tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20185534
Tiểu thuyết
22.12.2010
Hoài Anh
Luật sư đỏ

Người châu Âu đặt giáo dục chia làm ba bậc: tiểu học, trung học và đại học, cứ bốn năm là một kỳ. Khi vào đại học, lấy những cuốn văn tự nước nhà ngày nay, cổ văn La Mã, văn tự, tiếng nói ngoại quốc, toán học, địa dư làm những môn học đầu tiên. Khi học đã mãn khóa, lần bước tiến lên thì cứ tùy theo năng khiếu của học sinh, hợp với môn học nào thì dạy cho môn học ấy, chia ra luật học, thiên văn học, võ bị học, y học, cách trí học v.v… Học thành tài rồi sau mới dùng, dùng làm có được việc thì sau mới thăng chức. Nước ta có thế không? Những môn ta học và nhớ ấy chỉ là sách Tàu, những bài ta chú ý ấy chỉ là lời của cổ nhân, những thứ ta thi ấy chỉ là kinh nghĩa, thơ ngũ ngôn, văn biền ngẫu tứ lục. Đó là điều ta trái với người về giới giáo dục…


Sống ở đời, muốn cầu cho văn minh, không thể không lo mở mang dân trí. Này dân mà có trí, là cái công lệ thiên diền. Người da vàng chúng ta có kém gì người da trắng đâu; vốn liếng chưa dồi dào thì không thể làm nên được. Vậy không nhờ người đại biểu để mở mang cho thì quyết là không thể được.


Tiếp đó Phan Tuấn Phong nói về cách học của trường:


“Cho phép học trò bàn bạc thi thố đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết. Rồi thêm vào đó, mấy bài về toán Pháp, về chữ Quốc ngữ, để cho cái mà học sinh học ra thì không trái với công việc thực tế mà họ phải làm”.


Không khí buổi học rất hào hứng. Mọi người thấy đây là buổi học chưa từng có trong lịch sử, thầy dạy rất phóng khoáng và trò thì tiếp thu với tinh thần thoải mái nhất. Bởi cả thầy và trò đều đã loại bỏ hoàn toàn tâm lý học để thi.


Hết tiết dạy của Phan Tuấn Phong, ông Huấn Quyền học giám bước ra giới thiệu thầy giáo của tiết sau. Mọi người ồ cả lên khi thấy một người mặc áo bành tô và chiếc quần bằng vải nội hóa Quảng Nam nhuộm đen, thắt cà vạt cũng bằng vải đen, đi giày “giôn” mỏ vịt, cao ngót 1 mét 70, đầu dài, tóc thẳng màu hạt dẻ ngắn và bờm xờm, hai hàng ria vểnh ra rất bướng bỉnh, nhưng đặc biệt là đôi mắt màu nâu sậm lóe sáng như chớp.


Ông Huấn Quyền nói:


- Đây là ông phó bảng Phan Châu Trinh, hiệu Tây Hồ, mới ở trong Quảng ra. Nhà trường mời ông đến dạy buổi đầu tiên.


Tiếng hoan hô nổi lên. Mọi người đều biết tiếng ông Phan đã từng bỏ chức quan Thừa biên bộ Lễ sang Tàu, Nhật cùng ông Sào Nam, khi về nước lại gửi Đầu Pháp chính phủ thư  vang dội khắp nước.


Phan Châu Trinh nói:


- Tôi mới ở trong Quảng ra, chưa kịp soạn bài, chỉ xin đọc một bài ca Chiêu hồn nước của ông tiến sĩ Trần Quý Cáp đã đọc ở trường Diên Phong mở dạy Tân thư năm 1906 ở Quảng Nam:


Đấng làm trai đứng trong trời đất,


Phải làm sao mở mặt non sông,


Kìa hòa những bậc anh hùng


Cũng vì buổi nhỏ học không sai đường


Cuộc hoàn hải liệt cường tranh cạnh


Mà trí khôn giàu mạnh dưỡng báo


Nước ta học vấn thế nào


Chẳng lo bỏ dại, lẽ nào đặng khôn?


Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước


Phải đem ra tỉnh trước dân tá


Sách Âu Mỹ, sách Chi Na


Chữ hoa chữ nọ, dịch ra tịnh tường


Nông, công, cổ trăm đường cũng thế,


Hiệp bằng nhau thì dễ toan lo,


Á Âu chung lại một lò,


Đúc nên tư cách mới cho rằng người…


Một người học, muôn người đều biết.


Trí đã khôn, trăm việc phải hay.


Lợi quyền đã nắm trong tay


Có ngày dân hóa, có ngày văn minh.


Chuông tự lập vang đình diễn thuyết


Trống hoan nghênh dội bể Đông Dương


Nghểnh xem khoa cử mấy chàng,


Kia vì khôn dại, rõ ràng chẳng sai.


Mọi người lại ồ cả lên hưởng ứng. Một học sinh bạo dạn dứng lên xin Phan Châu Trinh đọc cho nghe những tác phẩm mới của ông. Ông khiêm tốn nói:


- Tôi văn chương còn lỗ mỗ, chỉ xin mượn bài ca của tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng chúc các cơ sở Duy Tân ở Phú Lâm Quảng Nam để chúc trường Đông Kinh Nghĩa Thục của chúng ta:


Người trong Đông Á rõ ràng,


Một dòng một giống Hồng Bàng là đây.


Nay biết đổi quê ngay tục vẽ,


Hiệp cùng nhau chung của mà buôn,


Đuổi theo tân hóa bôn chôn,


Thói hư ta bỏ, trí khôn ta bày.


Chúng tôi vui thấy hội này,


Mở lời kính chúc quý thầy đôi câu:


Một - chút thương cuộc đặng lâu -


Lời quyền giữ lại của mình hầu sanh.


Hai - chúc học hành cho giỏi -


Theo người hay tìm tòi cho nên.


Ba - chúc cái lòng cho bền -


Ai ai cũng quyết đứng lên vũ đài.


Bốn - chúc đạo khai dân trí,


Dạy con em nghĩa khí cho minh.


Năm - chúc khuyên dụ người mình


Bỏ câu thành bại mới nên việc đời.


Sáu - chúc khuyên mọi người trong nước,


Khuyên anh em sau trước gần xa.


Bảy - chúc thông nước thông nhà,


Ta là dân nước, nước là nhà ta.


Tám - chúc bước qua đàng sáng


Mở mang ra tỏ rạng lẽ công.


Chín - chúc người trước tâm đồng,


Người hay, trí xảo gánh gồng giang sơn.


Mười - chúc chớ sờn tâm trí,


Hiệp bằng nhau mà thử gan chơi.


Lẽ hai mươi triệu con người


Đồng lòng dễ có thua người nước mô.


Lần này bài ca cũng được hoan nghênh nhưng ông Huấn Quyền thấy nét mặt học sinh vẫn chưa thỏa mãn, hiểu rằng họ cho là những bài ca này tuy do hai ông Nghè soạn nhưng cốt để cho những người dân ít học đọc nên còn giản dị, dễ hiểu mà thiếu chất văn chương, mà những người đã học thông chữ Hán thích thú - ông bèn đứng lên nói:


- Ông Tây Hồ khiêm tốn không muốn đọc thơ của mình, nhưng tôi xin mạn phép ông đọc cho các trò nghe bài thơ chữ Hán của ông, nhan đề: Tặng hữu nhân Trần Quý Cáp tiến sĩ:


Hoa sự đoàn loan tuế dĩ thu,


Tối như tâm xứ chuyển nhân sầu.


Quân duyên hà sự vong ôn bão,


Ngã diệc do nhân mạn ứng thù.


Cố lão tranh truyền Chu đỉnh quý,


Thiếu niên thùy giải Kỷ nhân ưu.


Phong vân hà tất vô tao tế,


Nhỡn khám tha nhân bạch tận đầu.


Dịch


Hoa nở mùa thu đã muộn rồi,


Rõ mừng mà lại hóa không vui.


Ấm no sao bác đem lòng chán


Thù tạc nay tôi cũng thóp đời.


Bạn cũ vẫn khen ai tốt vận,


Lũ non nào biết khách lo trời.


Gió mây gặp gỡ thôi là thế


Ngán nỗi bao người tóc nhuộm vôi.


                        (Ngô Đức Kế dịch)


Ông Huấn Quyền ngâm xong, tiếng vỗ tay vang lên như sấm dậy. Không ai ngờ ông phó bảng người xứ Quảng trông có vẻ khô khan lại có giọng thơ thâm trầm và tâm sự kín đáo như vậy.


Về mặt tổ chức, trường Đông Kinh Nghĩa Thục chia làm bốn ban: ban giáo dục, ban tài chính, ban cổ động, ban trước tác. Nói thế không có nghĩa là có một sự phân công dứt khoát giữa các ban, mà có tính chất cộng tác với nhau.


Ban giáo dục: phụ trách mở các lớp học và chiêu sinh. Giáo viên đa số là những nhà nho có tư tưởng mới đến dạy giúp, lúc đầu không lương, về sau nhờ tài chính nhà trường ngày càng dồi dào nên hàng tháng các giáo viên lĩnh một số cấp phí nhỏ là 4 đồng.


Trong chương trình học, tứ thư ngũ kinh của nền Hán học lỗi thời đã bị gạt bỏ thay thế vào đó là những bài phổ thông về địa lý, sử ký, cách trí, vệ sinh phỏng theo chương trình chính phủ thực dân quy định, nhưng soạn chủ yếu với mục đích tuyên truyền đổi mới của nhà trường. Dạy văn, sử, địa có Phan Tuấn Phong, Đặng Kim Luân, Lương Trúc Đàm (con cả ông Cử Can). Dạy khoa học có ông Tư Chung ở Hàng Dầu, dạy võ là ông Cử Tốn, Ngô Văn Tân. Nhà trường lại mở các buổi giảng đặc biệt với các giảng viên như Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế, Đào Nguyên Phổ, ông bảng Thiện… Còn có những lớp đặc biệt danh cho các ông cử, ông tú muốn học thêm chữ Pháp, chữ Quốc ngữ, cho các thầy thông thầy ký muốn học thêm chữ Nho. Đặc biệt nhà trường còn tổ chức thư viện các sách báo mới của Trung Quốc, người ngoài có thể mượn về xem rồi trả lại sau, và hộp thư trưng cầu ý kiến phê bình xây dựng gọi là “đầu thư hàm”.


Ban tài chính: phụ trách bảo đảm các món kinh phí của nhà trường. Lúc mới thành lập, quỹ trường hầu như không có, nhưng về sau nhờ sự giúp đỡ đắc lực của những người cảm tình với trường, nên tài chính ngày càng dồi dào. Nguồn cung cấp chính và thường xuyên là các người thường trợ tức những gia đình có con em theo học tại trường, mỗi tháng quên giúp 5 đồng, còn một loại lạc trợ là những vị hảo tâm ở ngoài giúp đỡ nhà trường. Những ai ủng hộ, nhà trường đều ghi tên treo tại trụ sở. Chẳng bao lâu tên người dày đặc một bảng lớn, đánh dấu sự hưởng ứng nhiệt liệt của nhân dân hồi bấy giờ. Một khi quỹ trường đã khá, hàng tháng trừ một số cấp phí nhỏ cho giáo viên, còn lại phần lớn mua giấy viết phát không cho học viên, tài liệu giảng dạy cho giáo viên, và chi tiêu công việc nhà trường.


Ban cổ động: dùng hai hình thức diễn thuyết và bình văn để tuyên truyền cổ động cho nhà trường. Ông Lê Đại ở Thịnh Hào, chuyên phụ trách soạn các bài văn cổ động. Diễn thuyết hồi đó là một phương pháp tuyên truyền rất mới phổ biến trước một số đông người. Các buổi nói chuyện tổ chức thường xuyên vào những ngày mồng một và rằm âm lịch mỗi tháng. Diễn giả có tiếng bấy giờ là Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc, Trần Tán Bình và một đôi khi có Phan Châu Trinh. Nội dung các bài diễn thuyết trước hết là đọc các bài báo đăng trong hai tờ Đăng cổ tùng báo và Đại Việt tân báo, rồi nhân đó phê bình bọn tham quan ô lại, hô hào bài trừ hủ tục (như rượu chè, ma chay, khao vọng, hô hào cắt tóc ngắn, vận động ăn tết vào ngày 10-3 là ngày giỗ Tổ Hùng Vương, vận động mua sách báo, mở trường học, đọc diễn văn khi hạ huyệt.


Những buổi bình văn là những buổi giới thiệu công khai các bài văn thơ ái quốc của Đông Kinh Nghĩa Thục, đã thu hút được rất đông thính giả và là những dịp tốt để tuyên truyền lòng yêu nước cho đông đảo quần chúng. Sư ông Như Tùng ở chùa Cao (Sài Sơn, Sơn Tây) có một giọng bình văn rất hay đã là một cán bộ tuyên truyền đắc lực hồi đó.


Phạm vi hoạt động của Ban Cổ động rất rộng. Hầu hết các tỉnh trung châu như Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định, Sơn Tây, Hà Đông đều có cơ sở của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nhất là Hà Đông, vì đây là quê hương của nhiều sáng lập viên và giáo viên của trường.


Về Hà Đông diễn thuyết thường có Vũ Trác, Hoàng Tăng Bí và Phan Châu Trinh. Nơi diễn thuyết đầu tiên là làng Phương Canh (Hoài Đức), rồi đến các xã Tây Tựu, Hạ Hội, Thượng Cát, Yên Lộ, Tây Mỗ (cũng thuộc Hoài Đức), Phúc Diễn (Ứng Hòa), Đán Hội (Đan Phượng), Nhị Khê (Thường Tín).


Các buổi diễn thuyết và bình văn do Đông Kinh Nghĩa Thục tổ chức đã khuếch trương ảnh hưởng nhà trường trong nhân dân, đem lại kết quả cụ thể là số người quyên tiền ủng hộ và gửi con em đến học ngày một đông, ban đầu mở ra đã có từ bốn đến năm trăm học sinh rồi tăng dần có khi lên tới trên một nghìn người, và một số hủ tục đã có phần giảm bớt.


Đúng như trong văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục ghi lại:


Buổi diễn thuyết người đông như hội,


Kỳ bình văn khách tới như mưa!


Ban trước tác: có nhiệm vụ biên soạn các tài liệu học tập cho học sinh và các tài liệu tuyên truyền cổ động ra ngoài. Biên tập viên chính là Lương Văn Can, Lê Đại, Nguyễn Hữu Cầu; Phân Châu Trinh và Ngô Đức Kế cũng có giúp vào việc này. Chỉ trong có mấy tháng mà toàn ban đã soạn xong một số lớn sách giáo khoa: Quốc dân độc bản, Việt Nam quốc giai sự, Nam quốc vĩ nhân, Quốc văn giáo khoa thư, Xuân ký giáo khoa thư, Việt Nam quốc sử lược, Nam quốc địa dư… Những tác phẩm này đều hoặc bằng Hán hoặc bằng chữ Quốc ngữ, trích trong các sách nho cũ hay trong các sách báo mới của Trung Quốc thích hợp với mục đích của Đông Kinh Nghĩa Thục. Các sách đó phần lớn đều in bản gỗ hoặc máy in kẽm.


Ngoài ra nhà trường còn gửi mua những tác phẩm của phái cải lương Trung Quốc như: Nhật bản tam thập niên duy tân sử, Trung Quốc hồn, Vạn quốc sử ký, Doanh hoàn chí lược… Một số văn thơ yêu nước của Nguyễn Phan Lãng, Phan Bội Châu cũng được đem dùng làm tài liệu giảng dạy.


Để che mắt nhà cầm quyền, Đông Kinh Nghĩa Thục còn sử dụng cả những tài liệu giáo khoa do Nha học chính Đông Dương xuất bản, cùng với các tranh vẽ cách trí, địa lý treo tường có khi mua ở Nhật hay Trung Quốc.


Nội dung chủ yếu của các trước tác của Đông Kinh Nghĩa Thục nhằm đả phá những tư tưởng lạc hậu của đám sĩ phu thủ cựu, đánh đổ lối học từ chương trong khoa cử, bài trừ hủ tục, đề cao nhận thức mới của lớp sĩ phu tiến bộ, tuyên truyền bài học cáh vật trí tri, chú trọng thực nghiệm, hô hào mở trường dạy học theo lối mới, cổ động học chữ Quốc ngữ, cổ động chấn hưng công thương nghiệp…


Cỗ xư chở tư tưởng mới đến cho dân chúng đã bắt đầu khởi động.


(còn tiếp)


Nguồn: Luật sư đỏ. Tiểu thuyết ca Hoài Anh. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 11.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
xem thêm »