tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21047685
17.12.2010
Tư liệu sưu tầm
Về Vị tướng anh hùng huyền thoại Nguyễn Bình

Tên thật là Nguyễn Phương Thảo, sinh năm 1908  tại thôn An Phú, xã Tịnh Tiến (nay là xã Giai Phạm), huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. [1]


Thời trẻ, ông đi Hải Phòng làm thủy thủ trên tàu viễn dương chạy tuyến Việt Nam - Pháp.


Được Trần Huy Liệu vận động, ông tham gia cách mạng, gia nhập Việt Nam Quốc dân đảng, phụ trách quân sự. Sau thất bại của khởi nghĩa Yên Bái, lực lượng Việt Nam Quốc dân đảng bị phân hóa. Cả Trần Huy Liệu và Nguyễn Phương Thảo đều bị thực dân Pháp bắt giam và đày đi Côn Đảo. Do tư tưởng thiên tả, 2 người bị nhóm cực hữu trong đảng kết án tử hình nhưng đều may mắn thoát nạn. Riêng Nguyễn Phương Thảo bị đâm mù một mắt.


Năm 1936, ông được trả tự do, về Hải Phòng hoạt động cách mạng và xây dựng căn cứ riêng. Cũng trong thời gian này, ông đổi tên thành Nguyễn Bình, với ý nghĩa "Bình thiên hạ", chính thức ly khai Việt Nam Quốc dân đảng. Từ năm 1943, ảnh hưởng của Nguyễn Bình từ Bần Yên Nhân, tỉnh Hưng Yên mở rộng sang vùng Kiến An, Hải Phòng, đến An Lão, Hải An, Thủy Nguyên, tỉnh lị Kiến An và thị xã Đồ Sơn.


Tháng 6 năm 1945, Nguyễn Bình thành lập chiến khu Đông Triều và đảm nhận nhiệm vụ tư lệnh. Khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra, ông chỉ huy du kích đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên và cướp vũ khí ở một số huyện.


Khi thực dân Pháp đánh chiếm rộng ra toàn Nam Bộ, Nguyễn Bình được Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh cử vào Nam lo việc thống nhất các lực lượng vũ trang. Tháng 12 năm 1945 ông được cử làm Khu trưởng Khu 7 Nam Bộ, lập tổng hành dinh ở Làng An (Biên Hòa), sau bị địch truy quét nên chuyển về xã An Phú (Gia Định) rồi xã An Thành, phía nam Bến Cát. Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Bình, tình trạng cát cứ dần giảm bớt, các quân phiệt cát cứ bị giải tán và hạn chế, các đơn vị bộ đội được phiên chế thống nhất thành các chi đội Vệ quốc đoàn. Ông còn lập các ban Công tác thành làm nhiệm vụ phá hoại sau lưng địch. Năm 1946 ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.


Ngày 20 tháng 1 năm 1948, ông được Chính phủ phong quân hàm Trung tướng và cử làm tổng chỉ huy chiến trường Nam Bộ. Cùng đợt có Võ Nguyên Giáp được phong Đại tướng, Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng. Lễ thụ phong Trung tướng được tổ chức tháng 7 năm 1948 tại làng Nhơn Hòa Lập trên con kênh Dương Văn Dương, Đồng Tháp.


Khi Bộ tư lệnh Nam Bộ được thành lập vào tháng 10 năm 1948, ông làm Tư lệnh. Ông còn là Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, Ủy viên quân sự Nam Bộ.


Ngày 29 tháng 9 năm 1951, theo yêu cầu của Trung ương, ông lên đường ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Trên đường đi, ông bị quân Pháp phục kích và hi sinh tại xã Srê Dốc, huyện Sê San, tỉnh Xtung Treng, trên đất Campuchia. Người chỉ huy lực lượng bảo vệ ông khi ấy là cán bộ cấp tiểu đoàn Nguyễn Văn Sĩ, nay là thiếu tướng nghỉ hưu tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 2 năm 1952, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh 84/SL truy tặng ông Huân chương Quân công hạng nhất. Ông cũng là người đầu tiên trong quân đội được nhận Huân chương cao quý này.


Ngày 29 tháng 2 năm 2000, Bộ Tư lệnh quân khu 7 đã di chuyển hài cốt của ông về an táng tại nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh. Tang lễ được cử hành theo nghi thức long trọng. Ông còn được nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


 


Nhận định


Trung tướng Nguyễn Bình là người chỉ huy mưu lược, quyết đoán và dũng cảm, giữ kỷ luật nghiêm minh, lập nhiều chiến công xuất sắc ở những nơi nguy hiểm vào những thời điểm khó khăn nhất. Ông có công trong việc thống nhất lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ và xây dựng Ban công tác thành (biệt động) Sài Gòn.


Sau khi ông qua đời, nhiều sách báo đã viết về ông như một hiện tượng đặc biệt về tài năng quân sự những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.


Tuy nhiên ở đây cũng phải nói đến mối quan hệ giữa tài năng của Nguyễn Bình và sự tinh tế, mạnh dạn trong cách dùng người của Hồ Chí Minh. Một vị chỉ huy như Nguyễn Bình, sau cách mạng xứng đáng được đứng vào hàng ngũ những người cộng sản mà sao phải đợi đến năm 1946. Chắc hẳn không phải Nguyễn Bình là người duy nhất trong số rất ít những người có khả năng đảm đương vai trò của ông vào thời điểm những buổi đầu của Nam Bộ kháng chiến mà Bác chỉ tin tưởng giao phó cho ông ‘’Bác giao Nam Bộ cho chú!’’. Tất nhiên có rất nhiều lí do, nhưng ta có thể kể đến những lí do có tính chiến lược như: với tình trạng của Nam Bộ thời kì đầu của Nam Bộ kháng chiến, thì việc một người ngoài Đảng cộng sản sẽ có tiếng nói mạnh mẽ hơn đối với đông đảo đồng bào Nam Bộ vốn thời kì đó trong tình trạng ‘’cát cứ phân tranh’’ với nhiều màu sắc chính trị, đảng phái, tôn giáo… Mặc khác, vì là người ngoài Đảng cho nên ông sẽ ít bị mật thám Pháp để ý hơn. Thực tế lúc bấy giờ, quân Pháp không biết gì nhiều về ông. Quân Pháp tập trung vào việc tìm hiểu, điều tra các ông Trần Văn Giàu – Trưởng ban kháng chiến Nam Bộ, rồi ông Phạm Ngọc Thạch… mà ít chú ý đến tướng Nguyễn Bình, trong khi chính ông mặc dù chỉ là Ủy viên quân sự nhưng thực tế là người thiết kế, tổ chức kháng chiến.


“Thảo có can đảm, vũ dũng hơn người và trung hậu với bạn, trung thành với đoàn thể. Trước Cách mạng Tháng Tám, Thảo lập chiến khu Đông Triều một cách tự động...” (Nhà sử học Trần Huy Liệu)


Sử gia người Pháp chuyên về Đông Dương P.Sê-nút đã viết về “Nguyễn Bình - ông tướng một mắt”. Các sử gia người Pháp tặng Nguyễn Bình biệt danh “Lưu Bá Thừa của Việt Nam” - Lưu Bá Thừa là tướng “độc nhãn long” nổi tiếng chuyên về tiến hành chiến tranh du kích của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Sê-nút ngợi ca Nguyễn Bình là “Lưu Bá Thừa của Việt Nam” đã ngã xuống cho Nam Bộ đứng lên.


wikipedia


 


Sang đất Ăngco, tìm trung tướng Nguyễn Bình


...Tay chuyền nhau từng phần hài cốt của người đồng đội, người chỉ huy kính mến, các thành viên trong đoàn đều rất xúc động nhưng cũng vui mừng tột độ. Thế là công việc "mò kim đáy biển" đã được hoàn thành sớm hơn hạn định. Mọi nỗ lực của chúng ta đã được đền đáp...


Nắm bắt thời cơ


Nguyễn Bình tên thật là Nguyễn Phương Thảo, sinh năm 1908 tại thôn An Phú, xã Tịnh Tiến (nay là xã Giai Phạm), huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, nguyên Chỉ huy trưởng chiến khu Đông Triều trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945, nguyên Tư lệnh Khu 7 rồi Tư lệnh Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông được kết nạp Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1946.


Tháng 1/1948, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong Trung tướng. Ông là Trung tướng đầu tiên trong 11 vị tướng lĩnh của QĐND Việt Nam.


Trên đường ra Bắc báo cáo tình hình Nam Bộ với Trung ương, ông đã bị địch phục kích và hy sinh ngày 29/9/1951 tại xã Srê Dốc, huyện Sê San, tỉnh Xtrung Treng, Đông Bắc Campuchia. Gần nửa thế kỷ sau (tính đến ngày tìm được hài cốt), phần mộ của ông đã được đồng bào Mơ Nông vùng này gìn giữ.


Từ lâu, chúng ta cũng nghĩ đến việc đi tìm mộ Trung tướng Nguyễn Bình để đưa ông về Tổ quốc nhưng điều kiện chủ quan, khách quan chưa cho phép.


Mãi tới những năm cuối của thế kỷ XX, khi lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia đã làm chủ hầu như toàn bộ đất nước thì tình hình Campuchia mới ổn định. Lúc này, quan hệ Việt Nam - Campuchia tốt đẹp hơn bao giờ hết.


Vậy là thời cơ đã đến, tuy hơi muộn nhưng còn hơn không. Chúng ta có dịp bàn bạc trao đổi với bạn về việc Campuchia giúp đỡ Việt Nam trong việc tìm mộ Trung tướng Nguyễn Bình. Đề nghị này của ta được phía bạn hoan nghênh và hứa tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp Việt Nam làm việc này có kết quả.


Theo Quyết định số 52-QĐQP ngày 21/1/2000, đoàn công tác đặc biệt của Bộ Quốc phòng nước ta đi tìm hài cốt cố Trung tướng Nguyễn Bình gồm 14 người do Đại tá Đỗ Minh Nguyệt, Trưởng phòng của Cục Chính sách - Tổng cục Chính trị làm Trưởng đoàn.


Giúp việc cho đoàn còn có 3 cán bộ Quân đội đã nghỉ hưu nhưng rất nhiệt tình.


Đó là Đại tá Trần Bá Hào, nguyên Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu, người đã từng chiến đấu bên cạnh Trung tướng Nguyễn Bình, có công thu thập cứ liệu từ nhiều nguồn tin cậy, rồi tác nghiệp lên bản đồ để xác định tọa độ sẽ triển khai việc tìm kiếm.


Đó là đồng chí Lư Ngọc Quế - cựu chiến binh quân tình nguyện Việt Nam tại Đông Bắc Campuchia, đã có lần tiếp cận với ngôi mộ 49 năm về trước.


Đó là Thiếu tướng Phùng Đình ấm (Ba Cung), người mà tháng 9-1951 nhận nhiệm vụ đi đón đoàn của cố Trung tướng Nguyễn Bình từ Nam Bộ hành quân ra Việt Bắc, tuy không gặp được nhưng đã nghe và hiểu tường tận sự việc dẫn đến trường hợp hy sinh của vị tướng huyền thoại mình hằng mến mộ. Ông Ba Cung còn thạo tiếng nói, phong tục của vùng này.


Tham gia đoàn còn có ông Nguyễn Thế Trường, cháu gọi Trung tướng Nguyễn Bình bằng chú ruột.


 


Ấm tình bè bạn


Trung tướng Nguyễn Bình ngã xuống trên lãnh thổ Campuchia, lúc chôn cất lại được bà con địa phương nước bạn giúp đỡ. Nay ta muốn tìm phần mộ, nhất thiết phải qua con đường ngoại giao, nhờ bạn giúp đỡ ta ngay từ đầu và suốt quá trình tìm kiếm.


17h30' ngày 24/2/2000, đoàn công tác của ta đến sân bay Pô Chen Tông được Thiếu tướng Mắt Chia La, Phó tham mưu trưởng Lục quân Hoàng gia Campuchia đón tiếp chu đáo.


10h30' ngày 25/2/2000, tại sân bay Xtrung Treng, Thiếu tướng Khăm Chanh, Phó Tư lệnh Quân khu 1 trực tiếp đón đoàn.


Qua câu chuyện trao đổi trên đường từ sân bay về Sở Chỉ huy Quân khu, ngài Thiếu tướng cho đoàn biết là phạm vi địa bàn mà đoàn ta chấm tọa độ trên bản đồ để tìm mộ ông Nguyễn Bình hiện nay thuộc xã Srê Dốc, huyện Sê San, cách tỉnh lị Xtrung Treng khoảng 60km đường chim bay.


Ở đó có 3 phum: phum Kpal Rô Mia (thôn Đầu tê giác), phum Pré Phơ ết (thôn Phật dựa) và phum Rom Pé (thôn phía Tây). Nhân dân xã này hầu hết là người Mơ Nông, chỉ có vài gia đình người Khơme gốc Lào. Xã Srê Dốc là chỗ dựa của Tiểu đoàn 421, Trung đoàn 42 trực thuộc Quân khu 1. Địa bàn của xã này rất rộng nhưng dân chúng vẫn tập trung đông nhất tại thôn Đầu tê giác. Ta có thể dựa vào dân phum này để tìm mộ Trung tướng.


Ở Quân khu 1, đoàn được Trung tướng Thao Cung - Tư lệnh Quân khu cùng các cơ quan trong Quân khu đón tiếp và chăm sóc nhiệt tình từ bữa ăn, nơi ngủ đến phương tiện đi lại rất chu đáo.


Trong buổi làm việc đầu tiên tại Sở Chỉ huy Quân khu 1, sau khi nghe ý kiến của phía đoàn Việt Nam trình bày, đề nghị rồi trao đổi qua lại, Trung tướng Thao Cung đã phân công Thiếu tướng Khăm Chanh - Phó Tư lệnh Quân khu chịu trách nhiệm trực tiếp tổ chức và cùng đi giúp đoàn ta cho đến lúc xong nhiệm vụ.


Sáng 26/2/2000, mọi việc chuẩn bị đã hoàn tất. Hai xe vận tải quân sự đưa đoàn tìm kiếm gồm các thành viên Việt Nam và Campuchia xuất phát từ Sở Chỉ huy Quân khu 1 vượt đoạn đường dài 3 tiếng đồng hồ để đến Sở Chỉ huy của Tiểu đoàn 421 đóng tại phía Bắc cầu Srê Dốc.


Xe dừng bánh, Thiếu tướng Khăm Chanh gặp, giao nhiệm vụ cho vị Đại úy Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 421 cấp tốc đi xe jeep đến phum Kpal Rô Mia mời Chủ tịch xã Srê Dốc, Trưởng phum Kpal Rô Mia và các vị bô lão trong xã về đây họp mặt tại Sở Chỉ huy Tiểu đoàn. Xe đi rồi, cả bạn và ta đều nóng lòng chờ đợi. Đoạn đường từ đây tới phum Kpal Rô Mia chỉ có 13km mà xe đi đã 5 tiếng đồng hồ chưa thấy về.


Thiếu tướng Mắt Chia La lẩm bẩm: "Mình trông họ về như con nít mong mẹ về chợ".


Rồi việc gì phải đến đã đến. Sau tiếng còi ôtô, chiếc xe con từ đầu cầu Srê Dốc chạy về đỗ xịch trước Sở Chỉ huy Tiểu đoàn. Từ trên xe, vị Tiểu đoàn trưởng bước vội xuống vừa chạy vừa la to: "Đã gặp được người mà hồi đó vừa khiêng, vừa chôn Trung tướng!". Cả đoàn ồ lên sung sướng, mặt mày rạng rỡ


Lòng dân


Hai vị bô lão được người chỉ huy Tiểu đoàn 421 chạy lại mở cửa xe mời xuống đến gặp hai vị tướng Campuchia và các thành viên trong đoàn Việt Nam đang ngồi đợi họ trong nhà. Một bô lão chừng hơn bảy mươi tuổi, mái tóc xoăn đang ngả màu bạc, hai vành tai rộng - đặc điểm của người Mơ Nông, chắp hai tay vái chào các vị khách và tự giới thiệu rất rành mạch, tự nhiên:


- Thưa các ông, tôi lên là Nhoi Sa Rô, hiện là Trưởng phum Kpal Rô Mia, còn người này - ông chỉ tay sang bạn - là Rom Chưm, Phó Chủ tịch thứ ba của xã Srê Dốc nhưng cũng là người cùng phum với tôi…


Qua gợi ý của Đại tá Trưởng đoàn Việt Nam, ông già Nhoi Sa Rô lần lượt kể lại câu chuyện dài 49 năm về trước, cái năm mà Trung tướng Ba Bình đi qua đến phum Kpal Rô Mia nghỉ lại, lúc đó ông 24 tuổi, đang làm Đội trưởng dân quân. Giọng khúc chiết, ông kể:


- Bộ đội Việt Nam đến ở phum này hai đêm. Không biết tên ông chỉ huy, cấp gì, nhưng theo thói quen đồng bào chúng tôi gọi là "Lục Thum" (tức ông lớn). Gọi ông là "Lục Thum" vì thấy ông chỉ huy to con lắm nom như Tây.


Tôi cho Lục biết ở đây thường có bọn lính commăngđô (biệt kích) thỉnh thoảng vẫn vào phum bắt heo, gà, Lục phải chú ý đề phòng. Vậy mà không ngờ tai họa lại đến với Lục.


Sáng hôm sau, bất thình lình bọn commăngđô từ trên bốt đến phum sục sạo. Chúng phát hiện Lục đang ở ngoài chòi. Chúng bao vây nổ súng và Lục đã bị trúng đạn chết ngay trong chòi canh ruộng. Hôm đó lại đúng ngày tôi làm giao liên dẫn đường cho ông Vàng và 15 anh em bộ đội Việt Nam khác từ làng SrayCô đến đón đồng đội ở sông Sê Công, tới khi trở về thì sự việc không may đã xảy ra. Tôi rất đau lòng thương tiếc Lục.


Ngay tối hôm đó, tôi với Rom Chưm và một số người cùng phum đã cùng một số anh bộ đội Việt Nam khiêng xác Lục đi khoảng 6km rồi dùng thuyền vượt sông sang bờ Nam sông Srê Dốc để mai táng.


Tội nghiệp, Lục người cao to, nặng lắm, hỏng bên mắt trái, có 3-4 cái răng bịt vàng, lúc chết còn trẻ chỉ tầm bốn mươi tuổi. Để chôn cất, tôi phải đốt liên tục nhiều bó đuốc bằng nứa khô để soi sáng cho bộ đội Việt Nam đào huyệt. Huyệt sâu đến ngực, khi chôn xong đã quá nửa đêm.


Lúc đó đang mùa mưa, nước sông dâng cao. Tôi phải tìm vạt đất ven rừng mà nước không thể lên tới được để chôn Lục. Nghe anh em Việt Nam nói lúc đó vào cuối tháng 9/1951. Sau đó, bộ đội Việt Nam rút đi đâu không rõ. Vài ngày sau, ông Vàng cùng anh em đi theo đến đắp mộ của Lục thật cao rồi lâu lâu sau không biết đã lấy xác Lục đi chưa. Nếu chưa lấy mang đi thì chắc chắn Lục vẫn còn nằm đó.


Ngôi mộ của Lục nằm gần con đường lên xuống bến sông nên hằng ngày bà con đi về nói vẫn thấy còn nguyên. Biết đây là mộ của một chỉ huy cao cấp Việt Nam nên bà con quý lắm, năm nào cũng tới phát dọn cây cối xung quanh, không để chúng mọc lấp thành rừng…


Ông già Nhoi Sa Rô nói một thôi dài không nghỉ. Như vậy, sự việc đã sáng tỏ. Mọi người nghe xong đều mừng lắm. Thiếu tướng Khăm Chanh điện báo về Sở Chỉ huy Quân khu là tình hình đã đạt kết quả đến 80%. Nhận được điện, Trung tướng Thao Cung và cả Sở Chỉ huy cũng reo vui.


Đêm đó, hai vị bô lão phum Kpal Rô Mia ngủ lại với đoàn để mai cùng đoàn đi sớm. Mọi người đều không ngờ rằng kết quả bước đầu lại mỹ mãn đến vậy. Nếu không có quân và dân nước bạn giúp đỡ thì liệu với kế hoạch 3 ngày luồn rừng chiếu hướng đi tìm mộ theo tọa độ trên bản đồ thì có đạt được kết quả thế này không?


Sáng 27/2/2000, trên đường đến mộ do hai vị bô lão hướng dẫn, đoàn đi ngang qua phum Kpal Rô Mia, bà con chạy ùa ra đón như đón người thân đi xa lâu ngày trở về. Đồng bào Mơ Nông vùng này có khá nhiều người biết tiếng Việt. Ai cũng nói to: "Tìm cái mộ ông "Lục Thum" đó, dễ lắm mà!…".


Ngôi mộ của Trung tướng Nguyễn Bình tọa lạc trên một vạt rừng thưa cách bờ Nam sông Srê Dốc chừng 70-80m. Nấm mồ hãy còn đây, mưa rừng gió núi chưa đủ sức bào mòn vì trên mồ vẫn còn lớp cỏ dày bám rễ vào đất và đúng như lời ông già Nhoi Sa Rô nói, xung quanh mộ không có cây to nào xâm lấn; chỉ lơ thơ vài cây nhỏ mọc lúp xúp, đường kính chỉ to bằng ngón tay cái.


Khi đào sâu xuống cách mặt bằng của đất chừng một mét thì hài cốt đồng chí Nguyễn Bình đã được tìm thấy. Mặc dù đã qua 49 năm, bộ xương vẫn còn gần như nguyên vẹn, kể cả con mắt giả làm bằng thủy tinh và 4 chiếc răng vàng.


Tay chuyền nhau từng phần hài cốt của người đồng đội, người chỉ huy kính mến, các thành viên trong đoàn đều rất xúc động nhưng cũng vui mừng tột độ. Thế là công việc "mò kim đáy biển" đã được hoàn thành sớm hơn hạn định. Mọi nỗ lực của chúng ta đã được đền đáp.


Cả hai vị tướng của Campuchia đã tay cuốc, tay xẻng cùng tham gia lao động với đoàn. Thật là một nghĩa cử cao đẹp.


Đoàn công tác đã rước hài cốt Trung tướng liệt sỹ Nguyễn Bình, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân về đến sân bay Tân Sơn Nhất lúc 15h30' ngày 29/2/2000 trong nghi thức đón tiếp trang nghiêm của Bộ Tư lệnh Quân khu 7 và TP Hồ Chí Minh.


(Theo lời kể của Đại tá Đỗ Minh Nguyệt - Trưởng đoàn công tác đặc biệt của Bộ Quốc phòng)


 


  Thế Trường


cand.com.vn


 


Trung tướng Nguyễn Bình: Những trang nhật ký cuối cùng


Ngày 29-9-2008 là kỷ niệm 100 năm ngày sinh của vị trung tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hội Cựu chiến binh TPHCM và nhiều nhân sĩ lão thành, tướng lĩnh quân đội đã có buổi tọa đàm xung quanh sự hy sinh của Trung tướng Nguyễn Bình.


 


Những ngày ở Nam bộ


Cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 giành thắng lợi to lớn đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-9-1945). Tuy nhiên ngay sau đó, thực dân Pháp bắt đầu chiếm lại miền Nam với mưu đồ đặt ách thống trị lên đất nước ta một lần nữa.


 


Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vào năm 2003 đã xác nhận: “Chính tôi, theo chỉ thị của Bác, đã trực tiếp nói chuyện với đồng chí Nguyễn Bình (lúc này là Khu trưởng Chiến khu Duyên hải Bắc bộ, nay là QK3) và chuyển lệnh nhận nhiệm vụ vào miền Nam công tác. Đồng chí phấn khởi và khẩn trương lên đường vào miền Nam và đã có những cống hiến quan trọng trong nhiệm vụ mới”.


Lúc này, giặc Pháp đang mở rộng chiến tranh; các lực lượng vũ trang (LLVT) kháng Pháp có dấu hiệu bị tan rã và phân hóa, một số bộ phận còn trở thành thổ phỉ, cơ hội cát cứ. Ngay sau khi vào đến Thủ Dầu Một (Bình Dương), Nguyễn Bình đã triệu tập “Hội nghị quân sự Nam bộ” bàn việc thống nhất lực lượng, phân chia khu vực hoạt động của các LLVT, các đơn vị bộ đội tự phát đánh giặc.


Tuy chưa ngăn chặn được nạn cát cứ nhưng hội nghị cũng đã thống nhất được nhiều lực lượng (quan trọng nhất là bộ đội Bình Xuyên) và bầu Nguyễn Bình là Tư lệnh Giải phóng quân Nam bộ. Nếu tính thời điểm Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến Nam bộ Trần Văn Giàu phát lệnh “Nam bộ kháng chiến” (23-9-1945) thì từ chỗ 8.000 quân tự vệ Sài Gòn, đến năm 1949, LLVT của ta ở Nam bộ đã hình thành 3 thứ quân: chủ lực, địa phương và dân quân du kích với hàng vạn người…


Bằng sự quả cảm, quyết đoán và tính cách dễ thu phục lòng người, Nguyễn Bình đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong hàm trung tướng đầu tiên của quân đội ta. Tiếp sau đó vào năm 1949, Trung tướng Nguyễn Bình được giao nhiệm vụ Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam bộ. Cần biết rằng trước khi vào Nam bộ, Nguyễn Bình chưa phải là đảng viên cộng sản. Trước đó, ông có thời gian tham gia Quốc dân đảng và bị đày ra Côn Đảo. Chính tại đây, ông đã giác ngộ đường lối của Đảng Cộng sản.


 


Nhật ký trước lúc hy sinh


Tháng 6-1951, nhận được lệnh triệu tập ra Trung ương, Nguyễn Bình khởi hành từ Tân Uyên với 22 bảo vệ đi vòng qua đất bạn Campuchia để ra Bắc. Ông viết: Đi từ Sốcky đến Suối Đá, rồi từ Suối Đá đi Tà Nốt, tôi đành phải nằm trên xe bò vì bệnh ngày càng nặng. Bác sĩ ở Cao Miên nói phải tạm nghỉ trong 2 tháng nếu không muốn quỵ dọc đường. Tôi nghĩ nếu dừng hai tháng, rồi đến mùa mưa thêm 3 tháng, sau đó đi 6 tháng nữa mới ra tới trung ương thì không thể được. Một năm không hoạt động gì trong khi cuộc kháng chiến đang diễn ra ác liệt… không, tôi kiên quyết ra đi.


Ngày 20-9 tại Kompong Chàm, chú Bốn vào rừng săn được một con khỉ lớn. Theo kinh nghiệm của người dân địa phương, anh em lấy bộ não và hai tinh hoàn của con khỉ nấu cho tôi ăn. Thật kỳ lạ, bệnh gần như khỏi hẳn!


…80% đoàn bị bệnh, bốn chiếc xe bò cũng không chở hết. Gạo đã gần hết. Từ một tháng nay mỗi ngày tôi chỉ ăn chút xíu đủ để đứng vững. Tôi đã ăn măng thay cơm… Đang đi thì một xe bò bị gãy trục, theo dân địa phương là một điềm rất xấu.


Ngày 21-9, tất cả đều bệnh. Tôi vào bếp nấu cơm cho cả đoàn. Hai trinh sát viên đi liên lạc có thể đã bị bắt và các đồng chí ở Nackor đã không hay biết gì về chúng tôi.


Ngày 23, tôi quyết định phái tổ trinh sát vượt sông Serepok, đi vòng để tránh gặp địch. Ngày 24, cả đoàn không còn gì ăn nữa. Tôi quyết định vào sóc mua một con bê nhưng thổ dân ở đây từ chối, chỉ bán một con bò cái. Đến khi làm thịt, mới biết nó đang có chửa.


Ngày 25, 26, 27, anh em câu vài con cá. Không có mỡ, không có gia vị nên chỉ đem nấu canh me.


Ngày 29, đêm qua tôi trằn trọc suốt đêm không ngủ được. Sáng tôi cho người đi mua sắn cũng không được. Hôm nay tôi và một số anh em khác sẽ nhịn ăn để nhường gạo cho những người ốm…


Trưa ngày 29-9-1951, Trung tướng Nguyễn Bình hy sinh, quyển nhật ký kết thúc!


 


Đôi điều...


Cách đây 12 năm, ngày 28-9-1996, Báo SGGP có đăng bài viết của Thiếu tướng Phùng Đình Ấm, nguyên Phó Tư lệnh Mặt trận 479, Phó đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Campuchia, ông trăn trở: “Nên đặt tên Nguyễn Bình cho một con đường ở TPHCM và phải tìm cho được hài cốt Trung tướng Nguyễn Bình như để trả nghĩa với ông”.


 


Một chiều tháng 2-2000, già làng Kpal Rô Mía, xã Srepok, huyện Se Sai, tỉnh Stung Treng, Campuchia cho biết: Năm 1951 ông từng chôn cất “lục thum” (ông lớn), ông nhớ rõ vì “lục thum” có bốn cái răng vàng và bị hư con mắt bên trái. Trung tướng Phùng Đình Ấm và đoàn tìm kiếm hài cốt Việt Nam reo mừng và đi dọc bờ sông Serepok khoảng 1 km thì tìm được mộ.


Điều cảm động là dù đã gần nửa thế kỷ nhưng ngôi mộ chỉ bị xói mòn thấp đi một ít trong khi cây cối xung quanh không hề phủ lấp chứng tỏ người dân địa phương đã chăm sóc ngôi mộ của “lục thum” rất đàng hoàng. Những vị tướng lĩnh, dân làng Kpal Rô Mía và các sĩ quan Quân đội hoàng gia Campuchia tham gia cuộc tìm kiếm ngót nửa thế kỷ đều xúc động rơi nước mắt.


Như ước vọng của Thiếu tướng Phùng Đình Ấm, hiện nay TPHCM đã có một con đường mang tên Nguyễn Bình kéo dài từ xã Phú Xuân đến xã Nhơn Đức của huyện Nhà Bè. Hài cốt của vị trung tướng lẫy lừng đã được an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ TPHCM.


 


Minh Anh (tổng hợp)


sggp.org.vn


 


Ái quốc, ái dân, bình thiên hạ


Nguyễn Bình là một người cộng sản kiên trung, một tướng lĩnh quả cảm, nghĩa hiệp, giàu đức hy sinh, lòng dũng cảm và tài thao lược. Đó là đánh giá của nhiều đại biểu tham dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh (1908-2008) và 60 năm ngày thụ phong Trung tướng - anh hùng liệt sĩ Nguyễn Bình, nguyên Khu bộ trưởng Khu 7, nguyên Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam Bộ


 


Năm 1924, khi vừa tròn 16 tuổi, cũng như bao người dân khác không cam chịu thân phận làm nô lệ, chàng trai Nguyễn Phương Thảo (tên thật của Trung tướng Nguyễn Bình, quê ở Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên), đã tham gia những hoạt động chống lại ách đô hộ của thực dân và bị truy lùng phải trốn vào Sài Gòn hoạt động. Từng tham gia Quốc Dân Đảng yêu nước do Nguyễn Thái Học lãnh đạo, nhưng những ngày ở trong lao tù đế quốc, được những người cộng sản giác ngộ, Nguyễn Bình tự nguyện đi theo con đường của Đảng Cộng sản.


Cách đánh “nở hoa” trong lòng địch


Năm 1942, trốn thoát khỏi nhà tù, Nguyễn Bình tiếp tục hoạt động cách mạng. Từ năm 1943, ông được Trung ương giao phụ trách binh vận và mua sắm vũ khí cho cách mạng ở Hà Nội, Hải Phòng... Thời gian này, phong trào cách mạng bị khủng bố gắt gao, ông phải xây dựng cơ sở từ Bần Yên Nhân (Hưng Yên) rồi mở rộng dần sang các địa phương khác của Hải Phòng. Để thuận tiện cho công tác mua, vận chuyển vũ khí, ông đã mở hãng dầu Phúc Thảo tại Bần Yên Nhân và mua xe ngựa chạy trên tuyến đường số 5 để chở người và hàng hóa cũng là nhằm ngụy trang để chuyên chở vũ khí về cất giấu tại nhà chỉ cách đồn địch vài trăm mét.


Ông rất coi trọng công tác binh vận trong đánh địch. Để chuẩn bị đánh đồn Bần Yên Nhân do một viên sĩ quan Pháp chỉ huy, Nguyễn Bình đã cùng một giáo viên dạy cho con chỉ huy đồn vận động một số binh lính làm cơ sở cho ta. Sau khi Nhật đảo chính Pháp, Nguyễn Bình đã cùng các đồng đội cải trang thành binh lính Nhật tiếp cận mục tiêu.


Nhờ cơ sở cài sẵn bên trong tiếp ứng, quân ta nhanh chóng khống chế khiến địch trở tay không kịp, kết quả thu nhiều vũ khí mà không có ai bị thương vong. Ông Phạm Toan, nguyên là nghĩa quân đệ tứ chiến khu Đông Triều, nhận xét: “Đây chính là chiến thuật đánh “nở hoa” trong lòng địch, rất hiệu quả mà ít thương vong”. Trận đánh này về sau đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá là “trận đánh du kích kiểu mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ”.


Cách đánh “nở hoa” trong lòng địch này còn được tướng Nguyễn Bình sử dụng nhiều lần để tấn công tàu Pháp lấy vũ khí, diệt các đồn Đông Triều, Bí Chợ, tiến công giải phóng thị xã Quảng Yên (tháng 7-1945, tỉnh lỵ duy nhất ở miền Bắc được giải phóng trước tháng 8-1945).


 


Trọn vẹn một lời thề


Ba tuần sau khi nước nhà giành được độc lập, quân Pháp trở lại đánh chiếm Sài Gòn, chiến tranh lan khắp Nam Bộ. Lúc này, nhiều lực lượng vũ trang Nam Bộ tập hợp trong các đội quân của Lê Văn Viễn (Bảy Viễn), Mười Trí, Tám Mạnh, Năm Hà, Tô Ký... Vấn đề cấp bách là phải tập hợp được các lực lượng này để chống lại thực dân Pháp.


Tháng 10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao cho “Thủ lĩnh đệ tứ chiến khu Đông Triều” Nguyễn Bình nhiệm vụ khó khăn này. Trước ngày Nguyễn Bình lên đường thực thi nhiệm vụ, Bác Hồ đã ân cần căn dặn: “Tổ quốc trên hết! Tôi giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Bình ái quốc, ái dân và bình thiên hạ cho an sinh hòa mục”.


Với tư cách là phái viên của Bác Hồ và Trung ương, ngày 22-11-1945, Nguyễn Bình đã tổ chức Hội nghị quân sự tại An Phú Xã (Gia Định) thống nhất các lực lượng vũ trang Nam Bộ và được bầu làm Tư lệnh Giải phóng quân Nam Bộ. Ông thề: “Đem hết tinh thần và nghị lực cùng đồng chí, đồng bào quyết tâm đến cùng đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi Nam Bộ.


Nếu mất Nam Bộ, Nguyễn Bình sẽ tự quyên sinh”. Lời thề này đã được ông thực hiện trọn vẹn đến ngày hy sinh. Cố Thiếu tướng Tô Ký, trong tập Tô Ký tự thuật đã khẳng định: “Nguyễn Bình là một trong những người mà tôi phục nhất”. Năm 1948, Nguyễn Bình đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh phong hàm Trung tướng, vị trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.


Để đào tạo cán bộ quân sự, tướng Nguyễn Bình đã thành lập Trường Quân chính Quân khu 7 tại Thủ Dầu Một (Bình Dương), nay là Trường Quân sự Quân khu 7. Thượng tướng Phan Trung Kiên, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nhận xét: “Đây là một quyết định cực kỳ quan trọng. Từ mái trường này đã cung cấp cho lực lượng vũ trang quân khu 7 cũng như toàn quân hàng vạn cán bộ quân sự, chính trị chuyên môn kỹ thuật...”.


 


Tấm lòng người dân nước bạn


Ngày 29-9-1951, trên đường ra Bắc báo cáo tình hình với Trung ương, tướng Nguyễn Bình đã bị phục kích và hy sinh tại xã Srêpốc, huyện Sê Sai, tỉnh StungTreng, Campuchia. Đó là một cuộc hành trình hết sức vất vả, gian nan, mà tướng Nguyễn Bình đã ghi lại khá đầy đủ trong nhật ký của mình.


Tháng 2-2000, Bộ Quốc phòng nước ta phối hợp với Quân đội Hoàng gia Campuchia tổ chức đoàn đi tìm kiếm hài cốt của tướng Nguyễn Bình. Thiếu tướng Phùng Đình Ấm, nguyên phó đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Campuchia, thành viên đoàn tìm kiếm, kể lại: “Thật may mắn, một cụ già người Campuchia gần 50 năm trước đã chôn cất tướng Nguyễn Bình, hướng dẫn đoàn tìm được ngôi mộ. Điều đáng quý, đối với nhiều người dân Campuchia, họ không biết tướng Nguyễn Bình là ai, chỉ gọi bằng “Lục - thum” (có nghĩa là ông lớn), nhưng hằng năm họ vẫn chăm sóc, phát dọn cây cối quanh ngôi mộ của Lục - thum”.


Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đã khẳng định: “Đồng chí Nguyễn Bình là một người cộng sản kiên trung; một tướng lĩnh quả cảm, nghĩa hiệp, giàu đức hy sinh, lòng dũng cảm và tài thao lược. Công lao và tên tuổi của đồng chí mãi sáng ngời trên đài Tổ quốc ghi công”.


Nam Dương


nld.com.vn


 


Tác phẩm: NGUYỄN BÌNH, Huyền Thoại và Sự Thật


Tác giả: Nguyên Hùng


NXB Văn học, 1995.


Nhớ về “anh Bình”


Bác sĩ Ngô Văn Quỹ


        (Thay lời bạt)


        Trong những ngày đầu kháng chiến chống đội quân viễn chinh Pháp trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai, tình hình ở miền Nam lúc đó thật sức rối ren phức tạp, đến mức nhiều người đã phải gọi đó là một “thời kỳ thập nhị sứ quân”. Tuy mẫu số chung của tất cả là một lòng yêu nước nồng nàn, một ý chí cương quyết vùng lên “đánh Tây, đuổi Nhật” để giành lại độc lập chủ quyền, nhưng có nhiều xu hướng khác nhau, nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhiều điều kiện khác nhau làm cho các lực lượng bị phân tán, chia mỏng, đơn độc, thậm chí có nơi, có lúc còn đối lập với nhau nữa. Tình thế này là hết sức bất lợi trước một kẻ thù đã thiện chiến lại được trang bị vũ khí đầy đủ, nên nguy cơ các lực lượng kháng chiến còn trong trứng nước có thể bị kẻ thù xé nhỏ, tiêu diệt dần dần, là điều khó tránh khỏi.


        Giữa lúc hiểm nghèo nghìn cân treo sợi tóc đó, thì Trung ương cử một đặc phái viên vào: Đó là ông Nguyễn Bình, tên thật là Nguyễn Phương Thảo, lúc đó đang là tư lệnh Đệ Tứ chiến khu ở ngoài Bắc và sau này là Trung tướng đầu tiên ở nước ta. Vừa đặt chân đến chiến trường Miền Nam, với nhãn quan của một vị tướng, đồng thời là một nhà chính trị, ông Bình đã có ngay một chủ định: Đó là trước tiên phải tìm mọi cách tập hợp các lực lượng kháng chiến dưới một sự chỉ huy chung và nhanh chóng tổ chức cuộc kháng chiến toàn lực, toàn diện của toàn dân. Đây là một công việc cực kỳ phục tạp, khó khăn và gian khổ.


        Nhưng biết dựa vào Đảng, vào quần chúng, lấy chính nghĩa thu phục lòng người, ông đã thành công trong sứ mạng lịch sử này, góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến, kìm hãm, đẩy lùi bước chân xâm lược của kẻ thù, phá vỡ ảo tưởng của chúng “có thể chiến thắng một cuộc hành quán như đi diễu binh nhanh chóng bình định được bọn phiến loạn”. Sau này, nhận định về việc Bác Hồ và Trung ương phái ông Nguyễn Bình vào Nam lúc đó, nhiều người đã cho rằng chủ trương này là hết sức sáng suốt và kịp thời, “đúng người, đúng lúc và đúng chỗ” nên đã góp phần thay đổi được cục diện chiến trường có lợi cho ta.


        Ông Bình là một người quả cảm, dám nghĩ dám làm, không lùi bước trước gian nguy. Ông đã mấy lần mạo hiểm cải trang vào Sài Gòn lúc đó đang chiếm đóng bởi quân Anh, Pháp, Nhật và đầy nhóc những mật vụ, chỉ điểm. Chủ định của ông là muốn trực tiếp thị sát hang ổ địch và đặt kế hoạch đánh thẳng vào đầu não kẻ thù. Đánh giá sự kiện ấy, sau này có nhiều người cho đó là nhưng hành động liều lĩnh, mang nhiều tính chất anh hùng cá nhân, mà một vị chỉ huy không nên và không được phép làm. Nhưng nếu đặt sự kiện vào trong tình hình và bối cảnh lịch sử lúc đó, thì lại có thể thấy đấy là một việc làm cần thiết, tuy kết quả cụ thể rất hạn chế, nhưng mang nhiều ý nghĩa và có nhiều tác dụng về các mặt khác.


        Sự kiện ông Binh bị kẻ địch bắt, rồi trong lúc bị chúng giải đi, đã mưu trí dũng cảm, ngay trước mũi súng của quân thù, tự giải thoát được và giải thoát cho người cùng đi, đã gây nhiều xúc động và cảm phục, lay động lòng người.


        Trung tướng Nguyễn Bình là một người có vóc dáng vạm vỡ khỏe mạnh, có khuôn mặt cương nghị, cử chỉ chính xác, thái độ điềm đạm, ít nói, nghe nhiều. Từ ông toát ra một sự tự tin, một sức mạnh nội tâm được kiềm chế, gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đối thoại.


        Những ngày được sống và làm việc bên ông, tôi cảm thấy kính trọng và quý mến ông như một người anh cả trong gia đình. Trong đời thường, cách cư xử của ông hết sức bình dị và chân tình, dễ thu phục được nhân tâm.


        Ngày nay, sau nhiều năm tháng, với tầm lùi của thời gian, lần theo những nẻo đường kháng chiến, để lọng lắng vào ký ức, tôi vẫn nhớ về “Anh Bình”, một người, trong khói lửa chiến tranh, đã dạy tôi những bài học khó quên về lòng yêu nước, về ý trí quyết thắng, về lạc quan cách mạng, về sự yêu đời và yêu con người. Anh mất đi quá sớm, trong khi mới đi được một quãng đường ngắn trong cuộc trường chinh vĩ đại - lớn nhất của thế kỷ này - mà dân tộc ta đã trải qua. Công lao của Anh, tên tuổi của Anh, cũng như hằng hà sa số công lao và tên tuổi vinh quang khác của dân tộc, sẽ vẫn sáng ngời trên đài Tổ quốc ghi công.


        Thành phố Hồ Chí Mình - Ngày 23 tháng 9 năm 1994


        Bác sĩ Ngô Văn Quỹ


 


Nguyễn Bình, huyền thoại và sự thật là truyện dài tư liệu lịch sử hiện đại với những nhân vật và sự kiện có thật trên chiến trường Nam Bộ từ đầu đến cuối cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954).


        Các tư liệu dưới đây được xếp theo thứ tự thời gian chung quanh vấn đề Bẩy Viễn đầu Tây:


        1 - Biên bản hội nghị ngày 25 –3-1948


        Về việc ông Mười Trí được cử đại diện Bình Xuyên trong UBKC-HC thành Sài gòn - Chợ Lớn


        2 - Biên bản hội nghị ngày 26 -5 -1948 để giải quyết vấn đề Khu 7


        3 - Bài nói chuyện của Trung tướng Nguyễn Bình về bộ đội Bình Xuyên ngày 26 -4 -1948


        4 - Tuyên ngôn của chiến sĩ Bình Xuyên về việc Bảy Viền đầu giặc Pháp


        5 - Thanh minh của ông Mười Trí


        6 - Châu Tri của UBKC-HC Nam Bộ ngày 29-6-1948 về việc Bảy Viễn đầu Tây.


        7 - Thông cáo của UBKC-HC Nam Bộ ngày 20-7-1948 về việc Bảy Viễn đầu Tây


        8 - Thư gửi ông Nguyễn Thành Vĩnh số 688-QS của trung tướng Nguyễn Bình


        9 - Thư từ biệt của Trung tướng Nguyễn Bình gửi ông Nguyễn Thành Vĩnh ngày 30-4-1950


        Tác giả xin trân trọng cám ơn Luật sư Nguyễn Thành Vĩnh nguyên là uỷ viên Tài chánh trong Uỷ ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ đã cung cấp tư liệu trên để giúp tác giả hoàn chỉnh bản thảo này.


        Nguyên Hùng


      


 


       Thư Nguyễn Bình


        Trung tướng Nguyễn Bình gửi thư từ biệt ông bạn thân Nguyễn Thành Vĩnh


        Bạn Nguyễn Thành Vĩnh


        Tìm bạn để chào bạn trước khi đi xa mà tiếc không được gặp.


        Trong mấy năm trời trên đường cứu quốc, chúng ta quen nhau, hiệu nhau và kính nể nhau, quý mến nhau.


        Xa bạn tôi không quên được những cử chỉ thanh cao và thành thật của bạn - và cũng không bao giờ quên được ngày đầu tiên gặp bạn tại nhà bạn ở Đa Kao Sài Gòn ngày Nam Bộ điêu linh và gian khổ nhất.


        Hôm nay phải xa bạn, xin chúc bạn đầy sức khỏe và mạnh tiến trên đường giải phóng cho dân tộc và nhân loại khỏi ách tham tàn bóc lột của tư bản đế quốc


        Thân ái siết tay bạn.


        Bình


        Nguyễn Bình


        30-4-1950


        T.B. Không có gì để lại làm kỷ niệm tặng bạn. Xin tặng bạn cuốn album nhỏ kỷ niệm ngày lễ thụ phong của tôi có bạn tham dự.


        Bình


 


 Rút từ truyện tư liệu Nguyễn Bình, huyền thoại và sự thật của Nguyên Hùng. NXB văn học, 1995.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thế kỷ đẫm máu - Stephen Kotkin 07.11.2017
Nhà Lê sơ - Lê sơ triều - Tư liệu sưu tầm 06.11.2017
Đông Kinh Nghĩa Thục: Cuộc cách mạng giáo dục đầu tiên ở VN - Nguyễn Hải Hoành 05.11.2017
Mao, Tập và “Cơn bão tháng Giêng” - Tư liệu sưu tầm 05.11.2017
Vai trò của Stalin trong Chiến tranh Triều Tiên - Nguyễn Hải Hoành 05.11.2017
02/10/1966: Báo Liên Xô đưa tin sĩ quan Nga bị tấn công - Tư liệu sưu tầm 05.11.2017
Đặng Tiểu Bình và quyết định của TQ tiến hành chiến tranh với VN - Tư liệu sưu tầm 04.11.2017
Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 - Tư liệu sưu tầm 04.11.2017
Ngoại tộc giày xéo, cai trị Trung Quốc (2) - Hồ Bạch Thảo 03.11.2017
Dơi, bộ dơi, con dơi - Tư liệu sưu tầm 03.11.2017
xem thêm »