tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21079187
Những bài báo
27.12.2010
Tư liệu
Trần Văn Giàu: Sức hấp dẫn của một tài năng và nhân cách lớn

Sức hấp dẫn của tài năng và nhân cách


Bài của Phan Trọng Luận


Năm 1950 Thanh Chuơng ở Nghệ An là nơi đặt trụ sở của Uỷ ban Liên Khu IV, Tỉnh uỷ, uỷ ban hành chính Nghệ An cũng đóng ở vùng này. Xung quanh có các trường trung cấp sư phạm và truờng Dự bị đại học ở ngay Rạng.  Cách Rạng mấy cây số là Bạch Ngọc, có truờng Huỳnh Thúc Kháng, một trường phổ thông danh tiếng và trường sư phạm sơ cấp. Học sinh và giáo viên trẻ trung khá đông vui. Bên kia sông có trường Đặng Thúc Hứa. Có thể nói Thanh Chuơng hồi bấy giờ là trung tâm văn hoá của khu IV cũ. Vùng Bình Trị Thiên thì đang sống trong khói lửa chiến tranh. Những ngày ấy, các cuộc sinh hoạt văn hoá thưa thớt thường tổ chức vào đêm. Nhưng bao giờ cũng đông vui náo nức. Một lần không quên là cuộc nói chuyện của thầy Trần Văn Giàu do ông Hải Triều ở Sở thông tin văn hoá tổ chức, nhân dịp thầy vào giảng bài cho lớp Dự bị đại học chúng tôi. Đình Rạng treo đèn măngsông sáng trưng. Nguời đến nghe từ các cơ quan Tỉnh và Khu rất đông. Giờ khai mạc sắp đến thì không may trời đổ mưa như trút hàng giờ. Ai cũng nghĩ chắc là cuộc nói chuyện phải hoãn. Nhưng mới ngớt cơn mưa đã thấy thính giả ùn ùn kéo đến. Các vị lãnh đạo chính quyền, đoàn thể, các thầy giáo, học sinh các truờng đều có mặt. Kể cả  những vị như học giả Cao Xuân Huy. Mở đầu buổi nói chuyện, ông Hải Triều giới thiệu: “Thưa các đồng chí, các bạn, lâu nay các đồng chí và các bạn vẫn cho tôi là người hùng biện. Nhưng hôm nay tôi xin giới thiệu một nguời hùng biện hơn tôi nhiều, đó là đồng chí Trần Văn Giàu.” Hộỉ truờng vổ tay như sấm ran vang cả ngọn đồi Rạng. Và diễn giả bước lên. Chưa nói gì, hai mắt sáng quắc, cứ đứng nhìn… hội truờng im phăng phắc. Hôm sau chúng tôi mới được thầy cho biết đó là nghệ thuật hùng biện cuốn hút thính giả từ ngay giây phút đầu tiên. Nhưng chúng tôi hiểu trước hết thực chất là lòng ngưỡng mộ tài danh một con người mà giờ đây mới được tận mắt tiếp kiến. Một thanh niên tài giỏi, niềm hi vọng của cả dòng họ dám từ bỏ mọi ước nguyện của gia đình giàu có bậc nhất đất Nam Bộ để dấn thân vào con đường cách mạng. Một trí thức Việt Nam đầu thế kỉ 20 đã hoạt động lừng danh trên đất Pháp. Một người từng vào tù ra khám nhiều lần. Một trí thức am tường văn hoá Pháp và cũng là nguời sớm được học tập ở Đại học phương Đông danh tiếng cùng nhiều lãnh tụ cách mạng ngay trên xứ sở của Cách mạng tháng 10. Đó là con người từng lãnh đạo Nam kì khởi nghĩa và cũng là nguời lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng tháng Tám ở Sài Gòn… Trong con mắt mọi người, Trần Văn Giàu đang hiện diện trên diễn đàn bừng sáng hấp dẫn đầy ngưỡng mộ. Và quả thật danh bất hư truyền. Tầm nhìn trí tuệ, nhiệt huyết và nghệ thuật hùng biện qua từng câu chuyện thời sự kéo dài hơn 3 tiếng đồng hồ đã cuốn hút mấy trăm thính giả đêm hôm đó để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng mỗi ngưòi lần đầu tiên được biết Trần Văn Giàu một chính khách, một nhà văn hoá lớn của đất nước.


Hồi ấy, phân hiệu Dự bị đại học đóng ở Thanh Chương. Thầy Giàu ở Thanh Hoá đến kì lên lớp đạp xe vào giảng bài. Mỗi đợt thầy vào là chúng tôi học liên tục các buổi tối, khi tình hình máy bay không căng thẳng thì học cả ban ngày. Có khi liên tục cả tuần chỉ học Triết nhưng thật đặc biệt giờ học nào cũng hứng thú, cũng hấp dẫn. Tuổi trẻ những năm đầu Cách mạng đang say sưa lí tưởng, thông tin lại ít ỏi, tài liệu không có gì, Chúng tôi khao khát nuốt lấy từng lời giảng. Về triết học hồi bấy giờ chỉ có cuốn Macxit phổ thông của Hải Triều, cuốn triết học của Pôlitzer, Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác hoạt động cũng thưa thớt. Những bài học vỡ lòng về triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mà thầy cung cấp cho thật mới mẻ thật thú vị và bổ ích. Bài giảng của thầy không phải là sách vở kinh viện mà luôn gắn với những vấn đề nóng bỏng thiết thực của cuộc sống. Cách giảng của thầy lại sinh động cụ thể. Có lần anh bạn trong lớp hỏi thầy vũ khí phê tự phê lợi hại như thế đối với nguời cách mạng vậy thì kẻ địch có thể sử dụng được không? Thầy giơ cây bút Parker trong túi ra và nói: “Cái bút quí này đưa cho con khỉ nó có dùng được không?”. Cả lớp cuời ồ rồi thầy giảng cho ý nghĩa lí luận của vấn đề từ góc độ triết học và đấu tranh giai cấp. Thầy vẫn thường nói “Tôi không phải là triết gia, Trần Đức Thảo mới là triết gia”. Nhưng triết học của thầy là triết học của đời sống, của thực tiễn, triết học của một con nguời đã hoà máu thịt của mình vào cuộc sống của nhân dân đất nước nên nó có sức hấp dẫn và giá trị chỉ đường sâu sắc lâu bền. Lớp học chúng tôi hồi bấy giờ ra đời công tác đều trưởng thành trên nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng những bài học triết học thầy trao cho là những cẩm nang quí giá suốt cả cuộc đời. Có những luận điểm như giai cấp vô sản là giai cấp vô tư nhất trong lịch sử. Nó đấu tranh tiêu diệt giai cấp bóc lột và tự thủ tiêu luôn chính mình khi đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vẻ vang. Luận điểm khoa học đó đang chờ sự kiểm nghiệm chắc còn dài lâu của lịch sử nhân loại. Nhưng trong thời điểm bấy giờ khi mà Đảng đang hoạt động bí mật, dân chúng chưa hiểu nhiều về những người cộng sản thì lời giảng của thầy gieo vào tâm trí tuổi trẻ chúng tôi niềm tin đẹp đẽ vào phẩm chất cao cả và cao thuợng của những người cách mạng đang lãnh đạo cuộc kháng chiến gian khổ chống thực dân Pháp. Triết học thầy dạy cho là triết học của cuộc sống, là triết học làm nguời, là vũ khí tư tưởng, là phương pháp luận khoa học. Anh chị em chúng tôi mỗi khi nói về những giờ triết của thầy, ai cũng thấm thía một điều là thầy đã trang bị cho một phương pháp tư duy biện chứng khoa học để tránh được những suy nghĩ cực đoan phiến diện hay chao đảo. Đó là chìa khoá vàng thầy đã trao cho từ tuổi thanh niên qua những giờ triết học vỡ lòng, có ý nghĩa khai tâm. Thầy đã để lại một kinh nghiệm quí giá về phương pháp giáo dục triết học cho nhà trường cách mạng mà chúng ta chưa biết khai thác và kế thừa để làm cho vịêc dạy học triết ngày nay thực sự bổ ích cho tuổi trẻ chứ không phải là những giờ “chết học” như nhiều sinh viên vẫn kêu ca.


Khoá Dự bị đại học đầu tiên và Sư phạm cao cấp kết thúc thì cũng vừa kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thầy về Hà Nội có giảng dạy triết học một phần. Sau đó thầy chuyên tâm nghiên cúu và giảng dạy sử học, một lĩnh vực khoa học mà lần đầu tiên thầy nhập cuộc sau bao nhiêu năm trời sôi nổi hoạt động trên chính truờng. Khởi đầu sự nghiệp một chuyên ngành khoa học ở tuổi 50 nhưng nhanh chóng đã trở thành một tên tuổi sáng giá, một học giả tài ba trong giới sử học nước nhà. Và đã để lại cho đời hàng trăm công trình nghiên cứu xuất sắc. Thử hỏi bí quyết nào đã tạo nên thành công. Tôi nghĩ giới sử học và giới khoa học chúng ta không phải chỉ nghiên cúu kề thừa thành tựu khoa học thầy đã để lại mà cần đi sâu nghiên cứu những bí quyết nào, những nhân tố nào đã tạo nên một nhà khoa học xuất sắc như vậy tuy thầy đến với nó khá muộn màng, muộn màng mà vẫn rực rỡ. Khoa học về phương pháp luận ở ta còn chậm phát triển. Khoa học chỉ mới dừng lạỉ ở thành tựu thông tin, ở kết quả nghiên cúu mà chưa đi vào lĩnh vực tư duy và phương pháp luận khoa học, nhân tố quyết định hàng đầu cho công việc nghiên cứu. Gần đây những nghiên cứu về hiện tượng Leonardo da Vinci cho thấy vì sao nhân loại lại có được một mẫu mực toàn diện, một con ngưòi thiên tài đến như vậy. Có nhiều dự đoán của ông đã đi trước nhiều ngành khoa học. Có nhiều câu hỏi đặt ra từ thành công của nhà khoa học Trần Văn Giàu. Có những liên hệ gì giữa hơn nửa đời hoạt động chính trị xã hội với công việc sử học? Cái vốn sống phong phú của nhà chính trị, nhà cách mạng đã giúp ích gì cho sự thành công trong nghiên cứu sử học và khoa học xã hội nhân văn? Mối quan hệ tương hỗ giữa triết học và các khoa học khác là gì? Những yếu tố nào tạo thành tài năng của nhà nghiên cứu sử học, khoa học xã hội và nhân văn? Bí quyết nào giúp cho việc tiếp cận và làm chủ được khối lượng thông tin khoa học lịch sử không phải không đồ sộ của những người đi trước khi bản thân mới nhập cuộc? Vai trò của phương pháp luận có ý nghĩa quyết định như thế nào trong việc thẩm định một cách khách quan lịch sử đã qua? Niềm say mê cống hiến, bản lĩnh làm người có ích cho dù cuộc sống trải qua bao biến cố có ảnh huởng như thế nào đến con đường nghiên cứu của một nhà khoa học? Khả năng đào tạo và tập hợp đội ngũ của một nhà khoa học tầm cỡ đã để lại những kinh nghiệm quí báu như thế nào? Thầy đã đào tạo được nhiều nhà khoa học sáng giá cho đất nước về sử học, về văn học, về khoa học xã hội nhân văn... Tôi cứ nghĩ miên man bao điều, cố tự giải đáp cho mình, càng nghĩ càng thấm thía những bài học quí giá thầy đã để lại cho đời trên con đường làm cách mạng cũng như trên lĩnh vực khoa học.


Ngày biết tin Thầy đã ra đi thọ 100 tuổi


P.T.L


viet-studies.info


 


Đưa tiễn một vĩ nhân


Thái Doãn Hiểu


Sáng này 25-12-2010, tôi dậy thật sớm từ 5 h  sáng, đáp chuyến xe buýt đầu tiên vào nội thành để đưa tiễn một vĩ nhân về nơi yên nghỉ cuối cùng: đất Long An quê cha.


 


Tôi đến đưa tiễn Người với hai vai: 1- Một đồng nghiệp nhỏ đối với đồng nghiệp lớn - học trò đối với sư phụ; 2- Ông Phan Đăng Lưu và ông Trần Văn Giàu là bạn chiến đấu với nhau. Tôi thay mặt dòng họ Mạc của ông Lưu tiễn ông Giàu.


 


 Một đại thần thất sủng đã trở thành một  học giả  lừng lẫy, một vị sư biểu lớn nhất thời đại, như đại thụ mà bóng cả đã che rợp nền học thuật nước nhà thế kỷ XX. Đất nước quả có thiếu đi một chính khách nhưng được thêm một khoa học gia hàng đầu. May hay rủi? Đáng buồn hay nên vui đây? Vui chứ. Đã làm chính trị thì thôi đừng làm khoa học, đã làm khoa học thì thôi không làm chính trị. Đó là một nguyên lý của đời sống xã hội. Cả đời hy sinh cho cách mạng và trước tác, không có con nối dõi nhưng Giáo sư để lại 150 công trình, mỗi công trình được xem như một đứa con tinh thần máu thịt.


 


 Lễ tang được cử hành với cấp nhà nước trang nghiêm và kính cẩn  đối với một bậc phu tử tiền bối mà cuộc đời, sự nghiệp và nhân cách trong suốt như khối pha lê. Ông bí thư thành ủy Lê Thanh Hải đọc bài điếu ca ngợi công đức Cụ Giàu rất xúc động.  Trong lễ truy điệu, có mặt đủ thành phần, đặc biệt có sự hiện diện nhiều nhà khoa học tên tuổi như Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Dương Trung Quốc, … với sự kính phục, tự hào và tiếc thương vô hạn.


 


Một người Việt Nam làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Malaixia(*) .


Đặng Thọ Truật


Tôi đến thăm Giáo sư Trần Văn Giàu nhằm lúc Giáo sư đang mệt. Bác Giàu gái lấy ghế bảo tôi ngồi cạnh đi-văng cho dễ nói chuyện. Giáo sư  Trần Văn Giàu xin phép nằm và hỏi tôi cần gì không. Tôi nói, đến thăm bác là chính và xin hỏi bác về một chi tiết lịch sử, rằng có một người Việt Nam đã từng làm Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Malaixia. Người ấy có công lao lớn giúp nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp? Mắt bác Giàu sáng rực lên rồi hỏi tôi:


 


-         Ai kể chuyện ấy với đồng chí?


-         Dạ thưa, bác Dương Quang Đông.


-         Anh Năm Đông hả? Đúng đấy. Chuyện thế này…


            Bác Giàu sửa lại gối đầu, nửa ngồi, nửa nằm, hồi tưởng và kể cho tôi nghe với một giọng rất khúc chiết, rành rẽ như đã nghĩ rất kỹ từ bao giờ:


            Cuối năm 1945, khi Nam Bộ bắt đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, tôi là Bí thư Xứ ủy, Chủ tịch Uy ban kháng chiến Nam Bộ, được Bác Hồ gọi ra Hà Nội. Ở thủ đô Hà Nội, theo đề nghị của tôi và được Bác Hồ, anh Võ Nguyên Giáp đồng ý cho tôi đi Thái Lan với tư cách là Tổng bộ Việt Minh để làm việc với Phó vương, Thủ tướng Thái Lan là Luổng-pri-đi. Cùng đi với tôi có anh Phạm Ngọc Thạch, sau này là Bộ trưởng Bộ Y tế. Chúng tôi làm 3 nhiệm vụ chính, một là xin thật nhiều súng đạn rồi tổ chức chuyển về cho Nam Bộ kháng chiến, hai là vận động, tổ chức thành lập, huấn luyện đội quân Việt kiều về giúp Nam Bộ kháng chiến, ba là khai thông tuyến liên lạc, tiếp tế từ Thái Lan qua Campuchia về Nam Bộ và vận động nước bạn chống thực dân Pháp để chia lửa với Việt Nam. Ở Thái Lan, tôi gặp anh Dương Quang  Đông. Anh Năm Đông cho biết được xứ ủy Nam Kỳ giao cùng với Sơn Ngọc Minh mang vàng sang Thái Lan mua vũ khí chuyển về cho Nam Bộ kháng chiến và nếu có điều kiện thì làm những nhiệm vụ như của chúng tôi. Cũng cần nói thêm, anh Năm Đông là bạn tù với tôi ở căng Tà Lài, cùng nhau vượt ngục năm 1941. Anh Năm Đông là người đã vận động, tổ chức, phục hồi Xứ ủy Nam Kỳ sau khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940. Từ năm 1943 đến tháng 5/1945, anh Năm Đông là Bí thư Xứ ủy Nam Kì và là người đã bàn giao chức vụ Bí thư Xứ ủy cho tôi từ tháng 5/1945. Với tư cách thường vụ Xứ ủy, được giao chỉ huy, chốt giữ dinh Xã Tây (tức trụ sở Uy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ngày nay). Đêm 22, rạng ngày 23/9/1945, anh Năm Đông là người nổ súng đầu tiên, giáng trả đòn tấn công của thực dân Pháp và sau này trở thành tiếng súng đầu tiên của Nam Bộ Kháng Chiến. Trong lòng tôi, anh Năm Đông luôn là một nhà tổ chức hành động thực tiễn tài giỏi. Một người cộng sản luôn sẵn sàng làm mọi nhiệm vụ miễn là nhiệm vụ ấy, công việc ấy có lợi cho Cách Mạng, dù có khó khăn đến mấy. Ở Thái Lan, tôi nhận được điện của Hà Nội cử đi dự hội nghị Châu Á, tổ chức tại Niu-Đêli, Ấn Độ do Đảng Quốc Đại (I) của Thủ tướng Nê-ru tổ chức và mời Việt Nam. Cùng đi với tôi có anh Luân, dược sĩ cao cấp, sau này anh Luân là Đại sứ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Miến Điện. Sau hội nghị Á Châu, chúng tôi còn tổ chức hội nghị Đông Nam Á tại Băng-cốc, Thái Lan gồm có đại diện các nước Lào, Campuchia, Miến Điện, Thái Lan, Malaixia, Philippin và Việt Nam. Từ hội nghị ở Ấn Độ đến hội nghị ở Băng-cốc, tôi nhiều lần tiếp xúc với đoàn Malaixia và được biết thêm, phong trào kháng chiến chống Nhật ở Malaixia rất mạnh. Phong trào này do Đảng Cộng Sản lãnh đạo và rất có uy tín. Thủ lĩnh phong trào hình như là một người Việt Nam. Sau khi Nhật đầu hàng, phe kháng chiến thu được rất nhiều súng đạn và có lực lượng rất lớn. Tôi nảy ra ý định đi Malaixia xin vũ khí cho Nam Bộ. Tại Malaixia, tôi được gặp lãnh tụ của phong trào kháng chiến, đồng thời là Tổng Bí thư  Đảng Cộng sản. Tôi ngờ ngợ anh này là Ngô Gia Tự, bởi vì hồi ở Côn Đảo, Bác Tôn Đức Thắng tổ chức cho anh Ngô Gia Tự và một số người tù vượt ngục nhưng không thấy về đất liền. Hay là anh Tự sang đây rồi làm nhiệm vụ Quốc tế cộng sản giao cho. Người Việt Nam ta giỏi lắm, biết đâu. Tôi chưa từng gặp anh Ngô Gia Tự nên bao nhiêu câu hỏi không tìm được lời giải đáp. Trong khi làm việc, người ấy xưng tên là Lai- đặc và nói hoàn tòan bằng tiếng Anh. Người ấy bảo với tôi là có nghe danh Trần Văn Giàu ở Việt Nam. Nhiều lần tôi gợi ý khéo song người ấy rất giữ bí mật gốc gác của mình. Nhưng khi tôi nói rõ mục đích chuyến đi và đặt vấn đề  xin súng đạn giúp Nam Bộ kháng chiến thì người ấy rất sẵn sàng và còn quyết định cho cả tàu thủy chuyên chở đến địa điểm mà tôi yêu cầu. Người ấy còn đề nghị nếu Chính phủ Hồ Chí Minh đồng ý, Đảng Cộng Sản Malaixia sẽ chi viện cả quân đội của phong trào kháng chiến sang giúp Việt Nam đánh thực dân Pháp. Mừng quá, tôi lập tức trở về Thái Lan kể hết sự tình cho anh Dương Quang Đông nghe. Tôi cũng nêu lên mối ngờ vực và niềm tự hào khôn xiết về một Lai- đặc hay Ngô Gia Tự của chúng ta. Nghe chuyện, anh Năm Đông cười rồi bảo tôi: Ai chứ anh Ngô Gia Tự thì tôi rành lắm. Vì năm 1929, 1930 bác Tôn Đức Thắng giao cho tôi đưa anh Ngô Gia Tự đi bàn giao cơ sở Đảng của Xứ ủy, tôi và Lý Tự Trọng là giao liên của anh Ngô Gia Tự. Nhưng Lai- đặc có lẽ không phải là anh Ngô Gia Tự vì lúc đón bác Tôn Đức Thắng từ Côn Đảo về, nghe bác Tôn kể anh Ngô Gia Tự và một số anh em vượt ngục đã hi sinh giữa trùng khơi vì gặp bão lớn.  Anh Năm Đông còn bảo để anh đi sang trực tiếp vừa tổ chức vận chuyển vũ khí về cho Nam Bộ, vừa để xem Lai- đặc có phải là bạn cũ, Đảng viên của Xứ ủy hay không.


 


Năm nay đã hơn 100 tuổi, nhưng bác Dương Quang Đông vẫn khỏe và rất minh mẫn. Bác vừa được Trung Ương cử làm thành viên Hội đồng khoa học viết lại lịch sử Nam Bộ kháng chiến do đồng chí Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ tướng, Cố vấn Ban Chấp Hành Trương ương làm Chủ tịch. Năm 1927, theo chỉ thị của Bác Hồ, Bác Tôn Đức Thắng tổ chức ra Chi bộ Cộng Sản quốc tế đầu tiên ở Nam Kỳ. Bác Năm Đông là Đảng viên trong Chi Bộ Cộng sản quốc tế đầu tiên ấy do Bác Tôn Đức Thắng làm Bí thư và trực tiếp giới thiệu. Những người biết bác Năm Đông đều rất khâm phục tính cương trực, thẳng thắn, luôn đặt lên hàng đầu lợi ích của Đảng, của dân tộc, của Tổ quốc. Hơn 70 tuổi Đảng, 5 lần bị địch bắt cầm tù, đã từng là Bí thư Xứ ủy, có lẽ Bác là người duy nhất kiên quyết đề nghị Xứ ủy giao lại chức vụ cao ấy cho người khác tài giỏi hơn mình, vì như vậy sẽ có lợi nhiều hơn cho dân, cho Đảng, cho sự nghiệp Cách mạng. Được Đảng và Nhà nước cho căn nhà, bác bán đi mua nhà nhỏ hơn để lấy tiền dưỡng già. Có lẽ Bác là người duy nhất đã hiến 80 cây vàng để cứu trợ đồng bào đồng bằng Sông Cửu Long bị lũ lụt và ủng hộ bệnh viện miễn phí An Bình. Tôi nhớ có lần phê phán một đồng chí cán bộ cao cấp, bác thẳng thắn nói: “Đồng chí nghỉ đi, làm lãnh đạo mà tiếng xấu tràn đồng, nếu có làm thêm cũng chỉ có hại cho uy tín của Đảng mà thôi”. Bác gái kể, có lần bác khuyên bác Năm Đông: “Ông thẳng quá, rủi người ta ghét, nó đòm cho một phát thì khổ”. Ai dè, ổng nói: “Vào Đảng hơn 70 năm nay, nếu vì Đảng chống tiêu cực, có bị bọn xấu giết thì vẫn còn hơn ốm đau dầm dề, khổ cho bà phải chăm sóc. Bà không thấy tấm gương Liên Xô tan vỡ là vì bọn cơ hội lên nắm chính quyền, phản bội, phá hết thành quả Cách mạng đấy. Cỡ mình mà còn sợ không dám đấu tranh thì thử hỏi còn ai dám nói. Mình còn sợ hi sinh thì biểu ai hi sinh. Bọn cơ hội, nhân danh Đảng mà tham nhũng, làm hại người tốt, làm lợi cho kẻ xấu thì phải trừng trị thẳng tay. Dẫu có chết cũng là chết vinh quang.”


Nghe thì vậy, nhưng bác Năm Đông trông rất hiền lành, đặc biệt bác có nụ cười rạng rỡ, đầm ấm, thân tình rất thu hút người khác. Bác Năm Đông bồi hồi nhớ lại: “Dạo đó, nghe Trần Văn Giàu kể, tôi liền thu xếp đi ngay sang Malaixia. Tôi đến trụ sở Đảng Cộng sản tìm gặp Lai- đặc. Hồi ấy, sau kháng Nhật thắng lợi, Đảng Cộng Sản Malaixia hoạt động công khai, rất có thanh thế, có trụ sở lớn, treo cờ đỏ búa liềm đàng hoàng, Tổng Bí thư oai vệ lắm. Ngay ngày đầu gặp nhau, tôi đã nhận ra Lai- đặc chính là Phạm Văn Đắc, quê ở Long Đất, Bà Rịa, học sinh trường Huỳnh Khương Ninh. Chính tôi đã giới thiệu Phạm Văn Đắc vào Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1930, sinh hoạt tại Chi bộ Tân Định, Sài Gòn. Đến năm 1931, giặc Pháp khủng bố trắng, tôi và Đắc cùng tạm lánh sang Thái Lan. Đầu năm 1932, tôi quay về Sài Gòn nhưng tìm mãi không gặp được Đắc. Cuộc gặp nhau trên đất khách quê người lần này, tôi mừng lắm. Nhưng Lai- đặc Phạm Văn Đắc lại tỏ ra rất bình thản và đặc biệt trong câu chuyện không bao giờ Lai- đặc nói tiếng Việt. Tuy vậy, Lai- đặc tiếp tôi rất thân tình, bố trí nơi ăn ở đàng hoàng. Khi tôi đề nghị giúp Nam Bộ đánh Pháp thì được Lai- đặc ủng hộ rất nhiệt tình và còn bàn phương án tổ chức chu đáo, khoa học. Lai- đặc đã cho tôi 5 chiếc tàu thủy lớn, hàng vạn khẩu súng, đạn dược, thuốc men để chở về Việt Nam, đương nhiên là cho không. Lai- đặc còn đề nghị đưa quân của Đảng Cộng Sản Malaixia sang giúp Việt Minh đánh Pháp. Sau hơn 3 tháng ở Malaixia, một bữa, tôi ngồi hút thuốc một mình trong trụ sở thì Lai- đặc ghé vào vỗ vai ra hiệu cho tôi đi ra ngoài vườn dạo chơi. Khi chỉ còn hai người, Lai- đặc ôm tôi khóc và nói: “Hoàng (tên tôi lúc còn đi học) ơi, mày tha lỗi cho tao nghe. Nhận ra mày ngay từ đầu nhưng phải bí mật để lo đại sự. Mày cần gì cho Nam Bộ kháng chiến, tao sẽ hết lòng và tìm mọi cách đáp ứng, kể cả sức người, tính mạng. Nhưng từ rày khi gặp nhau mày đừng nhìn tao như thế và cũng đừng tìm cách kiểm tra tung tích. Dạo đó tao không về Sài Gòn với mày được là có lý do của tổ chức. Mày chỉ cần biết tao mãi mãi là người Cộng sản chân chính. Nhiệm vụ của tao đang làm là do Quốc tế Cộng Sản giao cho”.


Bác Năm Đông bật lửa, châm thuốc hút, mắt nhìn ra xa, vành mi ngấn lệ, chợt Bác quay sang tôi nói như tâm sự với lớp trẻ: “Đồng chí ạ, cuộc kháng chiến của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã hoàn toàn thắng lợi. Trong sự nghiệp ấy có công lao của biết bao bạn bè quốc tế. Làmsao mà tri ân hết được nhỉ? Những năm Nam Bộ kháng chiến, nhân dân Thái Lan, chính phủ Luổng-pri-đi, Bộ trưởng Ngọai giao Nai Tiên và Bộ trưởng Nội Vụ Nai Thoong In, anh Na, anh Xổm là Uy viên Trung Ương Đảng Cộng sản Thái Lan, nhà sư Báo An, Việt kiều, những người Cộng sản Mailaixia như Lai- đặc – Phạm Văn Đắc và nhiều đồng chí khác đã giúp chúng ta hàng vạn tấn vũ khí, đạn dược, giúp một cách vô tư vì chính nghĩa. Nhiều lúc, tôi muốn có một lời cảm ơn họ. Đồng chí có thể giúp tôi được không? Cảm ơn trên báo của đồng chí chẳng hạn? Đồng chí biết không, khi trở lại Thái Lan, Lai- đặc bảo tôi mang theo một tiểu đoàn quân. Vì không liên lạc được với Trung ương để xin chỉ thị, tôi bảo người thì không thiếu. Lai- đặc đề nghị tôi mang về một đại đội, tôi cũng không dám nhận. Cuối cùng, nể Lai- đặc, tôi chỉ nhận có 4 người đưa về nước cùng với đoàn tàu. Trải qua 30 năm chiến đấu trường kì, tưởng không còn ai sống sót. Thế mà vừa rồi tôi được Ban tổ chức Chính phủ chuyển tài liệu nhờ xác minh cho một đồng chí trong bốn người tôi đưa về hồi ấy còn sống ở Rạch Giá, Kiên Giang để họ được hưởng chế độ chính sách. Đó là đồng chí Puồi – Trần Văn Quang, là một trong 4 đồng chí mà Lai- đặc tuyển chọn gửi cho tôi mang về Tổ quốc tham gia đánh thực dân Pháp từ năm 1946. Anh Puồi vừa gửi thư lên cảm ơn tôi và hứa sẽ sắp xếp lên chơi thăm thủ trưởng cũ. Người ta cảm ơn mà tôi thấy mình có lỗi, đồng chí ạ”. Bác Năm Đông đưa thư  của đồng chí Puồi – Trần Văn Quang cho tôi xem. Lá thư gửi Tiểu đoàn trưởng Năm Đông. Đó là bức thư của những người bạn chiến đấu mừng cho nhau còn sống và mừng cho sự nghiệp đổi mới của Đảng trên đà thắng lợi. Chỉ tiếc là đã quá già yếu nên không đi thăm thú mà tán gẫu chơi với nhau. Một lá thư được viết từ một tâm hồn thanh thản và mừng vui vì được Đảng, Nhà nước, người chỉ huy cũ biết, nhớ công lao của mình để báo đáp lúc tuổi đã xế chiều. Đọc lá thư, lòng tôi tràn đầy xúc động, còn bác Dương Quang Đông thì khóc. Tôi hứa với bác sẽ viết trên báo lời cảm ơn, lời tri ân của bác đối với những người đã giúp bác, giúp Đảng, giúp dân, giúp Cách mạng Việt Nam. Nếu bài báo này được đăng vào dịp Xuân mới thì lòng tôi cũng thanh thản với hai đồng chí lão thành Cách Mạng và cũng là món quà Xuân mừng nhà Cách mạng lão thành đầy uy tín ở Nam Bộ, thành phố mang tên Bác Hồ.


ĐTT.


______


(*) Bài đã đăng trên báo Quân đội Nhân dân số Tết Nhâm Ngọ 2002. Nay, trong buồn đau về sự ra đi của giáo sư Trần Văn Giàu, xin đăng lại để bày tỏ tình cảm kính trọng và tri ân các bậc tiền bối. Nguồn: nguyentrongtao.org


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy trò đời nay với thầy trò xưa - Phan Khôi 19.11.2017
Nhân Ngày Nhà Giáo VN 20/11/2017: Những điều ít biết về Thầy tôi – Nhà thơ Thúc Hà - Nguyễn Văn Thanh 18.11.2017
Thuyết trình khoa học với chủ đề: Tính hiện đại của tiểu thuyết M. Proust - Tư liệu 13.11.2017
Tàu sân bay Mỹ sẽ đến thăm cảng Việt Nam - Tư liệu 12.11.2017
Hoàng Như Mai văn tập - Đoàn Lê Giang 12.11.2017
hai bài của GS Trần Hữu Tá viết về GS, NGND Hoàng Như Mai - Trần Hữu Tá 12.11.2017
DONALD TRUMP phát biểu tại APEC, Đà Nẵng, ngày 10-11-2017 - DONALD John Trump 11.11.2017
Kiểm dịch "Luận chiến văn chương" (quyển 4) của Chu Giang, Nguyễn Văn Lưu - Kiều Mai Sơn 07.11.2017
Cụ Triệu Thái - cùng thời Nguyễn Trãi - Danh nhân đất Việt - Vũ Truyết 06.11.2017
Cát Bà & huyện Cát Hải, Hải Phòng - Nhiều tác giả 05.11.2017
xem thêm »