tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20781482
Lý luận phê bình văn học
10.12.2010
Nguyễn Hải Hà
Cái mới trong truyện ngắn A. Sêkhốp

Chỉ hoạt động văn học trong ngót một phần tư thế kỷ mà lại phải chống chọi với bệnh tật trong hàng chục năm, Antôn Paplôvich Sêkhốp (1860-1904) đã trở thành nhà cách tân nghệ thuật kịch và bậc thầy truyện ngắn của Nga và thế giới. Hơn trăm năm qua, bạn đọc toàn cầu vẫn nồng nhiệt đón đọc truyện ngắn của ông. Vậy bí mật nghệ thuật nào tạo nên sức hấp dẫn lâu bền của các truyện ngắn Sêkhốp?


Sêkhốp không được giới phê bình am hiểu, nhất là thời kỳ đầu. Bởi vậy năm 1888 nhà văn phàn nàn về “sự hoàn toàn thiếu vắng phê bình”. Một vài nhà phê bình trách Sêkhốp “coi thường trường phái văn học và những mẫu mực văn học của các uy tín lớn”, “bất kỳ chi tiết nào cũng chiếm bao nhiêu chỗ tuỳ thích”, “không nghiền ngẫm về hình thức các tác phẩm của mình”, “chìm vào hàng đống cái vô ích” trong những truyện như Thảo nguyên, Câu chuyện tẻ nhạt, bạ đâu viết đây. Nhà phê bình nổi tiếng N. Mikhailôpxki viết: “Ông Sêkhốp (...) dạo chơi bên cuộc đời và khi đi dạo ông túm lấy khi thì cái này khi thì cái kia”, “bất kỳ cái gì lọt vào mắt, ông đều mô tả “bằng máu lạnh” như nhau”. Cũng như một số người, lúc đầu Mikhailôpxki coi Sêkhốp là ca sĩ của “những con người cau có” (Những con người cau có là nhan đề tuyển tập truyện ngắn của Sêkhốp in năm 1889) “nhà văn phi tư tưởng”, “lý tưởng hoá sự thiếu lý tưởng”[1]. Tuy nhiên về sau cách đánh giá của Mikhailôpxki có khác. Ông khen ngợi Câu chuyện tẻ nhạt “buồn nhớ lý tưởng”, Phòng số 6 và Người trong bao.


Nói cho công bằng, một số nhà phê bình đã công nhận tầm vóc của nhà văn: “ông Sêkhốp là tài năng nghệ thuật lớn” (1889), “trong số các đại biểu còn sống của thể loại châm biếm ở nước ta thì A.P.Sêkhôp là vĩ đại nhất, tài năng đẹp đẽ và mãnh liệt của ông là niềm kiêu hãnh của nước Nga”. (1893)[2]


Nhà văn lão thành Đ.V.Grigôrôvich (1822-1899) đã hân hoan chào đón Sêkhôp trong bức thư nồng nhiệt khiến nhà văn trẻ mới 26 tuổi vô cùng xúc động. Grigôrôvich phát hiện tài năng Sêkhốp qua “khả năng phân tích nội tâm rất sâu, tài tả cảnh điêu luyện (...), khả năng tạo hình...” và chân tình khuyên Sêkhốp “phải biết quý trọng tài năng” hiếm hoi của mình. Sêkhôp coi Grigôrôvich là “người thức tỉnh”, giúp mình nghiêm chỉnh tiếp tục sự nghiệp văn chương bởi vì “cho đến nay tôi đã coi công việc viết văn của mình là một việc hời hợt, qua quýt, vô tích sự. Tôi chưa viết một truyện ngắn nào mất quá một ngày đêm”[3]. Có thể nói năm 1886 là cột mốc quan trọng trong đời văn Sêkhốp.


Hầu như tất cả các nhà văn đàn anh nổi tiếng đương thời đều đánh giá cao tài năng và quý mến Sêkhốp. Đó là L.Tônxtôi, N.X.Lexcôp, V.G.Kôrôlencô. Sêkhôp gọi L.Tônxtôi là “người khổng lồ, thần Giupite” và khẳng định “trên đời này tôi không yêu ai hơn Tônxtôi”. Sêkhôp có dịp gặp gỡ Tônxtôi ở Krưm nhiều lần.


M.Gorki cho biết Tônxtôi “rất yêu Sêkhốp” và từng nói với Sêkhốp: “anh thì đặc Nga! Phải rất Nga, rất Nga”. Điều lạ là Tônxtôi không thích kịch Sêkhốp. Còn truyện ngắn Sêkhốp thì Tônxtôi rất thích và đọc đi đọc lại nhiều lần (đặc biệt thích Đusesca mà ông đã biên tập lại) chọn xuất bản một số. Ông coi Sêkhốp là “người vô thần hoàn toàn nhưng đôn hậu”. Tônxtôi viết trong thư năm 1895: “Sêkhốp ở chơi nhà ta và ba thích anh ấy. Anh ấy rất có tài và trái tim anh chắc hẳn phải đôn hậu, nhưng cho đến nay anh vẫn chưa có quan điểm xác định”. Ai nghĩ khác Tônxtôi đều bị ông coi là tư tưởng bấp bênh như thế. Tônxtôi đánh giá rất cao cống hiến của Sêkhốp cho văn học Nga: “Cũng như Puskin, anh đã đẩy hình thức tiến lên phía trước” (Nhật ký ngày 3 tháng 9 năm 1903. Ông coi Sêkhôp là “nghệ sĩ – nhà thơ chân chính”[4].


Có một sự kiện tiếp nhận văn học đầy ý nghĩa: Tônxtôi coi Đusesca của Sêkhốp là “truyện ngắn mê hồn” khiến ông rơi lệ khi đọc nhưng theo ông hiệu quả của truyện này trái ngược ý đồ của tác giả, Sêkhốp định phê phán nữ nhân vật nhưng Tônxtôi coi đây là mẫu phụ nữ lý tưởng. Năm 1905 Tôxtôi cho in Đusesca và viết lời bạt ca ngợi.


Các nhà văn cùng thời như V.M.Garsin (1855-1888), M.Gorki cũng rất khâm phục tài năng Sêkhốp. Garsin coi tác giả Thảo nguyên là “nhà văn mới hạng nhất”[5]. Gorki viết trong thư gửi Sêkhốp năm 1898: “Tài năng của ông thật là vĩ đại (…) Người ta khen ông rất nhiều, thế nhưng lại chưa đánh giá ông đúng mức và hình như hiểu ông rất ít”[6], “trong văn học Nga chưa có nhà viết truyện ngắn nào giống như ông, còn giờ đây ở nước ta ông là gương mặt vĩ đại sáng giá nhất. Môpatxăng rất hay và tôi rất yêu ông ấy, nhưng tôi thích ông hơn (…) Ông là một tài năng mãnh liệt”[7]. Gorki ca ngợi nhiều truyện ngắn tuyệt vời của Sêkhốp, coi ông là “một con người lớn lao, thông minh” mong muốn dùng văn chương thức tỉnh mọi người đang kéo lê cuộc sống tồi tệ và buồn tẻ. Gorki dành riêng một bài nói về Trong khe núi của Sêkhốp mà ông coi là một truyện ngắn hay, lời chật ý rộng. Trong bài này Gorki đã nêu nhiều nhận xét rất sắc sảo, tinh tế về nghệ thuật truyện ngắn Sêkhốp.


Liên Xô đã in nhiều tư liệu quý về A.Sêkhốp như 3 tập Thư từ trao đổi giữa vợ chồng Sêkhốp (1934-1936), Toàn tập 20 tập (1944-1951), Biên niên sử về cuộc đời và sáng tác (1955), Di sản văn học Tập 68 (1960). Trong nửa đầu thế kỷ XX các nhà nghiên cứu Xô viết thiên về tiếp cận xã hội học khi tìm hiểu sáng tác Sêkhốp. Từ nửa sau thế kỷ, tiếp cận thi pháp học mới được chú ý. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là Thi pháp Sêkhốp (1971) của A.P.Truđacốp, một công trình nghiên cứu nghiêm túc, sâu sắc. Tuy không tán thành một số luận điểm cơ bản của Truđacốp nhưng chúng tôi vẫn đánh giá rất cao công trình của ông vì nguồn tư liệu quý, cách đặt vấn đề khá lý thú và sức gợi ý khoa học rất bổ ích.


Ở ta cho đến nay chưa có chuyên luận về sáng tác của Sêkhốp và tiếp cận thi pháp học đối với truyện ngắn của ông cũng mới chập chững bước đầu.


Trở lại vấn đề đã nêu, đâu là cái mới trong truyện ngắn Sêkhốp?


Sêkhốp khiêm tốn nói “Tôi là nhà phê bình tồi” không biết diễn tả ý kiến phê phán của mình. Thực ra Sêkhốp có những quan điểm rất sắc sảo, rành mạch về văn học. Sêkhốp từng coi các nhà phê bình là dân ăn bám còn phê bình là ruồi trâu quấy rầy ngựa cầy. Lại có lúc ông cho rằng “Thà phê bình tồi còn hơn là không có…”. Theo ông, điều quan trọng trong phê bình không chỉ là “những quan điểm nhất định, xác tín, thế giới quan mà còn phải chú trọng tới phương pháp vì phương pháp tạo ra một nửa tài năng”. Ông trách các nhà phê bình xu nịnh, hèn nhát vì “họ sợ cả khen lẫn chê và quay tròn ở một quãng giữa lập lờ thảm hại”. Từ năm 28 tuổi, năm 1888, Sêkhốp đã nâng “phương pháp khoa học” trong phê bình lên thành “triết học sáng tạo”. Theo ông, “có thể tập hợp tất cả những gì ưu tú do các nghệ sĩ sáng tạo ra trong mọi thời đại và vận dụng phương pháp khoa học nắm bắt cái chung làm cho chúng giống nhau và quyết định giá trị của chúng. Cái chung đó chính là quy luật. Ở những tác phẩm mà người ta coi là bất tử có nhiều cái chung; nếu như từ mỗi tác phẩm ta vứt bỏ cái chung đó đi thì tác phẩm mất giá trị và sự hấp dẫn. Nghĩa là cái chung đó có tính tất yếu, tạo ra conditio sine qua non (điều kiện tiên quyết) của mỗi tác giả, tác phẩm muốn được bất tử.”[8].


Vậy cái chung nào làm nên sự bất tử của truyện ngắn Sêkhốp?


Puskin khẳng định trong một bức thư: “Thiên tài chỉ liếc mắt là phát hiện ra sự thật, mà sự thật mạnh hơn nhà vua, kinh thánh nói vậy”[9]. Đôxtôiepxki quả quyết: “Sự thật cao hơn Nêcraxôp, cao hơn Puskin, cao hơn nhân dân, cao hơn nước Nga, cao hơn tất cả, bởi vậy cần phải mong ước độc có sự thật và đi tìm nó, bất chấp tất cả những lợi lộc mà chúng ta có thể bị mất vì nó và thậm chí bất chấp tất cả mọi truy nã và săn lùng mà chúng ta có thể phải chịu đựng vì nó.”[10] L.Tônxtôi tâm sự: “Nhân vật chính trong truyện của tôi, nhân vật mà tôi mến yêu với tất cả sức mạnh tâm hồn, cố gắng dựng lại trong tất cả vẻ đẹp của nó, nhân vật luôn luôn đã đẹp, đang đẹp và sẽ đẹp, nhân vật đó là sự thật”. (Xêvaxtôpôn tháng Năm 1855).


 


Ngay từ năm 27 tuổi, Sêkhốp đã ý thức rất rõ về sứ mạng ngòi bút của mình: “Văn học được coi là có tính nghệ thuật vì nó vẽ tả cuộc sống như vốn có trong thực tế. Mục tiêu của văn học là sự thật tuyệt đối và trung thực (…) Đối với các nhà hoá học thì trên trái đất không có gì bẩn. Nhà văn cũng phải khách quan như nhà hoá học; anh ta phải từ bỏ tính chủ quan trong đời và biết rằng những đống phân trong phong cảnh cũng đóng vai trò rất đáng nể, còn các dục vọng xấu xa cũng gần gũi cuộc sống như các dục vọng tốt lành”. Từ lúc 28 tuổi, ông đã đau đầu trước câu hỏi: “Tôi viết cho ai và viết để làm gì?”[11].


 


Như vậy, Sêkhốp nối gót các nhà văn lớn chân chính dũng cảm đi theo con đường khám phá sự thật, vươn tới cái đẹp gập ghềnh, đầy chông gai.


 


Tính chân thực là nét nổi bật mà mọi người nhận thấy trong truyện Sêkhốp. Một người cùng thời ghi lại lời Tônxtôi: “Sêkhốp và các nhà văn đương thời nói chung phát triển kỹ thuật phi thường của chủ nghĩa hiện thực. Ở Sêkhôp tất cả đều chân thực đến độ ảo giác, các tác phẩm của anh ấy gây ấn tượng như một kính vạn hoa”[12]. Năm 1886 N.X.Lexcôp (1831-1895) coi nhà văn trẻ Sêkhốp là người đi theo “khuynh hướng hiện thực lành mạnh”[13] của L.Tônxtôi, “tài năng văn học đương thời vĩ đại nhất trên toàn thế giới”. V.G.Kôrôlencô (1853-1921) viết trong một bức thư: “tôi nghĩ rằng phẩm chất của Sêkhốp chủ yếu là ở chỗ anh ấy nói chung biết mô tả một cách chân thực chứ không phải ở việc lựa chọn đề tài” (1888)[14]. M.Gorki nhận xét: “Tất cả những con người ấy, kẻ xấu cũng như người tốt, đều sống trong câu chuyện của Sêkhốp đúng như họ sống trong hiện thực. Trong các truyện ngắn của Sêkhốp không hề có một cái gì mà lại không có thật trong cuộc sống. Cái sức mạnh khủng khiếp của tài năng Sêkhốp chính là ở chỗ ông không bao giờ tự tiện bịa đặt ra một cái gì, không bao giờ mô tả một cái gì “không có trên đời này”, tuy có thể là tốt đẹp, có thể là đáng mong ước. Ông không bao giờ tô vẽ cho con người…”[15].


 


Bản thân Sêkhốp từng coi “tính chủ quan là vật kinh khủng” (1883) và khẳng định rằng: “càng khách quan ấn tượng càng mãnh liệt hơn” (1892). Ông đề cao cộng đồng sáng tạo: “khi viết tôi hoàn toàn tin cậy vào bạn đọc vì cho rằng những yếu tố chủ quan còn thiếu, bạn đọc sẽ thêm vào” (1890)[16].


Vậy Sêkhốp khám phá sự thật gì ở nước Nga cuối thế kỷ XIX mà ông coi là “thời buổi ốm đau”? Đôxtôiepxki đi tìm con người trong con người, phơi bầy những ung nhọt của đại đô thị trong các tiểu thuyết phức điệu. L.Tônxtôi nắm bắt con người bên trong qua con người hữu hình và mô tả sâu sắc việc chiếm hữu ruộng đất cùng quan hệ địa chủ - nông dân trong các tiểu thuyết tâm lý – xã hội. Sêkhốp có nói đến ách áp bức tư bản (Một chuyến đi khám bệnh), cảnh nông thôn cùng khốn (Nông dân, Trong khe núi), tìm đường giải phóng quần chúng bị áp bức (Ngôi nhà có căn gác nhỏ, §êi t«i) nhưng trung tâm chú ý của ông không phải là quan hệ sản xuất và các vấn đề kinh tế mà là mong muốn khám phá và mô tả thân phận nô lệ, đầu óc nô lệ của con người biểu hiện qua vô vàn dạng thức. Đó là thói quỵ luỵ trước quyền uy, chức tước (Anh béo và anh gầy, Lão quản Prisibêep, Con kỳ nhông, Các bà, Vở kịch vui, Người trong bao), thói nô lệ đồng tiền, của cải (Mặt nạ, Iônưts, Vé trúng số, Xalômôn ném tiền vào lò sưởi và Varlamôp thích tiền trong Thảo nguyên), sự tác oai tác quái của hoàn cảnh vô nhân đạo (Vanca, Nỗi nhớ, Buồn ngủ) sự khuất phục hoàn cảnh, tâm lý bạc nhược, ngôy biện (Phòng số 6, Người tu sĩ vận đồ đen, Iônưts). Sêkhốp mô tả tình yêu, hôn nhân và thân phận nô lệ của người phụ nữ trong rất nhiều truyện (Người đàn bà phù phiếm, Huân chương Anna nhị đẳng, Vôlôđia lớn và Vôlôđia bé, Một chuyện tình yêu, Đêm Noel, Câu chuyện của phu nhân N.N, Một chuyện đùa nho nhỏ, Que diêm Thuỵ Điển, Varơsca, Vận xấu, Chị bếp đi lấy chồng, Người vợ chưa cưới). Nhức nhối chuyện gái điếm trong Cơn bệnh thần kinh. Có những cô gái trẻ bị ép duyên hoặc vì tiền phải lấy chồng già. Không ai có hạnh phúc: “có tất cả mọi thứ, duy chỉ có tình yêu là chưa đến” (Người đàn bà có con chó nhỏ). Con người vẫn chưa được tự do trong tình yêu và hôn nhân.


Có thể nói thói nô lệ ngấm sâu và đầu độc người lớn, trẻ em, đàn ông, đàn bà, trí thức, viên chức, quân nhân, thương gia, sinh viên, nông dân, “những con người không biết kính trọng cái phẩm giá làm người của mình, đành tâm ngoan ngoãn phục tùng bạo lực, sống như những kẻ nô lệ”[17]. Sêkhốp muốn giúp con người “chắt lọc, loại bỏ khỏi con người mình từng giọt nô lệ.”[18] Gorki nhận xét rất đúng về đầu óc nô lệ trong thế giới nhân vật Sêkhốp: “trước mắt ta diễu qua cả một chuỗi dài vô tận những kẻ nô lệ và nô tỳ của tình yêu, của sự ngu dại và của thói lười biếng, của sự tham lam đối với những lạc thú trần gian; đó là những kẻ nô lệ của một nỗi sợ hãi tối tăm trước cuộc sống, họ quằn quại trong một nỗi lo âu mơ hồ và trút ra những lời lẽ đầu Ngô mình Sở về tương lai vì cảm thấy trong hiện tại không có chỗ cho mình đứng…”[19].


Sêkhốp thấu hiểu sự phức tạp của con người: “Đúng là thế giới “đầy rẫy bọn nam vô lại và nữ vô lại”. Bản chất con người không hoàn thiện, bởi vậy thật kỳ cục nếu chỉ nhìn thấy trên trái đất những người công chính”[20]. Sêkhốp bị xem là ca sĩ của “những người cau có” (tên một tập truyện ngắn của Ông. Có người dịch là Những người u ám hoặc Những người rầu rĩ). Xuyên suốt nhiều tác phẩm của Sêkhốp là sự đối lập quyết liệt giữa vĩ nhân, con người phi thường, siêu nhân với con người bình thường (Người đàn bà phù phiếm, Tu sĩ vận đồ đen, Câu chuyện tẻ nhạt, §øc gi¸m môc). X«lômôn không hám tiền cho rằng mình “giống con người hơn” (Thảo nguyên). Ông chủ nhà bảo cô gia sư: “Cô đi rồi thì khắp nhà này không còn có cái mặt nào ra mặt người nữa” (Rối ren). Ông bác sĩ già phê phán bà quý tộc: “bà không bao giờ coi những kẻ nghèo hèn là con người cả” (Nữ hầu tước). Người vợ nhận ra người chồng bình thường mà vĩ đại của mình quá muộn (Người đàn bà phù phiếm). Vị giáo sư nổi tiếng mong muốn người ta yêu quý mình như “một con người bình thường” chứ không phải vì danh tiếng, chức vị, nhãn hiệu bề ngoài (Câu chuyện tẻ nhạt).


Năm 1888, Sêkhốp viết bài ca ngợi nhà địa chất Nga N.M.Prơgiêvanxki (1839-1888) bỏ mình tại vùng núi Trung Á khi đi nghiên cứu khoa học: “Trong thời buổi ốm đau của chúng ta, khi mà các xã hội châu Âu sinh ra lười biếng, sầu đời và mất lòng tin, khi mà ở khắp nơi ngự trị sự kết hợp kỳ quặc giữa thói chán đời và nỗi sợ chết, khi mà thậm chí những người ưu tú khoanh tay, bào chữa cho thói lười biếng và truỵ lạc của mình bằng sự thiếu vắng mục đích sống rõ ràng thì các chiến sĩ đấu tranh quên mình cần thiết như mặt trời”. Sêkhốp ca ngợi: “những con người của chiến công, niềm tin và mục đích được nhận thức rõ ràng” Nhà văn cho rằng: “Nếu như những điển hình tích cực do văn học sáng tạo ra là tài liệu giáo dục quý giá thì chính những điển hình do cuộc sống tạo ra trở thành vô giá”[21].


Nằm ở trung tâm quan niệm nghệ thuật về con người của Sêkhốp là người lao động giản dị, trung thực, thuộc đủ ngành nghề. Nhưng cuộc sống thật phức tạp. Ông lão đánh xe Panchêlây nhận xét: “Những bậc thánh và những người trung hậu tôi gặp cũng đã nhiều, nhưng những người tội lỗi thì đếm không xuể nữa” (Thảo nguyên). Nhân vật đầy thăng trầm với một cuộc đời vô cùng phức tạp vẫn trân trọng con người: “Số phận tôi thật may mắn biết bao nhiêu, tôi được gặp toàn những con người tuyệt diệu (…) Trên đời này những người tốt đông hơn người xấu rất nhiều” (Dọc đường). Anh sinh viên Vaxiliep nghĩ về các cô gái điếm và nhạc công, đầy tớ trong các nhà chứa: “Tất cả họ đều giống loài vật hơn là loài người, nhưng họ vẫn là con người, ở họ vẫn có tâm hồn. Cần phải hiểu, sau đó sẽ đánh giá họ” (Cơn bệnh thần kinh). Xôphia Lơvôpna, 23 tuổi, buộc phải lấy ông chồng hơn tuổi bố mình chua xót thừa nhận: “Tôi là một đứa con gái ngu muội, hèn hạ, thiển cận đáng bỏ đi…” nhưng vẫn ước ao “làm lại cuộc đời” để trở thành “con người chân chính” ; “Tôi muốn được làm một người trung thực, trong trắng, không biết đến lừa dối, sống có mục đích. (Vôlôđia lớn và Vôlôđia bé). Được gặp nhiều người tốt, anh viên chức trẻ nghĩ: “Trong cuộc đời, không có gì quý hơn con người”. (Vêrơsca). Anh hoạ sĩ tâm sự với người yêu: “Con người phải nhận thức được mình cao hơn những sư tử, hổ báo, ngôi sao, cao hơn hết thẩy mọi cái trong thiên nhiên, thậm chí phải thấy mình cao hơn cả những điều mình không hiểu và cảm thấy kỳ lạ” (Ngôi nhà có căn gác nhỏ). Nhân vật của Sêkhốp dường như luôn bị co kéo giữa không gian hẹp tù túng (Phòng số 6) và không gian bát ngát (Thảo nguyên). Nhà văn hình dung tầm vóc lớn lao của con người: “Con người không phải chỉ cần ba thước đất, không phải chỉ cần một trang ấp nhỏ mà là tất cả trái đất, tất cả thiên nhiên, trên cả miền đất bao la ấy con người mới có thể bộc lộ được hết phẩm chất và đặc điểm tinh thần tự do của mình” (Khóm phúc bồn tử).


Hàng loạt nhân vật của Sêkhốp từ anh sinh viên, thầy giáo trẻ đến vị giáo sư già, ông bác sỹ bừng tỉnh, đốn ngộ, nhận ra cuộc sống tồi tệ, tẻ nhạt của mình và muối rời bỏ nó (Sinh viên, Ba năm, Câu chuyện tẻ nhạt, Thày giáo dậy văn, Iônứts. Giáo sư Nicôlai Xtêpanôvich “thấy thiếu cái mà các ông bạn hiền triết gọi là tư tưởng chủ đạo trong người…” Sêkhốp nói về kết thúc truyện này trong một bức thư viết năm 1888: “nghiền ngẫm cuộc sống mà thiếu thế giới quan thì đó không phải là cuộc sống mà là gánh nặng, nỗi khủng khiếp”[22].


Người kể chuyện trong Thảo nguyên cảm thấy cảnh vật đều thể hiện rõ “sự toàn thắng của cái đẹp, của sù trẻ trung, của sức mạnh tràn trề và sự khát khao tha thiết đối với cuộc sống”. Các nhân vật trong Sinh viên, Trong khe núi đều tin rằng sự thật và cái đẹp tồn tại và sẽ ngù trÞ cuéc sèng. Sêkhốp đã vẽ chân dung những cô gái trẻ đẹp, đầy sức xuân (Hai vẻ đẹp, Vêrơsca, Iônưtsơ) Trong truyện ngắn Sêkhốp không chỉ có thời gian hiện tại xám xịt, ngưng đọng trong đó cuộc đời các nhân vật han rỉ, mòn mỏi, tàn lôi. Càng về cuối đời ông, thời gian tương lai càng rõ nét trong tác phẩm. Tuy phải chống chọi với bệnh tật, Sêkhốp vẫn lạc quan. Sêkhốp mong muốn “trong con người mọi cái đều phải đẹp, cả khuôn mặt, áo quần, cả tâm hồn và ý nghĩ” (Kịch Cậu Vania). Các nhân vật trẻ tuổi vĩnh biệt cuộc sống cũ và chào mừng cuộc sống mới trong vở kịch nổi tiếng Vườn anh đào. Cô Nađia quyÕt ra ®i t×m kiếm “cuộc đời mới trong sáng…rộng rãi, phóng khoáng” (Ng­êi vî ch­a c­íi). Trước cảnh đời đen tối, Sêkhốp vẫn vững tin: “Cho dù cái ác lớn đến đâu thì đêm vẫn cứ lặng lẽ, đẹp đẽ và trên thế gian rộng lớn này sự thật vẫn tồn tại và sẽ tồn tại cũng lặng lẽ và đẹp đẽ như thế và tất cả trên trái đất chỉ chờ đợi hoà hợp với sự thật như ánh trăng hoà với bóng đêm” (Trong khe núi).


Tiếng cười và những tấn bi kịch trong truyện ngắn Sêkhốp nẩy sinh từ mâu thuẫn giữa đầu óc nô lệ và ước mơ về con người đẹp, cuộc sống tự do.


Sêkhốp đã giành được vị trí xứng đáng cho truyện ngắn trong thời buổi toả sáng tên tuổi Đôxtôiepxki, L.Tônxtôi, Turghênhep với các pho tiểu thuyết đồ sộ. Sêkhốp không thực hiện được ý định viết tiểu thuyết. Một vài truyện khá dài của ông như Thảo nguyên, Câu chuyện tẻ nhạt, Phòng số 6, Người tu sĩ vận đồ đen… được đánh giá cao. Tuy vậy Sêkhốp vẫn tỉnh táo và khiêm tốn cho rằng trong Thảo nguyên “mỗi chương riêng rẽ tạo ra một truyện ngắn đặc biệt”, toàn truyện là “bản liệt kê chi tiết các ấn tượng”, “cuốn bách khoa thư về thảo nguyên” bởi vì: “tôi còn chưa biết cách viết các tác phẩm lớn” (Thư 1888)[23].


Sức mạnh của Sêkhốp là do tài viết ngắn. Sêkhốp nói: “Ngắn gọn là chị em của tài năng”, “tôi biết nói ngắn về những cái phải nói dài”, “điều kỳ quặc là giờ đây tôi mê tất cả những gì ngắn gọn. Dù đọc gì, của mình hay của người, tôi thấy tất cả đều chưa đủ ngắn gọn”, “Chỉ một mình tôi nổi dậy, chống những sự dài dòng”. Muốn ngắn gọn phải chọn lọc chi tiết. Sêkhốp góp ý nhận xét truyện của các nữ văn sĩ: “chị chồng chất cả núi chi tiết và quả núi đó đã che lấp mặt trời”, “phải hi sinh các chi tiết vì cái toàn thể”. Từ năm 28 tuổi, Sêkhốp đã tin rằng “trong các truyện ngắn thì nói lửng hay hơn là nói đi nói lại…”[24].


Năm 1891, một người cùng thời là I.L.Sêglốp đã hạ một câu khá cực đoan: “Trong một truyện ngắn nhỏ của Sêkhốp ta cảm nhận được nước Nga nhiều hơn trong toàn bộ tiểu thuyết của Bôbôrưkin”. Còn nhà văn Lexcôp khái quát: “khắp nơi là phòng số 6. Đó là nước Nga”[25].


Khi viết Câu chuyện tẻ nhạt Sêkhốp phải luyện cách “truyền đạt thoải mái tư tưởng trong hình thức tự sự”. Ông nhắc nhở ta chớ đồng nhất nhà văn và nhân vật: “Nếu người ta đưa cà phê ra thì Anh đừng cố tìm bia trong đó. Nếu tôi đưa tới cho Anh các tư tưởng của vị giáo sư thì hãy tin tôi và đừng tìm trong đó các tư tưởng của Sêkhốp”[26]. Muốn tăng hiệu quả nghệ thuật của “hình thức tự sự” ngắn Sêkhốp phải cải tiến từng yếu tố tự sự và cách kết hợp chúng. Ranh giới giữa ba yếu tố tự sự là kể lại, mô tả và phán đoán gần như khá nhạt nhoà trong truyện ngắn Sêkhốp. Kể xen với tả, phán đoán nhiều khi được tiềm ẩn dưới bức tranh phong cảnh hoặc chân dung. Tất cả phải ngắn gọn. Mô tả giữ vai trò quan trọng trong nghệ thuật tự sự, tạo hiệu quả sự có mặt, tăng ảo giác như thật, nâng tính biểu cảm. Sêkhốp hé lộ cách viết: “Tôi biết cách viết chỉ dựa theo hồi ức và không bao giờ tôi viết từ mẫu tự nhiên trực tiếp. Tôi phải làm thế nào để ký ức của tôi lọc cốt truyện và để cho, cũng như trong máy lọc, trong ký ức tôi chỉ còn đọng lại cái quan trọng hoặc điển hình” (Thư 1897)[27]. Nhưng nhà nghiên cứu Xô viết Truđacôp nhận xét ngược hẳn với điều nhà văn vừa nói. Theo Truđacôp, Sêkhốp tiếp nối truyền thống không xây dựng các điển hình của Puskin và L.Tônxtôi: “Nhân vật của Sêkhốp về nguyên tắc không có tính điển hình”[28], Sêkhốp chú trọng cái cá nhân, ngẫu nhiên. Truđacôp coi truyện Người trong bao có xây dựng điển hình là không tiêu biểu cho thi pháp Sêkhốp. Theo ý chúng tôi Sêkhốp đã sáng tạo nhiều điển hình bất hủ trong những truyện ngắn bao quát cả một đời người (Vận xấu, Người đàn bà phù phiếm, Iônưts, Câu chuyện tẻ nhạt, Người trong bao, Khóm phúc bồn tử, Tu sĩ vận đồ đen, Phòng số 6). Có nhiều truyện chỉ tả một khoảnh khắc, một quãng đời nhưng đã phát hiện ra tính cách điển hình của nhân vật: sự vô cảm trước sắc đẹp và tình yêu của anh viên chức trẻ (Vêrơsca) sự xa lầy quá sớm vào lối sống tầm thường và sự bừng ngộ của chàng trai 26 tuổi (Thầy giáo dậy văn).


Truđacôp cũng đối lập hoàn toàn với Sêkhốp khi nói về cái ngẫu nhiên. Theo Truđacôp, trong truyện Sêkhôp “Cái ngẫu nhiên tồn tại bên cạnh cái chủ yếu và cùng với nó như một cái độc lập, ngang hàng. Cái ngẫu nhiên là bộ phận không tách rời trong bức tranh thế giới của Sêkhốp”[29], cái ngẫu nhiên là cơ sở của nguyên tắc kết cấu, xây dựng cốt truyện, “nguyên tắc ngẫu nhiên của miêu tả”[30], Truđacôp coi ngẫu nhiên là dấu hiệu đặc trưng của thi pháp Sêkhốp: “đặc điểm cơ bản của tự sự Sêkhốp là sự mô tả thế giới xung quanh thông qua ý thức tiếp nhận cụ thể. Đặc điểm này trực tiếp gắn với nguyên tắc ngẫu nhiên của hệ thống nghệ thuật Sêkhốp” [31].


Nhưng nhân vật của Sêkhốp nghĩ khác. Viên dự thẩm trẻ tuổi về làng quê điều tra một vụ tự tử và suy nghĩ: “trong cuộc đời này, ngay ở nơi xa xôi, hiu quạnh này, không có gì là tình cờ cả, tất cả đều có chung một ý nghĩa, tất cả đều có chung một mục tiêu thế giới bên trong và để hiểu được điều đó, chỉ suy nghĩ, luận bàn thôi không đủ, mà chắc là cần phải có biệt tài đi sâu vào nhận biết cuộc sống mà không phải ai cũng có. Và cả “con bệnh thần kinh” bất hạnh tự hại mình như lời Xtarsencô đã gọi, cả ông mõ già suốt đời ngày lại ngày, đi khắp mọi nơi đều sẽ là những sự tình cờ, những mảnh xé rời của cuộc sống đối với ai coi sự tồn tại của mình là tình cờ, nhưng lại sẽ là những bộ phận hợp thành của một cơ cấu diệu kỳ, hợp lý đối với những ai coi cuộc đời mình là một bộ phận của cái toàn thể và hiểu rõ điều đó” (Một chuyến công vụ 1898). Có thể nói suy nghĩ của nhân vật trong truyện ngắn này rất gần với quan điểm của chính Sêkhốp: “Nói chung hành vi của các nhân vật của Anh thường thiếu lô gích, ấy vậy mà trong nghệ thuật cũng như trong cuộc sống chẳng có gì tình cờ cả” (Thư gửi B.A.Xađôpxki, 1904)[32].


Sêkhốp hiểu rõ sự gần gũi và ảnh hưởng qua lại tốt đẹp giữa văn học và khoa học: “Tôi không nghi ngờ gì rằng công việc của khoa y học đã có ảnh hưởng đáng kể tới hoạt động văn học của tôi; các công việc đó đã mở rộng đáng kể lĩnh vực quan sát của tôi, làm cho kiến thức của tôi phong phú, giá trị của các kiến thức đó đối với tôi ra sao, với tư cách một nhà văn, thì chỉ có chính bác sĩ mới có thể hiểu hết được; các công việc đó cũng có ảnh hưởng định hướng và có lẽ, nhờ gần gũi y học tôi đã tránh được nhiều sai lầm. Sự làm quen với các khoa học tự nhiên, với phương pháp khoa học luôn luôn giúp tôi cảnh giác và tôi đã cố gắng ở chỗ nào có thể, lưu tâm tới các dữ liệu khoa học, còn ở chỗ nào không thể thì thà hoàn toàn không viết gì cả còn hơn. Nhân tiện cũng xin lưu ý rằng điều kiện của sáng tạo nghệ thuật không phải bao giờ cũng phù hợp hoàn toàn với những dữ liệu khoa học. Không thể miêu tả trên sân khấu cái chết vì thuốc độc như nó xẩy ra trên thực tế. Nhưng ta vẫn phải cảm thấy sự phù hợp với các dữ liệu khoa học ngay trong tính ước lệ đó, nghĩa là cần phải làm thế nào để bạn đọc hoặc khán giả hiểu rõ rằng đây chỉ là ước lệ và họ đang tiếp xúc với một nhà văn hiểu biết. Tôi không thuộc vào số các nhà văn phủ nhận khoa học, nhưng tôi cũng không muốn thuộc vào số người dùng lý trí của mình để thâm nhập tất cả” (Thư 1899)[33]. Như vậy nhà văn phải khéo vận dụng, kết hợp cả phương pháp khoa học và cách sử dụng ước lệ, cả lý trí và linh cảm: “linh cảm của nghệ sĩ đôi khi có giá trị như trÝ óc nhà bác học, cả hai đều có một mục đích, một bản chất và có lẽ với thời gian, khi các phương pháp được hoàn thiện, chúng sẽ hoà hợp thành sức mạnh khổng lồ khủng khiếp, khó hình dung nổi lúc này…”[34].


Giới y học, thầy thuốc, bệnh viện, bệnh tật là đối tượng quan trọng trong thế giới nghệ thuật Sêkhốp. Ông miêu tả tài tình diễn biến nhiều căn bệnh phức tạp như tâm thần phân liệt (Phòng số 6, Người tu sĩ vận đồ đen) Nhiều bác sĩ là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn (Người đàn bà phù phiếm, Hai kẻ thù, Phòng số 6, Iônưts…) Sêkhốp luôn xác định chính xác tuổi của các nhân vật và đó là cơ sở giúp bạn đọc hình dung ra tâm sinh lý nhân vật. Cách viết ngắn gọn của Sêkhốp chắc hẳn cũng gắn với phương pháp khoa học của ông.


Sêkhốp bị coi là “ca sĩ của những cái vặt vãnh”, “ca sĩ của đời thường”. Gạt bỏ hàm ý mỉa mai, chê trách, đó là những cảm nhận đúng, về đặc điểm tự sự Sêkhốp. Công lao của Sêkhốp trong truyện ngắn cũng như trong kịch là ở chỗ ông đưa nghệ thuật xích gần lại cuộc sống. Ông từng nói: “Hãy làm sao cho trên sân khấu tất cả sẽ vừa phức tạp và cũng vừa đơn giản như trong cuộc sống. Người ta ăn, chỉ ăn thôi, ấy vậy mà trong lúc đó hạnh phúc của họ hình thành và cuộc đời của họ tan vỡ”[35]. Trong truyện ngắn Sêkhốp không có cuộc sống cô đọng, căng thẳng, gấp gáp, tất cả đều bàng bạc, rời rạc, chậm rãi, có cả chi tiết thừa thãi, tình cờ. M.Gorki đã tinh tường nhận thấy: “Không ai hiểu được một cách rõ ràng và tinh tế cho bằng Antôn Paplôvích cái chất bi kịch của những chuyện vặt vãnh trong cuộc sống, trước anh chưa hề có ai vẽ ra được trước mắt người đời một cách chân xác đến tàn nhẫn như vậy cái cảnh nhục nhã đáng buồn của đời họ trong cõi hỗn mang tối tăm của cuộc sống trưởng giả hàng ngày”[36].


Sêkhốp chủ trương “cốt truyện càng đơn giản càng tốt”[37] Ông không nhấn mạnh các biến cố. Ngay ở những truyện có biến cố lớn, gay cấn, Sêkhốp cũng không dùng giọng điệu gay gắt và mầu sắc đậm để gây ấn tượng (Hai kẻ thù, Phòng số 6, Trong khe núi). Sêkhốp không chú trọng vào xung đột nổi trong truyện mà dụng công xây dựng xung đột chìm bằng cách tăng ý nghĩa tượng trưng của từng chi tiết, tạo dòng chảy ngầm, mạch ngầm văn bản, chất trữ tình của văn tự sự. Nhà văn A.Belưi cho rằng chủ nghĩa hiện thực của Sêkhốp gần chủ nghĩa tượng trưng và nhận xét: “Trong các chi tiết vặt vãnh của Sêkhốp có một bí số gì đó”[38]. Câu đầu của truyện thường đi thẳng vào việc, nêu thời gian, địa điểm. Có những câu cực ngắn: “Đêm đã khuya” (Buồn ngủ), “Bữa tiệc kết thúc” (Vở kịch vui), “Lúc ấy đã nhọ mặt người” (Nỗi nhớ). Với câu kết Sêkhốp muốn tập trung trong bạn đọc ấn tượng về toàn truyện và để làm được điều đó nên nhắc lại dù là thoảng qua, đôi chút về những người trước đó đã nói tới”[39]. Có những kết thúc nói lên sự bế tắc, thúc đẩy tìm một cuộc sống khác: “Bỏ nhà mà đi rồi treo cổ lên cành dương nào cho xong!” (Vé trúng số), “Không, không thể sống như thế mãi được” (Người trong bao), “Phải trốn khỏi nơi đây, trốn ngay hôm nay nếu không tôi sẽ phát điên lên mất” (Thầy giáo d¹y văn). Có những kết thúc gợi hy vọng về một cuộc sống mới: “Cuộc sống ấy rồi sẽ ra sao?” (Thảo nguyên), “Có cảm giác rằng chỉ một lát nữa thôi, không cần nhiều lắm, là lối thoát sẽ được tìm ra và lúc ấy, một cuộc đời hoàn toàn mới, thật đẹp đẽ sẽ đến, nhưng cả hai người đều thấy rõ rằng, còn xa lắm xa lắm mới đến ngày kết cục và những gì rắc rối nhất, khó khăn nhất chỉ vừa mới bắt đầu” (Người đàn bà có con chó nhỏ) Đây là một kết thúc mở rât tiêu biểu cho truyện ngắn Sêkhốp. Cuộc đời còn dài và đòi hỏi rất nhiều nghị lực và ý chí vươn lên của con người. Sêkhốp cho biết: “Tôi luôn luôn làm phần kết trong bản in thử” (Thư 1896)[40] và ông rất chú ý đến nhạc điệu của phần kết.


Miêu tả nhân vật chiếm vị trí quan trọng trong truyện Sêkhốp và nghệ thuật tả người của ông rất độc đáo: “Trong tâm lý cũng có những tiểu tiết. Cầu Chúa giúp tránh khỏi những lối nói chung chung. Tốt hơn hết là tránh miêu tả tâm trạng các nhân vật; cần phải cố làm sao để tâm trạng đó được hiểu qua hành động của các nhân vật. Không nên chạy theo việc có nhiều nhân vật…”[41] Sêkhốp không trực tiếp miêu tả tâm lý nhân vật như Đôxtôiepxki, L.Tônxtôi nhưng ông vẫn rất quan tâm thể hiện tâm lý nhân vật theo cách riêng của mình, qua hành động, đối thoại, cảm nhận thiên nhiên và qua cả chân dung nữa. Ông rất chú trọng dựng chân dung nhân vật và thường không vẽ ngay một lúc. Chân dung giúp ta hình dung rõ nhân vật, nắm bắt tâm lý của nó. Nhà văn luôn đứng cao hơn nhân vât: “Chị cho rằng các nhân vật của tôi ảm đạm. Chao ôi, đó không phải là lỗi của tôi! Cái đó bất giác xảy ra ở tôi và khi viết dường như tôi không viết một cách ảm đạm. Trong bất kỳ trường hợp nào, khi làm việc, tôi luôn luôn có tâm trạng tốt”[42] và “Khi viết Tu sĩ vận đồ đen tôi không có bất kỳ ý nghĩ buồn bã nào, mà viết theo suy nghĩ lạnh lùng; Đơn giản là tôi muốn tả bệnh vĩ cuồng”[43].


Sêkhốp là họa sĩ vẽ phong cảnh rất giỏi và độc đáo. Không rộng lớn như phong cảnh của Turghênhep, đặc biệt là của L.Tônxtôi, phong cảnh của Sêkhốp được vẽ ra chỉ bằng vài chi tiết rất sắc nét. Ông chống khuôn sáo và mong ước sau khi đọc, bạn đọc nhắm mắt lại vẫn hình dung được phong cảnh đó. Phương châm của ông là: “Tả thiên nhiên phải sinh động, đúng chỗ, ngắn”, “Vẻ đẹp và tính biểu cảm trong tả thiên nhiên đạt được nhờ sự giản dị”[44]. Sêkhốp cho biết nhiều người khen truyện Cơn bệnh thần kinh, nhưng chỉ có nhà văn lão thành Grigôrôvich “để ý tới việc miêu tả tuyết đầu mùa”[45]. Phong cảnh trong truyện Sêkhốp thường được cảm nhận qua tâm trạng nhân vật và thể hiện cái nhìn của người kể chuyện. Đó là một phong cảnh có hồn. Tuy vậy vẫn có phong cảnh chỉ để tạo dựng không khí chân thực và cả phong cảnh thư giãn: “Đôi khi phải cho bạn đọc nghỉ ngơi xa nhân vật và xa tác giả. Phong cảnh, cái gì đó vui nhộn, một mở nút mới, những nhân vật mới có ích cho việc nghỉ ngơi đó”[46].


M.Gorki coi Sêkhốp là bậc thầy về ngôn ngữ: “Về phong cách, Sêkhốp là một nhà văn không ai vượt nổi và nhà văn học sử đời sau khi nói đến sự phát triển của tiếng Nga sẽ nói rằng ngôn ngữ này là do Puskin, Turghênhep và Sêkhốp xây dựng nên”[47]. Sêkhốp cho rằng “văn hoá càng cao, ngôn ngữ càng phong phú”, “Ngôn ngữ phải giản dị và đẹp”, có “tình họ hàng bền chặt giữa câu thơ Nga đậm đà và văn xuôi đẹp”. Ông để nhiều công sức trau dồi ngôn ngữ: “Phải làm sao để mỗi câu trước khi nằm trên giấy thì đã nằm trong óc mình hai ngày và trơn chu”, “chị không chăm lo câu văn, phải chăm lo chứ, vì đó là nghệ thuật.”[48] Sêkhốp khuyên Gorki không nên dùng câu phức hợp mà dùng câu ngắn. Nhà văn Xô viết A.Tônxtôi nhận ra sức mạnh của ngôn ngữ Sêkhốp: “Tôi đã đọc lại Sêkhốp. Bí mật những từ ngữ sinh động của ông nằm ở đâu? Đằng sau mỗi câu là một con người sinh động, hơn thế, một điển hình, hơn thế, một thời đại…”[49].


Người kể chuyện có vai trò rất quan trọng trong nghệ thuật tự sự vì nó gắn với giọng điệu, điểm nhìn và cách dẫn chuyện. Mỗi nhà văn, mỗi tác phẩm đều có kiểu người kể chuyện riêng của mình. Là một thủ pháp nghệ thuật, người kể chuyện được xác định theo ngôi kể chuyện (ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba) tương quan giữa tính chủ quan và tính khách quan trong miêu tả và tương quan giữa ba yếu tố: quan điểm nhân vật, thái độ người kể chuyện và lập trường nhà văn.


Sêkhốp có tiêu chuẩn của mình về đánh giá tác phẩm văn học: “Tôi chia tất cả các tác phẩm thành hai loại: những tác phẩm tôi thích và những tác phẩm tôi không thích”[50] tuy ông chưa cắt nghĩa được vì sao mình thích Sêcxpia. Năm 26 tuổi, trong thư gửi anh trai, Sêkhốp nói về sáu tiêu chuẩn tác phẩm hay: “1) Không tuôn ra những từ ngữ dài dòng về chính trị - kinh tế - xã hội; 2) Tính khách quan hoàn toàn; 3) Tính chân thực trong miêu tả các nhân vật và sự vật; 4) Ngắn gọn, cô đọng; 5) Táo bạo và độc đáo, tránh khuôn sáo; 6) Chân thành”. Trong một bức thư khác Sêkhốp viết: “Tính độc đáo của tác giả không chỉ nằm trong phong cách mà cả trong tư duy trong các quan điểm và những cái khác”. Có thể thấy Sêkhốp nhấn mạnh tính khách quan, tính chân thực trong mô tả và cách mô tả độc đáo, ngắn gọn, chân thành, không khuôn sáo. Ông coi trọng cả cái tâm và cái tài của nhà văn.


Trong thời kỳ sáng tác đầu, vào nhữn năm 80 thế kỷ XIX, Sêkhốp bị chê trách là khách quan đến lạnh lùng, thiếu thế giới quan. Nghệ thuật tự sự độc đáo của ông chưa được hiểu đúng. Đây là quan điểm của Sêkhốp về tính khách quan chân chính, đúng đắn trong nghệ thuật: “Anh xỉ vả tôi vì tính khách quan, coi đó là sự thờ ơ trước Thiện, Ác, thiếu lý tưởng và tư tưởng… Anh muốn rằng khi miêu tả bọn ăn trộm ngựa tôi phải nói: trộm cắp ngựa là xấu(…) Cố nhiên thật thích thú nếu kết hợp được nghệ thuật và thuyết giáo, nhưng đối với cá nhân tôi điều này cực kỳ khó và hầu như không thể làm được do điều kiện kỹ thuật. Bởi vì để mô tả bọn trộm ngựa trong 700 dòng, tôi luôn luôn phải nói và nghĩ theo giọng điệu và cảm xúc theo tinh thần của chúng, nói một cách khác, nếu như tôi đưa thêm tính chủ quan vào thì các hình tượng sẽ mờ nhạt và truyện ngắn sẽ không cô đọng như tất cả các truyện ngắn gọn cần phải thế. Khi viết tôi hoàn toàn tin cậy ở bạn đọc, những yếu tố chủ quan còn thiếu trong truyện, chính họ sẽ thêm vào.” (Thư gửi A.X.Xuvôrin năm 1890)[51] Như vậy nhà văn không được tuỳ tiện, áp đặt đối với các nhân vật trong tác phẩm mà “luôn luôn phải nói và nghĩ theo giọng điệu của chúng, cảm xúc theo tinh thần của chúng”.


Một phương diện quan trọng nữa trong nghệ thuật tự sự là lập trường của nhà văn: “Trong các cuộc trò chuyện với anh em viết văn, tôi luôn nhấn mạnh rằng công việc của nghệ sĩ không phải là giải quyết những vấn đề chuyên môn hẹp. Đối với những vấn đề chuyên môn, ở ta có các chuyên gia; công việc của họ là xét đoán về công xã, về số phận của tư bản, về cái hại của nạn nghiện rượu, về giầy dép, về bệnh tật phụ nữ… Nghệ sĩ chỉ nên xét đoán về điều gì anh ta hiểu biết; phạm vi của anh ta cũng có hạn như phạm vi của bất kỳ chuyên gia nào (…), Anh đúng khi đòi hỏi nghệ sĩ phải có ý thức đối với công việc, nhưng Anh nhầm lẫn hai khái niệm: giải quyết vấn đề và đặt đúng vấn đề. Chỉ có điểm sau là bắt buộc đối với nghệ sĩ. Trong Anna Karênina và trong Ônêghin không giải quyết vấn đề gì cả, nhưng chúng vẫn hoàn toàn làm Anh vừa lòng chỉ bởi vì mọi vấn đề trong đó đều đước đặt đúng. Toà án buộc phải đặt vấn đề cho đúng còn hãy để các dự thẩm giải quyết vấn đề mỗi người theo ý riêng” (Thư gửi A.Xuvôrin, 1888)[52].


Sêkhốp còn bày tỏ quan điểm một cách quyết liệt hơn  khi bàn về câu nói của nhân vật trong truyện Những ngọn lửa in năm 1888: “Nghệ sĩ không nên là quan toà đối với các nhân vật của mình và những điều chúng nói mà chỉ nên là người chứng kiến vô tư (…) Sêglôp Lêônchiep trách móc tôi đã kết thúc truyện ngắn bằng câu: “Ta chẳng hiểu quái gì trên thế gian này!” Theo ý anh ấy thì nghệ sĩ – nhà tâm lý phải hiểu, có thế mới là nhà tâm lý. Nhưng tôi không đồng ý với anh ấy. Những người viết, đặc biệt là các nhà văn, đã đến lúc phải thừa nhận rằng trên thế gian này anh chả hiểu quái gì cả như có lúc Xocrat đã thừa nhận và như Vônte đã thừa nhận. Đám đông nghĩ rằng họ biết hết mọi thứ, hiểu hết mọi thứ; và họ càng ngu xuẩn thì dường như tầm nhìn của họ càng rộng hơn. Nếu như nghệ sĩ mà đám đông tin tưởng quyết định tuyên bố rằng anh ta chẳng hiểu gì về những điều nhìn thấy, thì chỉ riêng điều đó tạo ra sự hiểu biết lớn lao trong lĩnh vực tư tưởng và là bước tiến lớn về phía trước” (Thư gửi A.Xuvôrin, 1888)[53]. Như thế là Sêkhốp hoàn toàn tán thành tư tưởng của nhân vật trong truyện Những ngọn lửa và vì thế mà bị phê phán: “Nhưng ông tỏ ra không triệt để khi cho rằng không thể lĩnh hội bản chất các hiện tượng”[54]. Nhưng sang thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, khi nghệ thuật đề cao đối thoại và tinh thần dân chủ thì quan điểm của Sêkhốp lại tỏ ra vô cùng sáng suốt và có tính tiên tri. Sêkhốp không tuyệt đối hoá một tư tưởng nào. Từ năm 27 tuổi, Sêkhốp đã cho rằng: “Mọi cái trên thế gian này đều tương đối và gần đúng” (Thư gửi M.B.Kixêlêva, 1887)[55]. Nhân vật trong Quyết đấu nói: “Không ai biết được sự thật đích thực”. Đọc Sêkhốp cần chú ý tới sự đối thoại cởi mở giữa quan điểm của nhân vật, thái độ người kể chuyện (nói và nghĩ theo giọng điệu nhân vật, cảm xúc theo tinh thần nhân vật) và tư tưởng của tác giả. Sêkhốp luôn tin chắc rằng Mà trong lẽ phải có người cã ta (Nguyễn Du). Vì thế Truđacôp đưa ra nhận xét rất đáng chú ý về “tính chất không hoàn tất, dao động, phi giáo điều của tư tưởng trong hệ thống nghệ thuật của Sêkhốp”[56].


Rất yêu cái đẹp, mong ước tả các điển hình tích cực, nhưng trong “Thời buổi ốm đau” khi “nhà văn không phải là thợ làm bánh kẹo, người trang điểm, kẻ mua vui”, Sêkhốp buộc phải khuấy bút vào “vũng bùn cuộc đời”. Tuy tả cái tiêu cực nhưng Sêkhốp tin rằng “các nhà văn hiện thực thường có đạo đức hơn cả các đại giáo chủ” bởi vì “có những người càng làm quen với vũng bùn cuộc đời càng trở nên trong sạch hơn” (Thư gửi A.Xuvôrin, 1888)[57].


Ngòi bút Sêkhốp luôn hưóng về tương lai và có sức thức tỉnh, dự báo rất lớn: “Anh hãy nhớ rằng các nhà văn mà chúng ta gọi là vĩnh cửu hay chỉ đơn giản là những người viết hay và những người làm ta say mê đều có một dÊu hiệu chung rất quan trọng: họ đi đâu đó và kêu gọi Anh đi theo và Anh cảm thấy không phải bằng lý trí mà bằng toàn bộ con người mình rằng họ có một mục đích nào vậy (…) Những người ưu tú trong bọn họ có tính hiện thực và họ viết về cuộc sống như nó vốn có nhưng vì mỗi dòng đều thấm đẫm mục đích như thấm nhựa, nên ngoài cuộc sống như nó vốn có, Anh còn cảm thấy cuộc sống như nó cần phải có và điều đó quyến rũ Anh” (Thư gửi A.Xuvôrin, 1892)[58].


Sức sống của truyện ngắn Sêkhốp hàng trăm năm qua chứng tỏ cái mới của nó. Sêkhốp “đã đẩy hình thức tiến lên phía trước” (L.Tônxtôi). Còn Sêkhốp có phải là nhà cách tân truyện ngắn không – đó là vấn đề còn bỏ ngỏ dành cho các đối thoại và khám phá trong tương lai.


 


Bài viết nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày mất A.P.Sêkhốp


Hà Nội - 2004


GS. Nguyễn Hải Hà


Đại học Sư phạm Hà Nộiải hàhải


 


 


--------------


[1] Dẫn theo A.P.Truđacốp, Thi pháp Sêkhốp, NXB Khoa học, Matxcơva, 1971, các tr.175-179.


[2] Tài liệu vừa dẫn, tr. 175 - 179.


[3] Theo Phan Hồng Giang, Sêkhốp, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1977, tr. 138-141.


[4] Lep Tônxtôi, Về nghệ thuật và văn học hai tập, NXB Nhà văn Xô viết, Matxcơva, 1958, Tập II, tr. 148. Mấy lời vàng ngọc này do chính Tônxtôi viết ra là chỗ dựa chắc chắn để ta tìm hiểu Sêkhốp. Những người cùng thời cũng đã ghi lại những ý tưởng gần giống như thế nhưng cách nói mạnh mẽ hơn: “nghệ sĩ vô song”, “Sêkhốp đã sáng tạo ra những hình thức viết lách, theo ý tôi hoàn toàn mới đối với toàn thế giới, tôi chưa thấy ở đâu những hình thức giống như thế” (Tập II, tr. 156), “Sêkhôp đó là Puskin trong văn xuôi” (Tập II, tr. 156) Những ghi chép này chỉ để tham khảo.


[5] Lịch sử văn học Nga thế kỷ XIX do Giáo sư X.M.Pêtơrôp chủ biên, NXB Sách giáo khoa sư phạm Bộ Giáo dục Cộng hoà Liên bang Nga, Matxcơva, 1963, tr. 702.


[6] Gorki, Bàn về văn học, hai tập, NXB Văn học, Hà nội, 1970, Tập II, tr. 470 - 471.


[7] Các nhà văn Nga bàn về công việc văn chương, bốn tập, NXB Nhà văn Xô viết, Matxcơva, 1956, Tập 4, tr. 141.


[8] Các nhà văn Nga bàn về công việc văn chương Tập 3, tr. 333, 423, 424, 425, 427, 428.


[9] Tài liệu vừa dẫn, tập 1, tr. 304


[10] Báo Văn học (Liên Xô) số 6, ngày 7 tháng 12 năm 1990.


[11] Các nhà văn Nga bàn về công việc văn chương Tập 3 tr. 346-347.


[12] Lep Tônxtôi, Về nghệ thuật và văn học,  Tập II, tr. 143-144.


[13] Các nhà văn Nga bàn về công việc văn chương, Tập 3, tr. 426. [14] Các nhà văn Nga bàn về công việc văn chương, Tập 3, tr. 226 và 622.


[15] Gorki, Bàn về văn học, Tập I, tr. 47.


[16] Các nhà văn Nga bàn về công việc văn chương, Tập 3, tr. 350 và 351.


[17] Gorki, Bàn về văn học,Tập II, tr. 341.


[18] Phan Hồng Giang, Sêkhốp, tr. 129.


[19] Gorki, Bàn về văn học, Tập II tr. 343.


[20] Các nhà văn Nga bàn về công việc văn chương, Tập 3, tr. 346.


[21] Tài liệu vừa dẫn, Tập 3, tr. 354-355.


[22] Tài liệu vừa dẫn, Tập 3, tr. 391.


[23] Tài liệu vừa dẫn, Tập 3, tr. 399.


[24] Tài liệu vừa dẫn, Tập 3, tr. 394, 413.


[25] Lịch sử văn học Nga thế kỷ XIX, tr. 728, 710.


[26] Các nhà văn Nga bàn về công việc văn chương, Tập 3, tr. 391 và 356.


[27] Tài liệu vừa dẫn, Tập 3, tr. 407.


[28] Truđacôp, Thi pháp Sêkhốp, tr. 244.


[29] Tài liệu vừa dẫn, tr. 199.


[30] Tài liệu vừa dẫn, tr. 275.


[31] Tài liệu vừa dẫn, tr. 274.


[32] Các nhà văn Nga bàn về công việc văn chương, Tập 3, tr. 423, do chóng t«i nhÊn m¹nh (N.H.H).


[33] Tài liệu vừa dẫn, tr. 343.


[34] Tài liệu vừa dẫn, tr. 338.


[35] Tài liệu vừa dẫn, tập 3 tr. 368.


[36] Gorki, Bàn về văn học, Tập II, tr. 341.


[37] Các nhà văn Nga bàn về công việc văn chương, Tập 3 tr. 390.


[38] Lịch sử phê bình Nga, tr. 433.


[39] Các nhà văn Nga bàn về công việc văn chương, Tập 3, tr. 392.


[40] Các nhà văn Nga bàn về công việc văn chương, Tập 3, tr. 406.


[41] Tài liệu vừa dẫn, tr. 353.


[42] Tài liệu vừa dẫn, tr. 406.


[43] Tài liệu vừa dẫn, tr. 342.


[44] Tài liệu vừa dẫn, Tập 3, tr. 359, 361.


[45] Tài liệu vừa dẫn, Tập 3, tr. 426.


[46] Tài liệu vừa dẫn, Tập 3, tr. 417-419.


[47] Gorki, Bàn về văn học, Tập I, tr. 51.


[48] Tài liệu vừa dẫn, Tập 3, tr. 334.


[49] Tài liệu vừa dẫn, Tập 4, tr. 540.


[50] Tài liệu vừa dẫn, Tập 3, tr. 333.


[51] Tài liệu vừa dẫn, Tập 3, tr. 350.


[52] Tài liệu vừa dẫn, Tập 3, tr. 348-349.


[53] Dẫn theo Truđacôp, Thi pháp Sêkhốp, tr. 250.


[54] Lịch sử văn học Nga thế kỷ XIX, tr. 703.


[55] Các nhà văn Nga bàn về công việc văn chương, Tập 3, tr. 346.


[56] Truđacốp, Thi pháp Sêkhốp, tr. 262.


[57] Các nhà văn Nga bàn về công việc văn chương, Tập 3, tr. 346.


[58] Các nhà văn Nga bàn về công việc văn chương, Tập 3, tr. 337.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
Trúc Thông: Phơi xanh giữa trời và lẳng lặng - Trần Nhật Minh 09.10.2017
Trong vườn thơ Trúc Thông - Nguyễn Trọng Tạo 09.10.2017
Vua phóng sự Ryszard Kapuscinski - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Hoàng đế – cuốn sách về chế độ toàn trị Etiopia - Maciej Skórczewski 07.10.2017
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Nghe Tô Hoài, đọc lại Vũ Bằng - Đỗ Trung Lai 02.10.2017
xem thêm »