đã trốn lên Phần Xương), 4 người chung thân. Vợ Hai Hiên mặc dầu không tham gia vụ đầu độc, chỉ có cùng đi trốn với chồng sang Bắc Ninh cũng bị bắt và chịu tra tấn đến chết trong ngục Hòa Lò. Vợ Đội Nhân lánh về quê mẹ, buồn rầu, chẳng bao lâu cũng chết.


Ít lâu sau trong dân gian xuất hiện bài vè “Hà thành đầu độc”, đoạn kết như sau:


Thương thay thất bại anh hùng


Tấm lòng đối với non sông thẹn gì


Gan vàng dạ đá tri tri!


Ông Bình đến chết coi thì như không


Vừa cười vừa nói ung dung


Bên đường trông thấy ai không sụt sùi


Ông Nga vừa bắt đến nơi


Pháp quấn dò hỏi mấy lời thủy chung


Rằng: - Anh là kẻ có công


Vả ơn nhà nước cũng không bạc gì


Cớ sao mưu phản làm chi?


Những ai đồng đảng nói thì tha ngay!


Nghe lời nghiến lợi cau mày


Mắng rằng: Pháp tặc nói hay làm gì


Một năm hương thuế toàn kỳ


Mấy nghìn vạn ức mày thì nhớ không?


Tao ăn một tháng mười đồng


Cũng là da thịt của trong toàn kỳ


Cơm thừa canh cặn ra chi


Hãy còn khéo nói, kể gì làm ân


Lựa Nam nhân giết Nam nhân


Làm cho hết giống hết dân nhà mày!


Pháp lan tây! Pháp lan tây


Chí tao chỉ muốn thịt mày mới cam


Chẳng thà làm quỷ nước Nam


Còn hơn nô lệ làm quan nước mày!


Bài vè được truyền tụng rộng rãi. Khi có người hỏi Phan Trọng Kiên: “Có phải bác làm bài vè hay không?”. Phan Trọng Kiên chỉ cười không nói gì.


Hai anh em họ Phan ngồi bên khay trà liên tâm trò chuyện. Phan Tuấn Phong vừa quấn điếu thuốc sâu kèn, vừa nói:


- Giờ tôi mới thấy ý kiến của chú Ba là có lý: Chú ấy bảo chủ trương bạo động của ông Đề là khó thành công…


Phan Trọng Kiên ngắt lời:


-          Tôi thì tôi lại nghĩ khác. Cuộc nổi dậy vừa rồi tuy không thành công cũng thành nhân. Thánh hiền có dạy, người quân tử phải sát thân để thành nhân. Việc ta làm không xong thì con chúng ta làm, con chúng ta làm không xong thì cháu chúng ta làm. Phải làm cho kẻ thù biết rằng dân Nam quyết lấy máu nóng rửa vết nhơ nô lệ. Tôi đã chả nói từ trước các anh mở trường để khai thông dân trí, nhưng quyền hành ở trong tay chúng nó, chúng nó muốn đóng cửa trường lúc nào chẳng được, giờ chẳng đúng là gì!


(còn tiếp)


Nguồn: Luật sư đỏ. Tiểu thuyết ca Hoài Anh. NXB Văn học sắp xuất bản.


-          www.trieuxuan.info








([1]) Đội hổ: trước là đội khố đỏ, về sau có làm cai đồn điền cho tên đắc tờ Gillard sau bỏ trốn về Phồn Xương.




([2]) Lý nho: là cựu lý trưởng một làng ngoại thành Hà Nội.




([3]) Đội Cốc quê Thạch Thất, Sơn Tây (nay là Hà Nội).




[4] Đội Nhân, Đội Bình, Cai Nga quê Bạch Mai: Nhờ nguồn thu nhập khá từ nghề thuốc của cha mẹ nên anh em ông Nhân từ nhỏ được sang Pháp du học. Sau đó ông Nhân gia nhập quân đội Pháp, làm đến chức đội trong cơ pháo thủ.




[5] Đỗ Văn Đàm tức Đỗ Đàm quê ở làng Tạ Xá nay là xã Đại Thắng, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Ông nổi tiếng là người thông minh, nhưng không thi đậu vì bài viết hay lồng ý thâm sâu phê phán chế độ thực dân. Ông dạy học và thường giao du với những người yêu nước.




[6] Hai Hiên, tên Nguyễn Văn Hiên, quê ở làng Cao Chung (nay thuộc xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội) là người giỏi võ và làm đầu bếp trong quân đội Pháp.




([7]) Tên là Ngọc theo lệnh của Hai Hiên, làm bếp ở đơn vị pháo binh. Trước lúc khởi sự, Hai Hiên có nhận của Đề Thám một mảnh giấy ghi: “Chú Hai Hiên là người có tâm huyết hãy thi hành không chậm trễ chỉ thị của ta”. Dưới có đóng dấu của Đề Thám. Sau khi vụ đầu độc bị phát giác, Ngọc trốn lên Phồn Xương với hai người nữa là Thiện và Bảy.




[8] Góc phố Trần Phú hiện nay.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »