tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21316169
16.12.2010
Nguyễn Nguyên Bẩy
Đọc âm dương ngũ hành

Đọc âm dương là đọc Nhật đọc Nguyệt, đọc Đất đọc Nước, đọc Nam đọc Nữ, đọc Chẵn đọc Lẻ, đọc Buồn đọc Vui, đọc Sáng đọc Tối, đọc Khóc đọc Cười, đọc Cao đọc Thấp, đọc Ngắn đọc Dài, đọc Tròn đọc Vuông, đọc Trên đọc Dưới, đọc Béo đọc Gầy, đọc Vương đọc Hậu, đọc Nhanh đọc Chậm, đọc Trong đọc Ngoài, đọc Hung đọc Ác. . .  đọc vạn vật, muôn loài, muôn sự, đọc gì cũng thấy âm dương, sẽ ngộ ra điều âm dương là hai mặt đối lập trong một thể thống nhất.


 


Người xưa nhìn sóng mà luận âm dương, sóng trào lên, cương cường, phóng thẳng rẽ ra một vạch thẳng, gọi là Dương, sóng bổ xuống, đứt khúc, nhu mềm, lắng xuống,  vẽ ra một vách đứt gọi là Âm. Trong Tử Vi, hành, cung và sao đều theo luật âm dương mà bố trí. Trong bố trí ấy, Nhân xuất hiện ở giữa, có bổn phận chế giải cho âm dương cân bằng, thành thế Thiên - Nhân - Địa.


 


Nhân phải thấu hiểu cái lẽ, từ Phụ và Mẫu hoan phối với nhau sinh ra Tử. Tử dù trai hay gái cũng mang cái gốc của Âm Dương Phụ Mẫu. Nên mới bảo độc dương (hay độc âm) bất thành nhân loại. Âm dương là gốc của nhau, cái này hút cái kia để sinh, để dưỡng, để ngăn, để phá, để luân hồi tồn tại.


 


Lại phải thấu cái lẽ Mặt Trời về chiều và Mặt Trăng về sáng. Mặt Trời về chiều thì Mặt Trăng bắt đầu sáng. Mặt Trăng về sáng là lúc Mặt Trời lên. Ở Người là cái lẽ sinh ra, lớn lên, rồi già, rồi chết, rồi lại sinh ra, lại lớn lên. Kinh dịch luận rằng đó là cái lẽ Âm Dương tiêu, trưởng, cường, nhược. Đây là một qui luật tự nhiên.


 


Thay đổi qui luật tự nhiên là điều không thể. Nhưng nương theo qui luật để tránh hung, tạo cát là điều có thể, văn vẻ bảo rằng đó là Tu Thân. Có thể hiểu tu thân theo cách diễn giải : Chớ thấy vận đời đang là đêm mà quá u buồn, bởi đêm đang đi về sáng. Chớ thấy vận đời đang giữa trưa mà vội mừng, bởi ngày đang sầm sập về chiều. Nhân định ở chỗ, đang đêm thì phải rất nhanh ra sáng và đang trưa phải chầm chậm về chiều. Nhanh và chậm chính là đức tu thân.


 


Đối lập nhưng là nguồn gốc của nhau, Tiêu Trưởng nhưng có năng lực Chuyển Hóa, đó là hai phẩm chất căn bản của Âm Dương, cũng là hai luận cứ dự đoán trên mọi phương diện Tử Vi.


 


ĐỌC NGŨ HÀNH


Đọc Đạo là đọc Nhất, đọc một chân lý, một quy luật. Âm Dương là đọc Lưỡng Nghi,  đọc đàn ông, đàn bà. Đọc Thiên Nhân Địa là đọc Tam Cương, đọc Phước Lộc Thọ.  Tiếp sau Tam Cương là Tứ Tượng (Tiền Tước, Hậu Vũ, Tả Long, Hữu Hổ), Tứ Linh (Long, Phượng, Hổ, Cái), Tứ Văn (Hỏa, Linh, Kình, Tấu), Tứ Phương (Đông, Tây, Nam,  Bắc). Thêm Phương trung tâm, Đông Tây Nam Bắc, là Ngũ.


 


Đọc Ngũ trong Kinh Dịch là đọc Ngũ Hành. Phương Đông thuộc Mộc, phương Nam thuộc Hỏa, phương Tây thuộc Kim, phương Bắc thuộc Thủy, phương Trung Tâm thuộc Thổ. Triết Học Phương Đông cho rằng ngũ hành là vật chất cơ bản nhất để tạo nên vũ trụ. Tử Vi thiết lập lá số trên lý thuyết sinh khắc của năm hành này, Nhân chế giải mã dự đoán.


 


ĐẶC TÍNH NGŨ HÀNH


Mộc gọi là Nhân. Chủ về sinh sôi, nuôi dưỡng và tự trọng. Hình dài thẳng. Mầu xanh lá cây. Ấm. Nắm lệnh các tháng Giêng, Hai và 12 nghày đầu tháng Ba. Can là Giáp Ất. Chi là Dần Mão. Là phương chính Đông. Là con trai trưởng. Là cung Gia Đình. Là cửa Chấn. Là số 4 Tiên Thiên, là số 3 Hậu Thiên. Gốc Mộc số 3, số 8.


 


Hỏa gọi là Lễ. Chủ về thành tích. Hình nhọn hướng lên. Mầu sắc đỏ tía. Nóng. Nắm lệnh tháng Tư, Năm và 12 ngày đấu tháng Sáu. Can là Bính Đinh. Chi là Tỵ, Ngọ. Là phương chính Nam. Là con gái thứ. Là cung Danh tiếng. Là cửa Ly. Là số 3 Tiên Thiên, là số 9 Hậu Thiên. Gốc Hỏa là số 2, số 7.


 


Thổ gọi là Tín. Chủ sinh tồn, sinh lý. Hình vuông, thấp. Mầu vàng thổ. Ẩm. Nắm lệnh 18 ngày cuối các tháng Ba, Sáu, Chín, Mười Hai. Can là Mậu, Kỷ. Chi là Thìn, Tuất,  Sửu, Mùi. Là phương trung tâm. Ra Hậu Thiên số 2 là Mẹ, số 8 là con trai út. Là cửa Sinh, cửa Tử. Là cung Hôn Nhân, cung Trí thức. Là thạp gạo. Là số 2, số 5, số 8 Bát Quái. Gốc thổ là số 5, số 10.


 


Kim gọi là Nghĩa. Chủ về an toàn. Hình tròn. Mát. Mầu xám trắng. Nắm lệnh tháng Bảy, tháng Tám và 12 ngày đầu tháng Chín. Can là Canh, Tân. Chi là Thân, Dậu. Là phương chính Tây. Là con gái út. Là cung Tử Tức. Là cửa Đoài. Tiên Thiên là số 2, Hậu Thiên là số 7. Gốc Kim là số 4, số 9.


 


Thủy gọi là Trí. Chủ về giao tiếp. Hình sóng, hướng xuống. Mầu xanh đen. Hàn lạnh. Nắm lệnh tháng Mười, tháng Mười Một và 12 ngày đầu tháng 12. Can là Nhâm, Quí. Chi là Hợi, Tý. Là phương chính Bắc. Là con trai thứ. Là cung Sự Nghiệp. Là cửa Khảm. Tiên Thiên là số 6, Hậu Thiên là số 1. Gốc Thủy là số 1, số 6.


 


NGŨ HÀNH SINH KHẮC


Ngũ Hành tương sinh: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.


 


Ngũ Hành tương khắc: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.


 


Tương Sinh có sinh nhập và sinh xuất. Mộc sinh Hỏa thì Mộc là sinh xuất và Hỏa là sinh nhập. Sinh xuất mang ý nghĩa vất vả, vị tha. Sinh nhập mang ý nghĩa thụ hưởng,  vị kỷ. Tương Khắc có Khắc Xuất, Khắc nhập. Mộc khắc Thổ thì Mộc là khắc xuất và Thổ là khắc nhập. Khắc xuất mang ý nghĩa chế ngự, tu thân. Khắc nhập mang ý nghĩa xấu hãm lẩn tránh. Dù sinh hay khắc, đều nên chế giải bình hòa.


 


NGŨ HÀNH PHẢN NGƯỢC


Tương Sinh là tốt, nhưng tương sinh dư, thừa không còn là tương sinh nữa, mà thành tương diệt. Thủy sinh Mộc, nhưng nếu Thủy nhiều thì Mộc bị trôi dạt. Mộc sinh Hỏa, Mộc nhiều thì Hỏa tối. Hỏa sinh Thổ, Hỏa nhiều thì Thổ bị đốt cháy. Thổ sinh Kim, Thổ nhiều thì bị Kim vùi lấp. Kim sinh Thủy, Thủy nhiều Kim bị chìm.


 


Tương Khắc theo chiều thuận vượng khắc suy, cường khắc nhược, tuy nhiên có khi khắc ngược, suy khắc vượng, nhược khắc cường. Mộc khắc Thổ, nhưng Thổ vượng thì Mộc suy. Thổ khắc Thủy, nhưng Thủy cường thì đê vỡ. Thủy khắc Hỏa, nhưng Hỏa vượng thì Thủy bốc hơi Hỏa khắc Kim, nhưng Kim mạnh thì Hỏa tắt. Kim khắc Mộc, nhưng Mộc vượng thì Kim gãy.


 


LUẬN THEO DỊCH CỔ


LUẬN MỘC: Mộc tháng Giêng còn hàn Thủy, Mộc mới nhú mầm, nên dưỡng. Tháng Hai đã được Hỏa làm cho ấm áp, không lo bệnh tật, lại được Thủy làm cho tươi nhuận nên đẹp đẽ, sáng láng. Nhưng Thủy nhiều thì Mộc ẩm ướt, Thủy thiếu thì Mộc khô gầy, nên Thủy Hỏa phải vừa mới tốt. Tháng Ba, Mộc lâm Xuân Thổ. Thổ nhiều thì Mộc tán, Thổ mỏng thì Mộc hoan. Nếu trong Thổ có Kim thì cần Hỏa cứu. Nhưng Mộc vượng gặp Kim lại mừng.


 


Mộc vào Hạ, tháng Tư, rễ cành đều khô ráo, từ cong biến thành thẳng. Nếu gặp Thủy thì được tưới nhuận. Tháng Năm, Hỏa vượng, Mộc tương sinh mà hóa. Tháng Sáu gặp Thổ, nên Thổ mỏng, không nên Thổ dầy. Thổ dầy vất vả. Trong Hạ, nên tránh Kim,  Kim nhiều e cành lá bị đốn chặt. Kim ít lại vui.  


 


Mộc sang Thu, hình thể dần dần điêu linh, xơ xác. Tháng bảy hỏa khí đang nhiều, nếu gặp Thủy, Thổ để tư dưỡng thì tốt. Tháng Tám, cây kết trái, mong được Kim lượm hái. Sau Rằm Trung Thu, không nên Thủy lũ, nếu Thủy thịnh là Mộc bị trôi dạt. Tháng Chín, cuối Thu, nên Hỏa thịnh, Hỏa thịnh thì Mộc chắc, chất gỗ đẹp. Thổ nhiều thì Mộc khó phát triển.


 


Mộc mùa Đông, tháng Mười sau gặt mùa, Mộc mầm đang nằm trong đất, vì vậy cần Thổ nhiều để nuôi dưỡng, sợ nhất là nhiều Thủy. Tháng Mười Một Mộc vẫn nằm dưới đất, dẫu Kim nhiều cũng chẳng bị thương, Hỏa nhiều ấm đất hoan phối. Tháng Mười Hai Mộc nảy mầm, sợ nhất bệnh tật, tử tuyệt, mà nên sinh dưỡng.


 


LUẬN HỎA: Hỏa mùa Xuân, Mẹ vượng, con tướng, tất cả đều do Mộc sinh phù. Tháng Giêng Hỏa không nên vượng, ắt con hại Mẹ. Tháng Hai, nên có Thủy cân bằng, nhưng không nên nhiều Thủy, vì Thủy nhiều lợi Mẹ hại con. Tháng Ba, gặp Thổ, Thổ nhiều thì Hỏa mờ, Hỏa thịnh thì lửa càng bốc lên, lúc đó nếu gặp Kim có thể chế được Hỏa mà cát vượng.


 


Hỏa mùa Hạ thế lực mạnh nhất. Tháng Tư, gặp Thủy chế ngự thì Mộc tránh được họa tự thiêu. Tháng Năm, gặp Mộc trợ giúp tất sẽ chết yểu. Nếu gặp Kim lại hóa cát, gặp Thổ được tương sinh. Tháng Sáu, Hỏa phùng Kim và Thổ mà không có Thủy tất vô dụng, Kim bị vón cục, Thổ bị thiêu cháy. Nếu Hỏa quá thịnh nguy cơ họa ách.


 


Hỏa vào Thu bắt đầu yếu. Tháng Bảy gặp Mộc sinh ắt hồi phục. Gặp Thủy ắt bị dập tắt. Tháng Tám Kim nhiều cướp mất lực của Hỏa. Tháng Chín gặp Thổ Hỏa thành tối. Thời khắc này nếu Hỏa gặp Hỏa ắt được sáng thêm, có lợi.


 


Hỏa mùa Đông bảo là Hỏa chìm trong nước. Tháng Mười nếu Hỏa gặp Hỏa thì tốt. Tháng Mười Một gặp Thủy kể như tai ương. Tháng Mười Hai gặp Thổ chế ngự mà cát, thời khắc này gặp Kim thì khó phát, mà không có Kim lại trắc trở rối ren.


 


LUẬN THỔ: Thổ mùa Xuân thế cô độc. Nên gặp Hỏa sinh phù, kỵ gặp Mộc. Tháng Giêng Hỏa ấm nắng non, gặp Thổ thật tốt, kỵ gặp Thủy mà bị trôi dạt. Tháng Hai gặp Mộc bị khắc chế. Tháng Ba, gặp Thổ là vượng Thổ, nhưng cần có Kim để khắc chế Mộc mà việc thành. Nhưng Kim chớ nhiều, Kim nhiều Thổ thành vất vả, mất khí.


 


Thổ mùa Hạ tỉnh táo, khô hạn, nên tháng Tư gặp Thủy thật tốt, được tư nhuận. Tháng Năm gặp vượng Hỏa, thậm nguy vì bị đốt cháy mà thành vô ích. Tháng Sáu gặp Kim sinh Thủy đầy đủ tài lộc dối dào, nhưng Kim quá nhiều hại Thổ.


 


Thổ mùa Thu, con vượng , Mẹ suy. Tháng Bảy Kim nhiều thì cướp mất khí của Thổ. Tháng Tám Mộc thịnh thì Thổ lại tốt, gặp Kim mà sinh tài lộc. Tháng ChínThổ gặp Thổ thành dầy, gặp Hỏa được bồi đắp.


 


Thổ mùa Đông bề mặt lạnh, bên trong ấm. Tháng Mười gặp Thủy vượng thì tài nhiều, gặp Kim nhiều là phú quí. Tháng Mười Một, gặp Hỏa thịnh thì vinh quang, gặp Mộc nhiều cũng tốt. Tháng Chạp, Thổ gặp Thổ mà vượng, làm cho thân thể khỏe mạnh trường thọ.


 


LUẬN KIM: Kim mùa Xuân hàn khí chưa hết. Tháng Giêng nếu gặp Hỏa thật tốt, gặp Thủy thì Kim hàn cho nên có Thủy cũng vô dụng. Tháng Hai Mộc thịnh thì Kim gãy. Tháng Ba gặp Thổ Kim vượng, gặp Kim càng tốt.


 


Kim mùa Hạ khí hàn chưa sạch. Tháng Tư gặp Hỏa thành vượng. Tháng Năm gặp Kim hóa cát, lúc đó không sợ Hỏa, Hỏa luyện Kim, nhưng nếu gặp Mộc thì nguy hại. Tháng Sáu gặp Thổ, Thổ dầy chôn vùi Kim, Thổ mỏng là tốt.


 


Mùa Thu là mùa Kim nắm lệnh. Tháng Bảy gặp Hỏa để rèn thì Kim thành chuông vạc (chung đỉnh) có ích. Tháng Tám, gặp Thủy được vượng, gặp Mộc thì Kim phô trương sức mạnh. Tháng Chín, Kim gặp Kim càng vững, nhưng chớ cứng, cứng quá ắt dễ gãy.


 


Kim mùa Đông hình hàn tính lạnh. Tháng Mười Mộc nhiều thì Kim bị khắc. Tháng Mười Một, Thủy nhiều thì Kim chìm. Tháng Mười Hai Thổ nhiều chế ngự Thủy nên Kim không hàn lạnh, nhưng thế Kim co không thể phát lộc lớn.


 


LUẬN THỦY: Thủy mùa Xuân ướt dầm dề. Tháng Giêng nếu gặp Thổ chế ngự thì Thủy không gây hại. Nếu Thủy gặp Thủy thì sợ vỡ đê. Tháng Hai, nếu gặp Kim được sinh phù, nhưng không nên Kim cường. Nên gặp Hỏa để Thủy Hỏa đầy đủ, nhưng không nên Hỏa mạnh. Tháng Ba, vào Thổ, gặp Mộc tốt lắm.


 


Thủy mùa Hạ ngoài thực trong hư. Tháng Tư gặp Thủy thì tốt. Được Kim sinh phù cũng tốt. Tháng Năm gặp Hỏa vượng là khắc kỵ. Gặp Mộc ắt hao tổn khí của Thủy. Tháng Sáu vào Thổ, gặp Thổ, Thổ thịnh ắt lấp Thủy.


 


Thủy mùa Thu, Mẹ vượng, con tướng. Tháng Bảy gặp Kim thì Thủy trong, gặp Thổ thì Thủy đục. Tháng Tám gặp Hỏa và Kim thì may mắn về của cải, nhưng Hỏa và Kim không nên thái quá mà Thủy kiệt. Tháng Chín, Mộc nhiều thì tốt, trung hòa là quí. Thủy nhiều sợ có nạn đầy tràn. Thổ nhiều là tượng thanh bình.


 


Thủy mùa Đông là Thủy nắm quyền. Tháng Mười gặp Hỏa để trừ hàn là tốt, gặp Thổ thì bị thu lại, nhưng cũng tốt. Tháng Mười Một, gặp Kim thì nghĩa tương sinh không lớn. Mộc thịnh lại tốt. Tháng Mười Hai, Thủy suy, gặp được Kim sinh trợ Thủy sẽ mạnh lên.  


 


BNN


phongthuybnn.com.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Pakistan chết đứng với Vành đai, Con đường của Trung Quốc - Tư liệu 14.12.2017
13/12/1642: Tasman phát hiện ra New Zealand - Tư liệu sưu tầm 13.12.2017
Mất 3 tiêm kích Su-27 cùng phi công tài hoa, người Nga sốc nặng! - Tư liệu sưu tầm 12.12.2017
Giải mật vụ 3 tiêm kích Su-27 rơi ở Cam Ranh - Tư liệu sưu tầm 12.12.2017
Cam Ranh trong mắt chuyên gia quân sự nước ngoài - Tư liệu sưu tầm 12.12.2017
4.000 tỷ đồng xây dựng nhà ga Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh - Tư liệu 12.12.2017
Cam Ranh - 'ván cờ địa chính trị' của các siêu cường - Tư liệu sưu tầm 12.12.2017
Hai bài về Gobbels (1897–1945), Bộ trưởng Bộ Thông tin Quần chúng và Tuyên truyền của Hitler - Tư liệu sưu tầm 10.12.2017
Vài nét về tiểu thuyết nổi tiếng: Bác sỹ Jivago - Tư liệu sưu tầm 09.12.2017
Tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago từng “là vũ khí tâm lý chiến”! - Tư liệu sưu tầm 09.12.2017
xem thêm »