3.
Khi chúng tôi về đến nhà thì tất cả đã có mặt đông đủ. Anh Nhu dẫn tôi đến chào bà cụ Muộn. Anh vui vẻ nói:
- Đây, em nó đây bà ạ. Nó hiền lành chứ không nghịch phá như thằng Bảo.
- Có gì đâu mà chú cứ phải lo! - Bà cụ Muộn cười móm mém trả lời anh Nhu, rồi xuề xòa bảo tôi. - Cháu cứ ở đây với mấy anh cho vui. Ăn mất nhiều chứ ở mất bao nhiêu!
Nói rồi bà cụ quày quả bưng rổ rau và chiếc niêu nhỏ đi xuống bếp. Dáng bà hơi còng, tóc đã bạc gần hết, da mặt nhăn nheo, khắc khổ. Nhưng khi bà cụ cười thì rõ ra một con người phúc hậu.
Anh Nhu lần lượt giới thiệu cho tôi làm quen với anh Hoàng, thằng Nam. Hai người đều mỉm cười nhìn tôi đầy thiện cảm. Anh Hoàng ít nói, hiền lành. Thằng Nam nhỏ người, nhanh thoăn thoắt.
- Thôi, dọn cơm ăn đi. Tôi đã nấu xong xuôi cả rồi đấy. Bữa nay chỉ có rau láo nháo nấu canh với ít lạc rang, các vị ăn tạm nhé. Mai đi chợ mua mấy lạng thịt về liên hoan, gọi là để mừng chú Thiện gia nhập hội. - Anh Nhu vừa bưng nồi cơm ra giữa sân vừa tươi cười nói.
Thằng Bảo, thằng Nam nhanh nhảu bưng mâm, bưng nồi canh cùng một chồng bát đũa ra, đặt trên chõng tre đã được anh Hoàng mang đặt giữa sân. Mấy anh em người đứng, người ngồi xì xụp ăn. Anh Nhu lấy thìa xúc lạc cho tôi, giọng ái ngại:
- Ở với bọn anh, cực đấy em ạ. Ăn uống kham khổ chứ không được như ở nhà đâu. Không biết rồi em có chịu được hay không?
- Em chịu được ạ. - Tôi nói nhỏ vừa đủ cho anh nghe.
Tối hôm ấy, bên ngọn đèn bão đặt giữa chõng, mấy anh em chụm đầu ngồi học bài. Tôi chưa có gì để học, vả lại suốt buổi ngồi trên tàu, gặp gỡ người này người khác, đầu óc khá mệt mỏi nên mới ngả lưng nằm trên giường một lát, tôi đã ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Nhưng cũng chỉ chợp mắt được ít phút, tôi bừng tỉnh. Từ đó cứ thao thức, nghĩ lan man chuyện này chuyện khác.
Lần này xa nhà, tôi không tránh khỏi lo lắng vì phải sống giữa nhiều người xa lạ. Nhưng thú thật, tôi cảm thấy vui nhiều hơn. Tôi tin những lạ lẫm ban đầu rồi sẽ nhanh chóng qua đi. Khi ấy tôi sẽ được sống thoải mái, tha hồ học, tha hồ chơi. Gia đình tôi, nói ra thì hơi buồn, nhưng quả thật không mấy lúc được vui vẻ. Sau hòa bình lập lại, nhà tôi như khánh kiệt. Do một số điều bất ưng, bố tôi nghỉ việc, không đi làm. Mẹ kế của tôi (mà chúng tôi thường gọi là cô) lâu nay chỉ ở nhà lo việc nội trợ; khó khăn quá xoay ra buôn bán vặt, lúc nấu xôi chè, lúc bán bún thang, bún riêu nhưng cũng chỉ được dăm bữa nửa tháng lại phải đóng cửa vì ế ẩm, vì không quen với cách làm ăn xô bồ, chộp giật. Chị cả của tôi đi thanh niên xung phong, sau đó được đi học trường Sư phạm. Chị thứ hai của tôi cũng bỏ học dở dang. Do xinh xắn và có năng khiếu múa hát, giữa lúc mấy anh chị em tôi sống quá khó khăn, nhân một lần đoàn văn công quân đội tuyển diễn viên, chị tôi trúng tuyển và vào bộ đội từ lúc mới mười lăm tuổi. Hai chị tôi chỉ hưởng phụ cấp, không có lương bổng nên cũng không giúp gì cho gia đình. Ba anh em tôi cùng với bốn em con của cô tôi, tất cả đều đang tuổi đi học. Bố tôi, cô tôi cùng bảy đứa con sống bấp bênh, không có một nguồn thu nhập nào ổn định. Tôi nhớ có một Tết Trung Thu, mỗi sổ hộ khẩu gia đình được mua một chiếc bánh dẻo, một chiếc bánh nướng. Vậy mà bố tôi cũng không có tiền mua, phải cho gia đình hàng xóm mua kẻo phí mất tiêu chuẩn. Nhiều hôm đi học về, đói mờ cả mắt, vậy mà chờ mãi, chờ mãi cũng chẳng thấy ai nói gì đến cơm nước. Cô tôi mệt mỏi nằm quay mặt vào tường. Chúng tôi lẳng lặng nhìn nhau, tự biết là hôm ấy nhà hết gạo, bố tôi không có đồng nào để đưa tiền chợ cho cô tôi. Chúng tôi phải sống không ít ngày trong cái không khí nặng nề như thế. Không có cảnh đánh chửi nhau. Không có chuyện quăng bát quăng đĩa. Rất ít khi to tiếng. Nhưng sao mà trầm uất… Ngay từ khi mười một, mười hai tuổi tôi đã luôn có mặc cảm là mình có tội, mình là gánh nặng của gia đình, không tự kiếm sống được mà phải sống dựa vào bố mẹ, ăn nhờ vào chính những người thân của mình. Suốt cả những ngày niên thiếu của tôi, tôi luôn nung nấu một ao ước là mong sao lớn thật mau để được đi làm, để khỏi phải sống dựa vào gia đình. Nhà tôi ở đầu phố Khâm Thiên. Đường chim bay đến ga Hàng Cỏ rất gần. Đêm đêm tôi trằn trọc không ngủ được vì tiếng còi tàu giục giã. Hàng chục đoàn tàu vào ga rồi rời ga, hú lên những hồi còi đầy nôn nóng và náo nức. Tôi phân biệt rất rõ tiếng lảnh lói cao vút của những con tàu cũ từ thời Pháp và tiếng trầm trầm đùng đục điềm tĩnh của những con tàu Trung Quốc mới. Chúng gọi nhau, chúng chào đón nhau, chúng thôi thúc nhau đi đến những miền đất xa xôi. Lòng tôi cũng bồn chồn, cũng náo nức theo chúng. Tôi cũng ao ước được bứt phá khỏi cuộc sống buồn tẻ này. Nhưng tôi còn nhỏ quá. Tôi mới chỉ mười ba tuổi. Biết đến bao giờ tôi mới đủ mười sáu, mười bảy tuổi để được đi làm, để khỏi phải ngong ngóng chờ đến bữa cơm mà nhiều hôm chờ đến ngang chiều cũng không thấy có… Trong đêm thanh vắng, nghe tiếng còi tàu hú gọi nhau, lắm khi tôi thầm ứa nước mắt.
Chính vì thế, khi được lên Bắc Giang trọ học, tôi thích thú vô cùng. Bố tôi lo tôi còn nhỏ đã phải xa nhà sống một mình, nhưng rồi vẫn bằng lòng để tôi đi, có lẽ một phần cũng vì bố tôi gặp quá nhiều khó khăn, có muốn giữ tôi ở lại cũng không có điều kiện. Thầy Tín hứa hẹn sẽ đề nghị nhà trường cấp cho tôi một suất học bổng.
Bố tôi vay ở đâu đó được hai mươi đồng bạc đưa cho tôi, bảo đó là tiền ăn của tháng tới và tiền sách vở đầu năm học. Hàng tháng bố tôi sẽ cố gửi đều lên cho tôi mỗi tháng mười đồng. Thầy Tín nói vậy cũng tạm đủ.
4.
Sáng nào anh Nhu, anh Hoàng cũng dậy sớm để đi làm. Các anh học buổi chiều. Bài vở cho ngày hôm sau, các anh dồn hết vào buổi tối. Sáng sáng các anh đi làm phụ thợ hồ để lấy tiền ăn học. Hầu như gia đình hoàn toàn không phải chu cấp gì cho các anh. Trong một bữa cơm tối, anh Nhu bảo mấy anh cũng chỉ gắng làm thêm trong năm học lớp chín này, cốt sao có đủ tiền ăn và dư ra một ít dành cho năm sau, còn sang năm lớp mười thì phải toàn tâm toàn ý vào việc học để cuối năm còn thi tốt nghiệp phổ thông và thi đại học.
Thằng Nam học lớp sáu. Tôi và Bảo học lớp năm. Cả ba đứa tôi đều học buổi sáng. Nhờ học so le như vậy nên việc phân công nấu nướng, quét dọn… rất thuận tiện. Các anh dậy từ khi chúng tôi còn đang ngủ lăn ngủ lóc. Các anh nấu nướng xong, ăn vội ăn vàng rồi đi làm, cơm canh để phần lại cho chúng tôi ăn sau. Gọi là “để phần” cho sang chứ thực ra bữa cơm của chúng tôi rất đạm bạc, thường chỉ có rau muống hoặc rau cải luộc, đĩa muối riềng hoặc hôm nào sang hơn là muối vừng trộn loáng thoáng ít mảnh lạc. Buổi chiều đến lượt mấy thằng nhóc chúng tôi nấu. Thường buổi chiều bao giờ bữa cơm cũng thú vị hơn vì có mặt đông đủ mấy anh em chứ thức ăn thì cũng không có gì hơn buổi sáng.
Ăn uống kham khổ, ở chật chội, đèn đóm tù mù, nói chung mọi thứ đều kém xa Hà Nội nhưng tôi thấy thanh thản vô cùng. Lớp tôi là lớp năm A, do cô Kim làm chủ nhiệm. Cô biết khá rõ hoàn cảnh gia đình tôi. Các anh chị tôi trước đây cũng đều là những học sinh có một số mặt nổi bật trong nhà trường. Tôi thường nghe mọi người, cả các anh chị học sinh những lớp lớn và một số thầy giáo ca ngợi chị Trọng, chị cả của tôi là một cán bộ hiệu đoàn học sinh rất năng nổ, dễ chan hòa, có sức cuốn hút lớn đối với mọi người, được cả trường yêu quý. Uy tín của các anh chị tôi rất thuận lợi cho tôi. Thêm nữa, tôi học vào loại giỏi, mặt mũi lại sáng sủa, dáng thư sinh hiền lành nên được các thầy cô và bạn bè có cảm tình. Đặc biệt, thầy Luyến dạy môn văn rất yêu quý tôi. Những bài luận tôi làm, hầu như bài nào thầy cũng cho 5 điểm, điểm cao nhất, và thầy đem ra đọc cho cả lớp nghe. Chính tôi nhiều khi cũng tự thấy thầy khen tôi quá mức, thầy quá yêu tôi nên hơi thiên vị, nhưng tôi vô cùng biết ơn thầy. Có lẽ thầy là người đầu tiên khuyến khích tôi, cổ vũ tôi một cách nhiệt thành để tôi mạnh dạn bước những bước đầu tiên đi vào con đường văn học.
Chính những tình cảm yêu thương của các thầy cô giáo và bạn bè đã làm cho tôi mỗi ngày một gắn bó hơn với cái tập thể nhỏ bé của mấy anh em tôi.
Đặc biệt, tôi rất thích thằng Bảo. Nó là một thằng sống đầy tình cảm. Nhà nó ở nông thôn. Mẹ và mấy anh chị đều làm ruộng. Bố nó làm cán bộ ở Ty giáo dục nên cho nó lên đây trọ học. Nó lớn hơn tôi một tuổi nhưng to con, da ngăm đen, tay chân săn chắc. Nó luôn tự nhận nó là anh tôi. Hễ có đứa nào va chạm với tôi chút xíu, nó liền nhảy bổ đến sừng sộ: “Có chuyện gì đấy? Đứa nào động đến em tao đấy?”. Đi đâu nó cũng đi cùng tôi. Tôi thì mảnh dẻ, trắng trẻo, có phần nhút nhát. Còn nó thì đậm chắc, da bánh mật, bước đi huỳnh huỵch, ăn nói bặm trợn. Có người nói đùa nó là vệ sĩ của tôi, nó không bực tức, trái lại còn hoa chân múa tay, đi mấy đường quyền, tỏ ra rất đắc ý.
Bảo thường hay kể chuyện về quê nó. Cứ theo lời nó kể thì quê nó phải đẹp vào loại nhất nhì thế giới. Đầu làng có hồ sen rộng đến hàng mấy mẫu. Mùa sen nở, suốt đêm dân làng đắm mình trong hương sen thơm. Trước khi vào làng phải qua một bãi hoang, có nhiều gò đống và những bụi dứa dại. Đó là giang sơn riêng biệt của lũ trẻ chăn trâu. Đặc biệt, trên một gò cao có một mỏm đá bị chém làm đôi, hai nửa vẫn còn nằm cạnh nhau, mảnh lớn có một lỗ sâu hun hút, đổ bao nhiêu nước xuống cũng không đầy. Tục truyền rằng từ xa xưa, đấy là nơi trú ngụ của một đàn gà mẹ con bằng vàng ròng. Đêm đêm, vào những giờ khắc yên tĩnh, vắng lặng nhất, từ trong hang, gà mẹ dẫn bầy con vàng óng, lung linh kỳ ảo túc tục túc tục vây quanh. Hào quang bao phủ quanh chúng sáng rực cả xung quanh. Vào những lúc như thế, bọn trẻ trong làng rủ nhau chạy ra xem. Phải tuyệt đối im lặng, không được cười nói, không được gây ra tiếng động. Phải đứng nấp từ xa, nín thở ngắm nhìn đàn gà nhởn nhơ dạo chơi. Đang yên đang lành, dân làng đang tự hào vì quê mình có một diễm phúc như thế, chợt một lão phù thuỷ ở đâu xuất hiện. Lão muốn bắt đàn gà vàng. Một đêm kia, lão phục sẵn gần mỏm đá. Chờ cho đàn gà mẹ con dẫn nhau ra thật xa, lão mới một tay cầm chiếc túi lớn, miệng túi mở toang hoác sẵn, tay kia cầm thanh kiếm sắc, rượt đuổi đàn gà. Đàn gà chạy tán loạn, lão cố hết sức mà không lùa bắt được con nào. Cuối cùng, gà mẹ dẫn bầy gà con quay vòng trở lại, chạy tuốt vào hang. Cả một luồng ánh sáng vàng rực hun hút hun hút tuồn vào hang tối. Lão phù thuỷ tức điên, lồng lộn vung kiếm chém theo nhưng không kịp. Lưỡi kiếm tóe lửa. Mỏm đá bị xẻ làm đôi, dấu tích còn mãi đến tận bây giờ…
Thằng Bảo còn kể nhiều chuyện thú vị khác làm tôi mê mẩn. Nó rủ tôi hôm nào được nghỉ học hai, ba ngày, hai đứa sẽ về quê nó chơi. Tôi cũng náo nức muốn tận mắt nhìn thấy làng quê của nó. Và biết đâu duyên may lại đến với tôi, tôi được gặp lại đàn gà vàng kỳ lạ.
Thấy tôi có vẻ thích thú lắng nghe những chuyện làng quê của nó, thằng Bảo càng phổng mũi, hăng hái kể cho tôi nghe nhiều chuyện hơn. Có thể nói nó có cả một kho những chuyện về quê nó, về sự tích ngọn núi này, chiếc đầm nọ, cánh đồng kia. Đặc biệt chuyện về ma thì vô thiên lủng. Nhiều chuyện làm cho tôi sợ nhưng vẫn thấy hiếu kỳ muốn nghe. Nó bảo thời bây giờ tân tiến, ma bỏ đi đâu hết chứ thời trước ma nhan nhản. Mẹ nó đã gặp ma nhiều lần. Ma hay nhát mẹ nó, trêu chọc mẹ nó cho vui. Có lần mẹ nó đi bắt cua, gần hết buổi chẳng được con nào. Trời chiều, đến quãng đồng gần bãi tha ma, bỗng nhiên cua ở đâu bò ra lổm ngổm khắp bờ ruộng. Mẹ nó chỉ việc nhanh tay chộp lấy. Nhoáng cái đã được đầy một giỏ. Về nhà, hớn hở đổ cua ra chiếc ang thì trời ơi, toàn sỏi là sỏi. Ông ngoại nó bực lắm, biết là ma nhát mẹ nó, liền cho đống sỏi đó lên chảo rang. Thế là tiếng kêu oai oái vang khắp nhà. Ma không chịu được lửa nóng, cuống quýt lạy như tế sao, van xin tha tội chết… Lại một lần khác, giữa đêm mưa gió đùng đùng, cả nhà nó nằm yên trên giường, mấy người lớn lầm rầm cầu khấn mong sao mưa bão nhanh chóng qua đi. Bỗng thấy hàng loạt sỏi đá ném tới tấp vào cánh cửa. Cửa vẫn đóng kín mà chẳng hiểu sao sỏi đá vẫn lọt được vào trong nhà. Ông ngoại thằng Bảo mới đốt lửa lên, vứt hết sỏi đá vào lửa. Tiếng van xin thảm thiết đến rợn người. Thì ra bọn ma thấy mưa gió lớn, muốn rủ nhau vào nhà tránh rét. Sáng hôm sau lại tuyệt nhiên chẳng thấy đám sỏi đá ấy đâu nữa. Những chuyện nó kể chẳng biết thực hư thế nào. Tôi nghi là nó nghe kể lại những chuyện xửa chuyện xưa, nhưng để tăng tính thuyết phục, làm cho tôi phải tin hoàn toàn, nó đã gán cho mẹ nó, ông ngoại nó từng tham dự vào các sự việc đó. Nghĩ vậy, nhưng tôi vẫn không cưỡng nổi lòng ham muốn nghe nó kể. Càng nghe, tôi càng thèm có được một vùng quê như nó quá. Bảo đã được sống ở quê suốt cả thời thơ ấu nên nó có nhiều kỷ niệm về quê mình. Còn tôi, xa quê từ lúc lên bốn, lên năm tuổi, tôi nhớ rất ít hình ảnh về quê gốc của mình. Quê tôi ở thị xã Hải Dương. Giờ nhớ lại chỉ thấy thấp thoáng những kỷ niệm rời rạc, không rõ nét, lúc hư, lúc thực, tất cả như ẩn hiện qua một lớp sương mù lúc đậm lúc nhạt. Nhưng đặc biệt có một hình ảnh rõ nhất mà tôi còn hình dung ra được là ngôi nhà của bố mẹ tôi. Đó là một ngôi biệt thự khá lớn. Phía trước có cổng sắt, có tường xây lửng, phía trên là hàng song sắt màu xanh lá cây, có giàn ăngtigôn bò lan quấn quýt với những chùm hoa li ti màu hồng phấn loáng thoáng đung đưa gợi một vẻ gì rất quý phái. Sau cổng là một khu vườn rộng. Chính giữa vườn, một bồn hoa lớn hình tròn, có bờ cỏ tóc tiên với những bông hoa hình loa kèn nhỏ xíu màu hồng nhạt viền quanh, ôm lấy một gốc đào lâu năm to bằng bắp chân người lớn, thân xù xì mốc mác, nổi u nổi bướu, phía trên tỏa ra nhiều nhánh cành cong queo phơ phất vài chùm lá thưa thớt, trông có vẻ cằn cỗi khô xác đã hết nhựa sống, nhưng cứ gần đến Tết là cây đào thay đổi hoàn toàn. Như có một phép màu diệu kỳ, cây đào như hồi sinh trở lại sau suốt một năm mơ màng ngủ dưỡng sức. Vừa có hơi xuân, những nụ đào mập mạp tròn căng lập tức nhú ra từ những nách lá, lớn nhanh như thổi, rồi bung ra thành những bông hoa màu hồng phấn đầy kiêu sa làm sáng rực cả khu vườn. Vòm cây không còn một chiếc lá, hồng rực lên từng chùm từng chùm hoa cánh mỏng manh phập phồng run rẩy, ngỡ như chúng có thể đồng loạt bay lên bất cứ lúc nào, khi có một làn gió nhẹ thoảng qua… Hai bên bồn hoa là hai con đường lớn trải sỏi cuội thoai thoải cao dần lên dẫn đến tiền sảnh ngôi nhà. Nền nhà cao vượt hẳn lên. Nhà có nhiều phòng, có hành lang rộng bao quanh. Phía sau tòa nhà chính là một dãy nhà phụ thấp nhỏ hơn. Bên phải ngôi nhà có bể nước chứa nước mưa dự trữ. Kế đó là một cây ngọc lan lớn và một giàn hoa móng rồng. Phía trước ngôi nhà, bên tay trái, sát lối đi là một cây hoàng lan rất lớn. Thân cây lực lưỡng đen thẫm nhưng những cành phụ lại mảnh dẻ, thướt tha luôn đung đưa xào xạc trong gió với những cụm lá dày xanh mướt xen kẽ những bông hoa cánh dài vàng tươi. Có những buổi mấy chị em tôi hò hét đuổi theo nhau chạy vòng quanh cây hoàng lan nhặt hoa rơi. Cứ sau mỗi trận gió, từ trên cao lả tả rụng xuống những bông hoa chín vàng. Chúng tôi dang tay đón bắt, miệng hò reo, những đôi chân cuống quýt vấp ngã và những khuôn mặt đỏ bừng nhễ nhại mồ hôi đầy phấn khích. Hai chị tôi đem ngâm những bông hoa vào âu nước, bảo rằng chỉ một lát sau chúng sẽ biến thành thứ nước hoa hảo hạng mà người lớn thường dùng. Hai chị tôi thi nhau vốc từng vốc “nước hoa” tự tạo vã lên mặt, bôi lên tóc, tấm tắc khen nước hoa sao mà thơm đến thế. Tôi chúi đầu vào âu nước lã cố hít lấy hít để nhưng chẳng thấy mùi vị gì ngoài cái mùi ngai ngái nhàn nhạt. Nhưng trước sự ca tụng nồng nhiệt của hai chị, và nhất là trước sự hăm hở vốc nước vã lên đầu lên tóc, thi nhau trang điểm của hai chị, tôi sinh ra hoang mang, hoài nghi về khiếu thẩm định mùi vị của mình. Chẳng biết mùi vị thực hư ra sao, chỉ thấy thứ nước hoa quý giá đó có nguy cơ sắp cạn kiệt vì sự chi dùng quá hào phóng của hai chị, tôi cũng lăn xả vào, nhúng cả hai tay vào âu, vốc nước vã lên mặt, xoa lên cổ, lên ngực, ướt đẫm cả hai vạt áo. Lần đó, tôi bị ốm nhưng sợ không dám nói. Toàn thân tôi nóng ran, có lúc lại rùng mình ớn lạnh. Trong cơn nửa mê nửa tỉnh, tôi chợt nhận ra mùi hoàng lan dịu ngọt quấn quýt quanh mình. Lúc này tôi mới thấy “nước hoa” của hai chị tôi thơm thật là thơm. Mãi sau tôi mới biết mùi thơm bao bọc quanh tôi ấy chính là tỏa ra từ một bông hoàng lan đã vô tình rơi vào túi áo ngực của tôi trong lúc tôi lon ton chạy vòng quanh gốc cây để đón bắt những bông hoa thả xuống từ trên cao…
Về quê chính Hải Dương, tôi chỉ nhớ nhất chuyện ấy và cái buổi sáng cuối cùng gia đình tôi từ giã quê nhà đi tản cư mà sau này có dịp tôi sẽ kể lại. Tôi không có được nhiều kỷ niệm như thằng Bảo.
Ngoài thằng Bảo, người tôi đặc biệt yêu quý là anh Nhu. Anh là bạn học cùng lớp với hai chị tôi từ năm 1952, khi còn đang kháng chiến chống Pháp. Trường Ngô Sĩ Liên của chúng tôi là một trong số ba bốn trường trung học có tiếng trong thời kháng chiến. Quê anh Nhu ở Gia Lương, Bắc Ninh lúc đó nằm trong vùng địch tạm chiếm đóng. Anh trốn nhà ra vùng tự do, lên Yên Thế học. Tôi biết anh từ hồi đó, rất mến anh, nhưng anh học trung học, tôi học cấp I trường làng, không mấy lúc được gần nhau. Tôi chưa được ở trọ cùng một nhà với anh như hiện nay. Tính anh hiền hòa, điềm tĩnh, rất dễ gần. Do quen biết các anh chị tôi nên anh đối với tôi có phần thân tình hơn đối với những bạn khác. Tiền nong, tôi giao hết cho anh giữ hộ. Cần đóng góp gì, anh đều tự động đóng thay tôi. Anh quan tâm đến tôi từ việc học hành, ăn ở, đến cả việc ngủ nghê, tắm rửa. Anh thực sự là một người anh ruột thịt của tôi. Chính nhờ có anh mà tôi rất yên tâm khi phải sống xa nhà. Tôi mau chóng hòa nhập được vào cuộc sống mới, khác khá nhiều so với cuộc sống của gia đình tôi lâu nay.
5.
Cả trường tôi rộ lên vì sự kiện thầy Tín mượn ở đâu đó được quyển Thép đã tôi của nhà văn Nga Nicôlai Astơrốpski, hình như do Thép Mới dịch. Có lẽ là một bản dịch đã giản lược, chỉ dày khoảng hơn hai trăm trang, chứ chưa phải là tác phẩm Thép đã tôi thế đấy dịch hoàn chỉnh sau này. Cuốn sách được chuyền tay nhau đọc, được đem ra thảo luận ở các buổi sinh hoạt Đoàn, sinh hoạt lớp. Không khí vô cùng náo nức. Cuộc đời đầy sóng gió và hừng hực nhiệt huyết cách mạng của nhân vật chính Paven Coócsaghin không những hấp dẫn đối với các anh chị lớn mà còn cuốn hút ngay cả bọn nhỏ chúng tôi. Đâu đâu cũng bàn tán về Paven. Hình ảnh những năm tháng nội chiến ở nước Nga mênh mông với từng từng lớp lớp người ra trận, mặt mũi ai nấy đều dầu dãi gió sương, râu tóc bơ phờ nhưng những đôi mắt thì rực lửa. Những đoàn kỵ binh đỏ hăng hái xung trận, áo choàng phần phật tung bay, mũ chùm kín đầu, lấp lánh ngôi sao đỏ, miệng gào thét “hua ra!”, tay vung kiếm ào ào xông tới… Trong hoàng hôn đỏ bầm như máu, những đoàn tàu chở quân ra tiền tuyến lặng lẽ mà quyết liệt. Trên những va-gông không mái che, những người lính mặt hốc hác xạm đen khói súng nửa nằm nửa ngồi, tay ôm súng, mắt đau đáu nhìn chân trời mù mịt khói lửa. Họ cùng cất tiếng hát trầm hùng đầy bi tráng… Những cảnh ấy tôi thấy trong phim ảnh, rồi qua óc tưởng tượng mơ màng, cứ lung linh mãi lên, đẹp một cách kỳ ảo.
Phải khó khăn lắm, cuốn sách mới quay vòng đến được tay tôi. Tôi mê mải chép ngày chép đêm, mất hơn một tuần lễ thì xong. Ai cũng kinh ngạc vì sự kiên trì của tôi. Thằng Bảo cũng học theo, mua quyển sổ thật dày để chép, nhưng chỉ được mấy trang, nó đã lè lưỡi, bỏ cuộc. Tiếp theo truyện Thép đã tôi, cả trường lại xôn xao lên một đợt nữa. Trước hàng mấy trăm học sinh toàn trường, thầy Hùng, một thầy giáo trẻ, đầy tâm huyết, người đã từng đem lại cho chúng tôi những tiết học sôi nổi, hào hứng, đã gieo vào lòng chúng tôi chất lý tưởng cao cả, bây giờ vừa nghẹn ngào vừa đọc Vượt Côn Đảo. Tất cả ngồi im phăng phắc lắng nghe như nuốt từng lời. Những nghĩa địa Hàng Dương, cầu Ma Thiên Lãnh, rồi chuyến vượt biển quả cảm… Cứ nhớ mãi cái chi tiết giữa biển khơi, trong đêm tối mịt mù bỗng vang lên tiếng quốc ca không biết là hư hay thực…
Suốt đêm, mấy anh em tôi bàn luận về Thép đã tôi, về Vượt Côn Đảo quanh bếp lửa bập bùng. Vừa nướng mấy củ khoai mà tôi và thằng Bảo mót được mấy hôm trước, khi ra ngoài ruộng tưới rau giúp bà cụ Muộn, vừa trò chuyện rôm rả. Thằng Bảo cứ xuýt xoa tiếc mãi là không còn dịp để đi chiến đấu thật ác liệt nữa. Phải chiến đấu vào sống ra chết kia! Chứ không phải đi bộ đội nghĩa vụ trong thời bình. Nhìn ngọn lửa lúc bùng lên, lúc lịm đi trong than hồng, nó mơ màng:
- Mấy năm kháng chiến, mình lại còn nhỏ quá. Bây giờ thì chẳng còn được ra trận đánh giặc nữa, chán thật! Cái anh Paven thế mà sướng! Suốt ngày ngả rạp trên lưng con chiến mã phi như bay, tha hồ vung gươm, tha hồ “hua ra!” gào thét!
Anh Nhu an ủi nó:
- Cố gắng học đi. Sau này biết đâu còn khối dịp.
Giọng nó buồn xo:
- Hòa bình rồi, lấy đâu ra mà khối dịp? Sinh sau đẻ muộn, thiệt thòi thật.
Thằng Nam bỏ dở mẩu khoai, mắt sáng lên:
- Còn khối dịp thật ấy chứ! Miền Nam còn trong tay Mỹ - Diệm đấy thôi. Chắc gì đã được hòa bình mãi…
Thằng Bảo gân cổ cãi:
- Chắc chứ sao không chắc? Bây giờ thằng Tây nào còn dám đụng đến mình nữa?
- Thôi thôi, xin hai ông tướng! - Anh Nhu xua tay can. - Mới tý tuổi đầu mà nói chuyện chính trị như hai ông cụ non.
Cả hai thằng đều phá lên cười. Thằng Bảo lại tiếp tục:
- Học xong phổ thông, tao sẽ thi vào trường Đại học Mỏ địa chất. Đúng là có trường ấy, phải không anh Nhu? Tha hồ lên rừng, xuống biển. Tha hồ đi đến những nơi khó khăn gian khổ nhất. Tao sẽ lặn lội suối sâu, vượt đèo núi cao, một mình lang thang trong rừng già hàng năm trời. Tao sẽ phát hiện ra những vỉa quặng lớn nhất nước. Nơi này mỏ vàng. Nơi kia mỏ sắt. Nơi kia nữa mỏ kim cương. Cứ gọi là thỏa sức mà khai thác nhé! Còn mày, mày thích gì hở Nam?
- Tao thích lái tàu…
- Tàu thủy hay tàu bay?
- Tàu nào cũng khoái. Tha hồ vi vu. Tàu thủy thì lênh đênh trên biển hàng tháng trời, thấy cảng nào đẹp cứ việc rẽ vào, chơi chán lại nhổ neo. Tàu hỏa cũng vậy. Nghe nói rồi đây tuyến đường sắt Hà Nội - Mục Nam Quan sẽ kéo dài ra mãi, sang Trung Quốc, Liên Xô, đến tận Đông Đức nữa kia! - Rồi nó nằm ngửa ra, đầu gối lên đùi anh Hoàng, rung cặp chân khẳng khiu, khe khẽ hát: Ngàn trùng xa khôn ngăn anh em kết đoàn - Biên giới sâu khôn ngăn mối dây thâm tình…
Bất giác, không ai bảo ai, mấy anh em cùng cất tiếng hát theo. Hát nhỏ thôi, nhưng đầy xúc động. Bếp lửa chốc chốc lại bùng lên, hắt bóng mấy anh em chập chờn trên vách. Bên ngoài trời tối đen, gió xào xạc luồn lách qua mấy hàng tre. Thỉnh thoảng tiếng tre vặn mình kẽo kẹt càng làm tăng thêm vẻ tĩnh lặng huyền bí của bóng đêm. Bảo ngồi nhỏm dậy, giật tay anh Nhu:
- Còn anh, anh sẽ làm gì sau này?
Anh Nhu cười mủm mỉm, trả lời sau một lát suy nghĩ:
- Anh muốn thi vào Đại học Nông nghiệp. Tốt nghiệp kỹ sư, anh sẽ xin về nông thôn công tác. Anh sẽ nghiên cứu các giống lúa, làm sao tạo được nhiều giống lúa mới, cho năng suất cao gấp năm, gấp mười lần bây giờ để cho nước mình mau giàu, dân mình mau thoát khỏi cảnh đói nghèo. Nước mình là nước nông nghiệp, phải bắt đầu đi lên từ nông nghiệp…
Thằng Bảo cười to:
- Đó! Đó! Anh cũng lý luận hay lắm đấy chứ! Nếu vậy, em cũng sẽ đi vào nông nghiệp như anh.
- Thế còn điạ chất để cho ai?
- Ờ, ờ… Thôi được, nông nghiệp để phần anh. Em đi ngành điạ chất hay hơn. Thế còn anh Hoàng?
Anh Hoàng từ nãy vẫn ngồi trong góc khuất, giờ nghe câu hỏi mới hơi chồm người ra, ánh lửa chỉ soi rõ nửa khuôn mặt. Anh cười ngượng nghịu:
- Anh sẽ theo ngành y.
Miệng Bảo lại tía lia:
- Lúc ấy anh em mình sẽ chẳng còn lo gì bệnh tật nữa, anh nhỉ. Hơi nhức đầu xổ mũi, ới một tiếng là có mặt anh Hoàng liền!
Anh Nhu cốc vào đầu thằng Bảo:
- Chỉ được cái lém lỉnh!
Rồi quay sang tôi, anh cúi xuống hỏi nhỏ:
- Còn chú mày? Chú mày thích ngành gì nhất?
- Nó sẽ viết văn! Dứt khoát nó sẽ trở thành nhà văn! - Bảo nhanh nhẩu trả lời thay tôi. - Anh không thấy sao? Nó vẫn lén lút viết đấy. Bài luận nào của nó cũng được năm điểm, được thầy Luyến khen hết lời!
Anh Nhu cười hiền lành, giọng nhỏ nhẹ:
- Ừ, viết văn cũng tốt lắm. Nhưng cực đấy em ạ. Phải sống từng trải, có kiến thức rộng, lại còn phải có năng khiếu nữa. Mấy hôm nay bọn anh đang học về nhà văn Mácxim Gorki…
Đúng là mấy hôm vừa rồi lớp anh học về Mácxim Gorki. Nghe anh Nhu và anh Hoàng đọc đi đọc lại tiểu sử của nhà văn, tôi nhập tâm rồi thuộc lòng. Nên khi anh Nhu hỏi:
- Em có biết ông nhà văn ấy là người nước nào không?
Tôi đọc luôn:
- Nhà văn lớn người Nga Mácxim Gorki tên thật là Alécxây Pêscốp, sinh năm 1868 ở thành phố Nigiơni Nôvôgơrốt, nay là thành phố Gorki và mất năm 1936 ở Mạc Tư Khoa. Bút danh Gorki có nghĩa là “Cay đắng”. Ông là tác giả của những tác phẩm nổi tiếng như: Người mẹ, Cuộc đời Clim Xăngghin, Sự nghiệp gia đình Áctamônốp, Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi…
Hai anh cùng tròn xoe mắt nhìn tôi. Anh Nhu ngạc nhiên:
- Sao? Sao em biết được những điều đó?
- Em nghe các anh học…
- Trời đất! - Anh Nhu vỗ vai tôi thật mạnh. - Thế mà anh ê a suốt mấy ngày không thuộc.
Được khen, tôi mạnh dạn hơn, khoe:
- Em còn thuộc cả Ilya Êrenbua nữa. Em rất thích mấy đoạn nói về lòng yêu nước.
- Em đọc ở đâu?
- Cũng nghe các anh học, sau đó em xem lại ở trong sách giáo khoa của các anh.
- Đâu, đọc thử coi.
Tôi đọc làu làu:
- Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật bình thường nhất: yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu dãy phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị hương chua mát của trái lê mùa thu hay mùi cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh.
Dòng suối đổ vào sông. Con sông đổ ra dải trường giang Vonga. Con sông Vonga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc…
Thú quá, anh Nhu ôm chầm lấy tôi, dằn đầu tôi xuống, đấm vào lưng tôi thùm thụp. Anh Hoàng cũng không giấu nổi sự “thán phục”. Thằng Bảo thì dúi vào tay tôi nửa củ khoai nướng cháy cạnh nó vừa lấy trong bếp ra, coi như một phần thưởng đặc biệt.
Thời gian đó sách còn ít, nhưng có mấy quyển hút hồn tôi, làm tôi mê mải đọc, đó là Dế mèn phiêu lưu ký và Cỏ dại của Tô Hoài (bản in trước cách mạng, trên giấy bản thủ công), Tâm hồn cao thượng của Etmông đơ Amixi (bản dịch của Hà Mai Anh), Sống nhờ của Mạnh Phú Tư, Thời thơ ấu của Nguyên Hồng, Vichia Malêép ở nhà và ở trường của Nicôlai Nôxốp (bản dịch của Khu học xá Trung ương), Chiến sĩ Matơrôxốp của Duốcba do Tú Cầu dịch. Tôi nhớ từng chi tiết nhỏ, từng đoạn văn hay. Chẳng hạn cuốn Chiến sĩ Matơrôxốp, thực ra chỉ là một cuốn truyện bình thường, viết về người anh hùng trẻ tuổi lấy thân mình bịt lỗ châu mai của Liên Xô, nhưng có sức hút kỳ lạ đối với tôi. Có lẽ cuộc đời của chú bé mồ côi đầy bất hạnh nhưng cũng rất lãng mạn ấy đã làm tôi say mê. Gần năm mươi năm qua rồi, cuốn sách ấy bây giờ chắc rất khó tìm, tôi vẫn nhớ y nguyên tên của các nhân vật: Matơrôxốp, Saikha, thầy giáo Clápxức, trợ giáo Rivôvích… Và huyền thoại “Vì sao cây anh túc nở hoa đỏ” với hình ảnh cuối cùng: “Roi sắt đánh cho mình mẩy trong trắng của Đancô đến thịt nát xương tan vẫn dũng cảm thẳng tiến, hiên ngang, ưỡn ngực, ngửng đầu…”. Câu văn hơi sáo nhưng không hiểu sao cứ bám riết vào trí nhớ của tôi suốt bao nhiêu năm nay. Có lẽ bởi hình tượng người anh hùng mà tôi ngưỡng mộ…
Cũng trong khoảng thời gian cuối năm 1956 ấy, một tin vui đến với chúng tôi: Thư viện của tỉnh Bắc Giang bắt đầu được thành lập. Tôi hớn hở chạy đến xem. Nhưng thật không may, chỉ học sinh cấp ba trở lên mới được cấp thẻ. Tôi nài nỉ thế nào, cô phụ trách thư viện cũng không linh động cấp thẻ cho tôi. Tuy không có thẻ nhưng không chiều nào tôi không đến thư viện. Tôi ngồi ngoài hành lang, nhờ mấy anh lớn cho tôi đọc ké sách báo. Các anh cũng phải khôn khéo lắm, giấu không cho cô thủ thư biết. Cũng may cả thư viện cũng chỉ có một mình cô thủ thư, bận tíu tít ở trong phòng nên không có điều kiện ra ngoài để phát hiện ra tôi. Nhưng rồi cuối cùng cô cũng biết. Thấy tôi ngồi trong một góc khuất ngốn ngấu đọc, cô cũng lờ đi, bỏ qua. Dần dà, tôi làm quen được với cô. Tên cô là Uyên, em gái nhà văn Kim Lân, tác giả của truyện Làng và Anh chàng hiệp sĩ gỗ mà tôi rất thích. Các buổi sáng chủ nhật, tôi đến thư viện rất sớm, ngồi chờ cô ở cổng. Cô vừa đến, tôi đã nhanh nhẹn giúp cô quét dọn xung quanh nhà, lau chùi bàn ghế, sắp xếp lại sách báo… Tôi giúp cô làm sổ sách, ghi ký hiệu các tác phẩm, dán lại các trang sách hư cũ. Thấy tôi nhanh nhẹn, cần cù, việc gì cũng vui vẻ làm, cô Uyên dần “mủi lòng”, đặc cách cấp cho tôi một chiếc thẻ, không những được quyền đọc tại chỗ, mà còn được mượn về nhà nữa. Tuy có thẻ rồi, tôi vẫn ngày ngày ra thư viện giúp cô làm đủ mọi việc lặt vặt. Tôi tranh thủ đọc được không biết bao nhiêu là sách. Sách hay cạn dần. Tôi đọc cả những cuốn sách tầm tầm của các tác giả ít có tên tuổi. Nghe anh Nhu giảng giải muốn viết văn, muốn trở thành nhà văn, phải có trình độ nhạy bén, tôi cũng tìm đọc cả những quyển sách chính trị dày cộp, nào là Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, nào là Chống Đuyrinh, nào là Những vấn đề của chủ nghĩa Mác, nào là Bàn về mâu thuẫn… Hiểu rất lơ mơ nhưng tôi vẫn gắng đọc.
Dần dà, số sách trong thư viện không thỏa mãn được tôi. Tôi thường xuyên ra hiệu sách nhân dân, xem có sách gì mới lập tức chạy về báo cho cô Uyên biết. Tôi sướng đến run rẩy cả người khi lần đầu tiên trông thấy quyển Những người khốn khổ của Victor Huygo được xuất bản một cách hoàn chỉnh. Trước đây, tôi đã được đọc bản Những kẻ khốn nạn do Nguyễn Văn Vĩnh dịch. Bản dịch lần này đầy đủ hơn, văn chương mới hơn. Mới chỉ tập một mà đã dày cộp. Tôi chạy như bay về báo cho cô Uyên, nài nỉ cô đưa tiền để tôi đi mua ngay giúp cô. Sắp hết giờ làm việc, cô cho phép tôi đi mua sách, mang về tranh thủ đọc rồi sáng mai đem đến trả cô sớm. Tôi mừng đến run hết cả người. Ngay đêm đó, tôi ngốn ngấu đọc hết tập một. Rạng sáng, đọc xong rồi mà tôi vẫn còn ngơ ngẩn thèm thuồng. Ước gì có ngay tập hai, tập ba… để tôi đọc liền một mạch. Hình ảnh Giăng Vangiăng, Phăngtin, Côdét, Gavơrôt cứ lừng lững đi lại, nói năng, buồn vui, đau khổ ngay trước mặt tôi kia. Tâm hồn tôi đẹp thêm lên biết bao nhiêu nhờ những trang sách chứa chan lòng yêu thương…
Nguồn: Trần Hoài Dương Truyện chọn lọc. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.
|