tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21070028
Tiểu thuyết
01.12.2010
Triệu Xuân
Bụi đời

Hùng xả láng là người được dân ken Sài Gòn kính nể bởi có một quá khứ oanh liệt. Sinh ra trong một gia đình khá giả, Hùng được học hành đến nơi đến chốn, trở thành nhân viên thuế quan tại phi trường Tân Sơn Nhất. Với mã ngoài rất điển trai, Hùng được nhiều cô gái mê. Hùng lấy vợ sớm, theo ý cha mẹ. Vợ chồng Hùng có ba con. Hồi đó, sếp của Hùng chính là Trần Thiện Khởi, em ruột thủ tướng Trần Thiện Khiêm. Nhằm phục vụ tối đa cho quân đội viễn chinh Hoa Kỳ, chính phủ Sài Gòn đã ra công văn mật số 139/BXH/VP/N ngày 27-7-1965, quyết định thiết lập các trung tâm giải trí cho quân nhân Mỹ. Ngay lập tức tại Sài Gòn, Biên Hòa, Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Nẵng... mọc lên nhan nhản các giải trí trường. Thực chất của các trung tâm giải trí là các ổ xì ke và gái mại dâm. Không có một thứ gì trên trần gian này kinh doanh có lời to bằng xì ke và gái. “Hùng xả láng” là biệt danh của giới ăn chơi đặt. Hùng được tuyển lựa vào đội quân tiếp vận ma túy cho các trung tâm giải trí nói trên. Hùng xài tiền như nước, bồ bịch cả trăm, đi Viêng Chăn, Băng Cốc, Đà Lạt, Buôn Mê Thuột... như đi chợ. Hùng được giao thực hiện nhiều công vụ đặc biệt. Chính Hùng đã từng bay đến Chiềng Mai(1), rồi từ đó bí mật đến gặp tướng Đoàn Sĩ Văn tại Mesalong để đàm phán về việc chuyển thuốc phiện bằng cầu không vận trực tiếp từ Mesalong đến Tân Sơn Nhất, không cần chở qua Lào như trước nữa. Đoàn Sĩ Văn nguyên là chỉ huy đạo quân số Năm của Tưởng Giới Thạch, bị Hồng quân Trung Quốc đánh tan và bị bắt ở Vân Nam sau thắng lợi của Cách mạng Trung Quốc năm 1949. Đoàn Sĩ Văn đã cùng bọn tàn binh trốn sang vùng Tam Giác Vàng, và trở thành đội quân thổ phỉ, buôn lậu khét tiếng ở vùng này. Cũng chính Hùng xả láng đã hai lần đến gặp Khunsa, trùm thuốc phiện ở vùng giáp giới Thái Lan - Miến Điện, để ký hợp đồng mua thuốc.


Các ông lớn của chính phủ Sài Gòn rất tin cậy Hùng. Đây là thời huy hoàng nhất đời Hùng xả láng. Giám đốc sân bay, giám đốc thuế quan tại Tân Sơn Nhất, đô trưởng Sài Gòn, cảnh sát trưởng, v.v. đều biết Hùng và rất vị nể Hùng. Năm 1970, vì giành giật với một đại úy phi công Mỹ một cô gái bán bar cực kỳ xinh đẹp, Hùng đã đâm chết viên đại úy Mỹ và bị xử tù chung thân. Các ông lớn đã can thiệp. Án tù rút xuống còn mười năm, nhưng Hùng bị đày ra Côn Đảo.


Hùng ra Côn Đảo một năm thì được tin mẹ chết. Cha Hùng rất buồn khổ, lâm bệnh nặng. Hùng nhớ vợ, nhớ con và rất thương cha. Trong tù, Hùng không còn héroine để chơi. Hùng nuối tiếc quãng đời oanh liệt... Đêm đêm, Hùng ao ước được tự do, được tiếp tục ăn chơi xả láng cuộc đời. Những lúc ấy, Hùng chỉ mong được bay ngay về Sài Gòn, được nhìn thấy người thân dù chỉ một phút. Hùng thương nhất đứa con gái đầu lòng; nó đẹp, giống Hùng như đúc.


Nằm ngục năm năm thì Côn Đảo được giải phóng, Hùng được Cách mạng phóng thích.


Bước chân xuống đất Sài Gòn, Hùng không về nhà vội, mà đi thẳng đến hẻm Nhạn Trắng để nằm lì tại đó chích suốt hai ngày. Chích đã đời, Hùng mới lết về nhà và mới biết tin: Vợ đã cặp bồ với người khác để di tản. Ba đứa con Hùng bơ vơ, ông già của Hùng lâm bệnh suyễn rất nặng.


Thất vọng, Hùng lại lao vào ma túy tìm quên lãng. Hùng về, không có tiền, chà đồ nhôm(1) đem bán dần. Rồi trong nhà không còn vật gì đáng giá để bán nữa. Cha Hùng khuyên giải thế nào Hùng cũng không nghe. Cái chết đến với người cha gần kề. Ông còn chiếc nhẫn cuối cùng - nhẫn cưới - đưa cho Hùng bán để mua thuốc. Hùng ra đi khi ông đang nghẹt thở. Bán được nhẫn, lẽ ra Hùng phải đi mua thuốc cho cha thì lại lao vào hẻm Nhạn Trắng. Hùng chơi ba xê đúp một lần. Sáng, Hùng chơi một cữ, nằm lì đến trưa lại chơi tiếp một cữ. Tối, Hùng chích cữ thứ ba và rơi vào giấc ngủ vùi trong vòng tay của một cô gái cũng là dân ken thứ thiệt, sau khi hai đứa làm tình với nhau. Cô gái chờ cho Hùng ngủ mê mệt, vét sạch số tiền còn lại trong túi Hùng rồi dông. Hùng tỉnh dậy, về đến nhà, cha Hùng đã tắt thở. Đờm vít chặt phế quản của cha. Hùng hiểu, chỉ cần có viên thuốc suyễn kịp thời, cha Hùng chưa chết.


Ân hận dày vò, Hùng chỉ còn biết tự giết mình bằng độc dược: ma túy. Hùng bán nhà lấy tiền chích. Ba đứa con, Hùng bắt chúng nó đi ăn xin. Mỗi ngày, cha con gặp nhau tại bùng binh Sài Gòn. Mỗi đứa con đều phải nộp tiền cho Hùng. Nhận tiền của các con, Hùng vô hẻm Nhạn Trắng “cúng” hết.


Vào một buổi chiều mưa tầm tã, đứa con gái lớn của Hùng đã mười lăm tuổi dẫn hai đứa em thất thểu chạy về gặp cha ở mái che của trạm xe buýt bùng binh Sài Gòn. Nó không có tiền đưa cho Hùng. Nó vừa bị một thằng lớn hơn trấn lột sạch. Hùng đánh con, cho là nó nói láo. Hùng co cẳng đạp con té sấp, lăn ra mặt đường. Con bé khóc rú lên thảm thiết, lồm cồm bò dậy rồi... bỏ đi luôn. Mấy ngày sau, nó gặp lại Hùng. Nó đưa cho Hùng một xấp tiền. Hùng cầm tiền lao ngay đến hẻm Nhạn Trắng. Mãi ba ngày sau đó, đứa con thứ ba mới nói cho Hùng biết:


- Chị Hai đi làm gái để lấy tiền đưa cho ba!


Hùng nhận được tin này khi đang tỉnh. Hùng gào khóc thảm thiết, giữa ban ngày, giữa trạm chờ xe buýt:


- Tôi là thằng khốn nạn! Tôi đã giết cha, đã đẩy con gái đi làm đĩ để hút chích. Trời ơi là trời! Hãy phanh thây tôi ra. Tôi là thằng khốn nạn...


Vừa gào khóc, Hùng vừa đập đầu vào cột xi măng của nhà chờ xe. Máu vọt ra từ mang tai, từ  trán Hùng.


Ông Quang đang chờ xe đi Bình Triệu. Ông đã đến nâng Hùng dậy.


Hùng theo ông vào trường, coi ông Quang như cha của mình.


Sau ba năm ở trường, sau ba lần đi phép “thử thách”, Hùng kiên tâm không chơi ma túy nữa. Bây giờ, các con của Hùng đã có chỗ ở, được chòm xóm cưu mang, được đi học lớp ban đêm. Hùng vẫn dành tiền gửi về nuôi con. Đứa con gái lớn đã trở thành nhân viên kế toán của nông trường Phú Văn. Ông Quang quyết định cử Hùng làm đội phó đội bảo vệ.


Ca sóc còn rất trẻ, chỉ bằng nửa tuổi Hùng. Ca được mang biệt danh “Ca sóc” vì quả là nó lẹ như con sóc; làm bất kỳ việc gì, cũng chỉ một loáng là xong. Nó đi bộ bằng các cô gái đạp xe đạp. Ca là “dân bụi thủ đô”. Nó vẫn tự gọi mình như thế. Bố nó làm to lắm, chuyên xét duyệt người đi nước ngoài. Ca phát hiện ra bố nó thường nhận của hối lộ. Ai có vàng lo lót cho bố nó thì được đi. Nó bảo: “Bố phải từ bỏ việc làm đó. Sao bố dạy con hay thế, còn bố thì... tồi...”. Hai bố con cãi nhau. Bố nó đuổi đánh nó. Nó đến thẳng cơ quan nói ầm lên mọi chuyện với chứng cớ hẳn hoi: bà nào, ông nào đến vào ngày giờ nào, lo lót cho bố nó bao nhiêu... Rồi nó bỏ nhà ra đi. Nó nghĩ, bố nó là đảng viên Cộng sản, chức vụ to thế mà còn ăn hối lộ, tức là ăn cắp, thì nó ăn cắp có xấu gì. Thà tự mình đi ăn cắp để sống, còn hơn phải sống bằng đồ ăn cắp của bố!


Ca lên tàu Thống Nhất và bắt đầu hành nghề. Nó rất nhanh tay, nhanh mắt, nhanh chân. Cú đầu tiên, vớ ngay được chiếc va li, trong đó có hai kí lô thuốc phiện. Nó rất sành thuốc phiện. Ông nội nó trước đây vẫn hút. Nó làm bồi tiêm cho ông nội. Ông nó mới chết được một năm.


Nó vô Sài Gòn dò tìm ra mối bán thuốc. Nó gặp được người đã từng bán thuốc cho ông nội. Lão ta tên là Thượng. Thượng trả tiền nó sòng phẳng. Ca gia nhập giới bụi đời Sài Gòn. Nó không để ai xí gạt bao giờ. Nó tự hào là “dân bụi thủ đô”, ăn chơi sành điệu. Thấy dân ken Sài Gòn chích xì ke vào gân máu, nó cũng chích. Sợ đếch gì. “Dân bụi thủ đô” cơ mà! Có lẽ vì cái bệnh sĩ ấy mà ở Sài Gòn được hai tuần lễ, nó đã chơi xì ke đều đều rồi. Xài hết số tiền bán hai kí thuốc phiện, nó đi phi đổng, bấm vàng. Có một mình, nó sống phây phây.


Đến năm 1979, nó bị bắt trong một ổ xì ke ở quận Tư. Đây là một sự ngẫu nhiên. Không dễ gì công an khám phá ra ổ chích choác này. Chủ nhân rải bọn đàn em canh chèo(1) từ rất xa. Khi có động, chủ nhân phi tang liền. Lần đó, Ca đột nhập khách sạn Cửu Long(2), xách được cái máy ảnh của một khách nước ngoài. Công an phải sử dụng chó nghiệp vụ. Và con chó tinh khôn ấy đã dẫn công an đến thẳng quận Tư, leo lên lầu hai của căn hộ ở đường Nguyễn Tất Thành. Ca đổi cái máy ảnh cho chủ “ổ”, lấy bốn cữ hai xê đúp. Nó đang nằm một xó thả hồn phiêu du trong cơn phê thì công an đến. Ca lẹ như sóc nên thoáng một cái là phóng được xuống mặt đường. Công an ở dưới đường tóm được nó. Chủ nhân khai mua máy ảnh của Ca. Ca bị bắt và bị phạt tù. Trong tù, nó lên cơn vã, bị sốt rét, bị đau gan... Người ta đem Ca đi cấp cứu, rồi đưa nó vào Fatima. Ca sóc năm nay mới hai mươi tuổi. Đó là một chàng trai thông minh. Ông Quang đánh giá về nó như thế. Ca và Hùng đã tỏ ra rất dũng cảm trong các đợt truy quét ổ chích choác. Ông Quang quyết định cử Ca sóc làm đội phó đội bảo vệ, đặc trách việc truy quét các ổ buôn bán ma túy.


Tín Tạczăng là một nhân vật đặc biệt. Nhà Tín thuộc loại nghèo, nhưng cha mẹ cố công cho hai chị em Tín ăn học. Chị ruột Tín đang học năm thứ hai Đại học Luật khoa thì lọt vào “mắt xanh” của tướng Nguyễn Cao Kỳ. Kỳ đã có vợ. Chị Tín chấp nhận là “bồ nhí”, hai người bí mật sống với nhau như vợ chồng. Tín thi rớt tú tài, bị bắt lính. Tín trốn lính, tự phong cho mình biệt hiệu “Tạczăng” rồi trở thành trùm băng cướp. Tín Tạczăng chuyên thi hành những vụ cướp nhà băng, những vụ tống tiền nhằm vào các nhà giàu, giới có quyền cao chức trọng của chế độ Sài Gòn. Mỗi lần trúng quả, Tín có bạc triệu. Đệ tử của Tín rất mê Tín, coi Tín như vị thánh và rất trung thành với Tín. Cảnh sát trưởng Sài Gòn treo giải thưởng lớn để bắt Tín Tạczăng. Hai lần bị bắt, cả hai lần Tín đều “biến” rất tài tình. Lần thứ ba, Tín bị vô khám Chí Hòa. Nằm khám được một tuần, đệ tử của Tín lại lo cho Tín thoát. Những vụ trấn lột tiếp tục diễn ra. Tín thường thuê loại xe hơi đắt tiền; có nhiều lần, dùng cả xe của tướng Kỳ để trấn lột. Nhân viên của các nhà băng lớn, thư ký của một số hãng buôn, hãng xuất nhập cảng đều là tai mắt của Tín. Tín thuê biệt thự và sống như hoàng đế không ngai. Lâu lâu, Tín mới ghé thăm nhà, ở với vợ con một hai đêm... Trong một cuộc bắt cóc tống tiền không thành, Tín bị bắt. Lần này, Tín phải nằm nhà lao khá lâu. Ra tù, Tín phải đăng lính. Lại trốn lính; Tín bị bắt làm lao công đào binh và bị đưa ra vùng Một chiến thuật.


Khi quân Giải phóng tiến vào Huế, Tín theo đám tàn quân của Lê Quang Trưởng chạy vào Đà Nẵng. Tại bãi biển Mỹ Khê, Tín Tạczăng bị trúng đạn, máu chảy quá nhiều. Sáu tiếng đồng hồ sau, người ta mới tìm thấy Tín, khi nước thủy triều lên và sóng biển sắp cuốn xác Tín ra khơi. Rất may là viên đạn không vào chỗ hiểm. Tín chỉ bị cắt mấy đoạn ruột và một phần bao tử. Các bác sĩ của quân Giải phóng đã cứu Tín Tạczăng.


Lành bệnh, Tín về Sài Gòn. Bệnh ghiền héroine làm cho Tín ngốn sạch tiền của trong nhà. Vợ con Tín không dám khuyên ngăn. Căn nhà bị bán... Vợ con Tín về quê ngoại. Tín lang thang kiếm sống để chích. Trong đợt truy quét đầu năm 1976, Tín bị hốt vào trường Fatima. Tín hung hăng như một con cọp. Tín căm thù tất cả nhân viên của trường. Tín vượt tường rào, bị bắt, Tín đánh lại cảnh sát, cướp được súng. Tín bấm huyệt viên cảnh sát, dùng anh ta như lá chắn, rồi cầm súng khống chế những người xung quanh để mở lối thoát ra khỏi trường. Đúng lúc đó, ông Quang xuất hiện. Ông Quang nói với Tín:


- Anh quyết tâm trở lại với ma túy, với cái chết sao? Nếu anh quyết như vậy, cứ đi đi. Không ai giữ anh ở lại đâu. Không ai ngăn cản anh đâu. Nhưng tôi, nhân danh một con người, tôi mong anh hãy ở lại. Đây là nơi giúp những người ghiền trở lại cuộc sống con người. Đây không phải nhà tù...


- Không phải nhà tù, sao có cảnh sát canh gác ngày đêm? Không phải nhà tù, sao mà đi tiểu cũng phải xin phép? Nói là tự do mà sao muốn ra ngoài không được? Các ông là bọn Việt Cộng chỉ quen nói láo, nói một đằng, làm một nẻo. Tôi thù các ông!


Ông Quang vẫn kiên nhẫn:


- Anh mới vô trường. Thực tế ở đây anh chưa hiểu hết đâu. Hãy nán lại thêm một thời gian nữa, anh Tín à. Chừng nào, anh thấy chúng tôi quả là bọn nói láo, nói một đường, làm một nẻo, lúc đó, anh ra đi cũng chưa muộn.


Nghĩ đến quá khứ của mình, một trùm băng cướp, có nhiều tiền án tiền sự, Tín Tạczăng lo sợ bị trả thù, bị vô tù trở lại... Bởi thế, Tín nhất quyết thoát ra khỏi đây:


- Không nhiều lời. Né ra cho tôi đi. Nếu không, tôi bắn chết.


Ông Quang cười, bình tĩnh tiến đến trước họng súng của Tín Tạczăng:


- Cách mạng đã cứu sống anh một lần ở bãi biển Mỹ Khê - Đà Nẵng. Nay, Cách mạng muốn cứu anh thoát khỏi ma túy. Thiện chí là thế. Không lẽ anh lại xóa sạch ơn nghĩa đó sao?


Tín Tạczăng đứng đó, mắt mở trừng, lặng người đi. Ông Quang xòe hai bàn tay, nhìn vào mắt Tín. Tín như một đứa bé bị thôi miên, lặng lẽ và ngoan ngoãn đưa khẩu AK báng gấp cho ông Quang.


Từ ngày đó, Tín Tạczăng trở thành một con người hoàn toàn khác. Tín đi đầu, hăng hái trong lao động, rèn luyện. Tín được tập thể bầu là trưởng ban trật tự. Mỗi kỳ đi phép, bao giờ Tín cũng đưa về trường được mươi người ghiền. Đã ba lần, Tín tham gia chống bọn buôn lậu ma túy. Đích thân Tín bắt được hai tên chuyên buôn bán ma túy cỡ bự tại Sài Gòn. Ông Quang cho Tín ra trường, về nhà với vợ con; Tín xin ở lại trường làm nhân viên. Tín coi ông Quang là cha nuôi của mình...


Ông Quang lập danh sách đội bảo vệ: Số một, Trần Trung Tín (Tín Tạczăng) - đội trưởng. Số hai, Nguyễn Hùng (Hùng xả láng) - đội phó. Số ba, Phạm Văn Ca (Ca sóc) - đội phó...


 


CHƯƠNG BA


- Bọn Fatima!


Những tiếng kêu thất thanh - tiếng rú thì đúng hơn - vang đến tai Ngọc Diệp. Người ta chỉ có thể thốt ra những âm thanh kiểu đó khi đứng trước tai họa khủng khiếp nhất. Tiếng kêu đầu tiên Diệp nghe thấy được là của Phi. Dường như cùng một lúc, cả khu ga Sài Gòn đồng thanh vang lên những tiếng rú:


- Bọn Fatima! Bọn Fatima!


Đối với dân ken Sài Gòn, từ ngày 23 tháng mười một năm 1975, Fatima có nghĩa là địa ngục.


Diệp bị bắt vào Trường Phục hồi nhân phẩm phụ nữ mấy lần, đều tìm cách thoát. Cô chưa bị bắt vào Fatima. Fatima đối với cô còn là huyền thoại. Cô chỉ nghe qua lời kể. Nhưng Phi đã bị vô đó một lần. Phi không kịp hiểu thực trạng của nó ra sao. Lần ấy, Phi bị bắt trong cảnh đang vật vã ở bến đò Thủ Thiêm. Vô trường được một giờ đồng hồ, cô phải đi nhà thương cấp cứu vì bị sốt rét ác tính. Ngắt cơn sốt, cô trốn khỏi nhà thương... Ám ảnh về địa ngục Fatima khiến mỗi lần nghe thấy âm thanh đó, trong người cô bản năng sinh tồn trỗi dậy, cô tìm mọi cách để thoát thân.


Phi chạy thục mạng. Cô đã vọt qua được lỗ hổng của bức tường ngăn cách nhà ga với đường Lê Lai. Nhưng Ca sóc còn lẹ chân hơn cô. Ca chỉ còn cách Phi vài bước. Một dãy ba chiếc xe buýt đậu liền nhau trước nhà hàng Lê Lai. Phi chạy tới đầu chiếc xe thứ nhất, phóng qua đường là thoát. Cô nghe thấy tiếng chân của người đuổi theo sau rất gần. Cô có cảm giác người đó sắp túm được tóc hay áo của cô. Phi dồn sức. Tới rồi! Đầu chiếc xe buýt đây rồi. Cô phóng qua đường. Đúng lúc đó, một chiếc xe ba bánh gắn máy đang mở hết tốc lực chạy về hướng nhà thờ Huyện Sỹ. Tiếng rú của Phi, tiếng rít của thắng xe, và kế đó là tiếng va chạm ghê sợ của chiếc xe ba bánh gắn máy lao vào đầu chiếc xe buýt.


Phi bị kẹt vào giữa hai chiếc xe. Khó khăn lắm mới lấy được cô ra. Người đang ẵm cô trên tay chính là Ca sóc. Nước mắt Ca lã chã trên thân thể người con gái.


- Nó là bạn tôi. Phải cho tôi ở lại với nó! - Ngọc Diệp hét ầm lên, cố hết sức lao xuống.


- Không được! - Hùng xả láng ôm chặt Diệp, không cho cô lao từ trên thùng xe tải xuống đường.


- Hãy để tôi đưa cô ấy lại. Họ là bạn của nhau, ai nỡ... - Tín Tạczăng chậm rãi nói với Hùng - Nào, cô đi với tôi.


Diệp nhào tới nắm lấy tay Phi, khóc nức nở:


- Phi ơi! Tỉnh lại đi. Mày tính bỏ tao hay sao Phi? Nếu mày chết, tao sẽ chết theo mày, Phi ơi!


Người ta không để cho Diệp nắm tay Phi nữa. Phi đã bất tỉnh. Ông Tình - phó giám đốc Fatima - cùng với Ca sóc đưa Phi vào bệnh viện cấp cứu. Chiếc xe tải chở Ngọc Diệp cùng hơn ba chục dân ken rời khu ga Sài Gòn hướng về Bình Triệu. Một chiếc xe khác - xe Jeep - chở mụ Sáu, người chuyên nhận thuốc của Kim Chi để chích dạo tại ga. Mụ Sáu bước lên xe công an mà mặt cứ tỉnh queo. Mụ tin chắc chắn rằng, chỉ vài giờ sau là mụ được thả vì “không tang chứng”.


Ngọc Diệp bị lôi lên xe. Đúng hơn là Tín Tạczăng, sau khi thuyết phục Diệp không được, đã ẵm cô ấn lên xe.


Dọc đường về trường, Diệp la hét. Suốt đêm ấy, Diệp tiếp tục la hét, phản đối và khóc.


- Nó là bạn tôi, là người cuối cùng mà tôi có thể tin cậy. Chính các ông đã giết nó. Nó đâu có làm gì hại đến các ông? Sao các ông ác nhơn quá hà!


Tín Tạczăng và Hùng xả láng thay nhau “năn nỉ” cô, nhưng vô hiệu.


- Phải cho tôi vô nhà thương chăm sóc nó. Nếu không cho, tôi đập đầu chết liền cho các ông coi nè!


Ông Quang xuất hiện với một ấm trà trên tay. Ông đứng ở cửa nhìn Diệp hồi lâu. Ông đưa mắt ra hiệu cho Tín và Hùng ra ngoài. Bác sĩ Thọ và y tá Mai thấy ông vào cũng lặng lẽ rút lui. Họ biết rằng, nếu ông Quang không thuyết phục được người bệnh này, họ sẽ buộc phải dùng thuốc ngủ cho người bệnh. Ông Quang rất nghiêm khắc về việc này. Theo ông, làm cho người ta ngủ đi, rồi mê mệt để không phản ứng, chả khó khăn gì. Nhưng đó đâu phải là biện pháp nhân đạo. Hãy giữ lấy sự tỉnh táo, nhạy cảm của từng nơ ron thần kinh của người bệnh. Để cho người bệnh tỉnh táo, ý thức được mọi việc, sẽ giúp người bệnh tự giác và tự chủ.


Ông Quang nhìn Diệp. Ánh mắt hiền từ của ông đột nhiên như có sức mạnh lạ kỳ, làm cho Diệp dịu hẳn. Cô có cảm giác như ba cô sống lại. Ba cô hồi đó vẫn nhìn cô bằng ánh mắt ấy. Đã năm năm trời nay, cô không còn ba nữa. Vì sao người này lại có ánh mắt của ba? Không thể nào nhầm lẫn. Đây chính là ba cô. Phải thương yêu cô như con đẻ mới có ánh mắt như vậy.


- Cháu la khóc nhiều quá, giọng cháu lạc mất rồi. Có lẽ cháu mệt lắm?


Diệp im lặng, nghe ông Quang nói.


- Ngày xưa, bác cũng có một người bạn thân. Khi anh ấy chết vì mảnh bom Mỹ, bác không ăn, không ngủ được gần tháng trời...


Giọng nói thật êm, nhẹ nhàng và ấm áp, như rót vào tai Diệp, như dòng nước mát thấm vào cuống họng của Diệp đang khát khô vì la hét suốt sáu tiếng đồng hồ. Ông Quang lấy ấm trà mà ông để lại ở chiếc bàn con ngay cửa ra vào, rót đầy ly nước đưa cho Diệp. Diệp run run nhận ly nước nơi tay ông. Mùi trà thơm, nước trà ấm thấm vào người, như cơn mưa đầu tiên trên vùng hạn hán. Cô uống một hơi cạn khô, rồi khóc nấc lên. Nhưng mắt cô ráo hoảnh. Cô khóc mà không ra nước mắt. Lúc này, từ lúc này, cô khóc cho chính cô. Cô nhớ đến ba, và cô không hiểu sao, người này có đôi mắt giống ba cô đến thế.


- Cháu nằm xuống và ráng ngủ đi. Bác sẽ cho cháu vô nhà thương thăm bạn. Ráng ngủ đi nghe cháu. Một giờ sáng rồi. Đừng làm rộn. Ở đây có rất nhiều người cần ngủ để lấy lại sức, cháu ạ.


Những lời thật nhẹ nhàng, y như ba cô vẫn nhắc nhở cô thuở nào. Diệp nghe ông Quang như nuốt từng lời. Cô nhìn ông. Đôi mắt phượng của cô giờ đây sắc đục lấn át vẻ tinh anh vốn có - sắc đục bởi ma túy. Ông Quang nhìn vào đôi mắt ấy, thấy lòng xót xa... Ông đi ra, khép cửa phòng lại. Ở xung quanh, những người cùng bị bắt với Diệp đã ngủ yên. Diệp không khóc, không la, nhưng cũng không ngủ. Làm sao có thể ngủ được trong đêm đầu tiên ở “địa ngục” Fatima? Làm sao có thể ngủ được khi không biết giờ này Phi sống chết ra sao? Diệp rùng mình nhớ lại cảnh hồi chiều: Máu Phi thấm đẫm quần áo, nhễu xuống mặt đường Lê Lai. Chiếc xe ba bánh gắn máy chổng vó lên trời. Người con trai - người của Fatima - ôm xác Phi trên tay, khóc rưng rức. Anh ta cũng thương xót Phi à? Vậy tại sao người ta bảo bọn Fatima ác độc lắm? Ác độc ư? Tại sao lại có người hiền lành đến thế? Diệp nhớ lại người có đôi mắt giống cha mình, mang nước cho mình uống. Cô cảm thấy được vỗ về, an ủi trong ánh mắt ấy.


Mới đó đã năm năm rồi. Đoạn trường năm năm đã qua hiện về trong tâm thức Diệp. Cô muốn quên nó đi nhưng nó cứ tái hiện. Cô muốn nhận chìm nó vào dĩ vãng, nhưng nó cứ đeo đẳng cô, sống với cô trong hiện tại. Khi cô thẩu cục thuốc phiện để phá thai, rồi cô được ông chủ Nam Hải nuôi bao, cô vẫn chưa thể hình dung được cuộc đời rồi sẽ ra sao. Cô mang trong lòng nỗi hận đời. “Đời” ở đây là sự phản bội của má cô đối với ba cô, với cô. Mọi hành động của cô, cô coi như là sự trả thù cho mối hận ấy. Nhưng đã có một lúc nào đó, lý trí hoàn toàn tỉnh táo để giúp cô định hướng lại cuộc đời chưa? Cô không biết nữa. Không ai giúp cô điều ấy. Có một ai chỉ vẽ cho cô thì đó là người mẹ bảo cô đi phá thai với giọng thờ ơ y như khi sai cô đi đổ rác vậy: “Sáng mai, má sẽ đưa con đi phá thai”. Suốt đời, không bao giờ Diệp quên được giọng nói lạnh lùng của má cô trong đêm ấy. Còn ai chỉ vẽ cho cô, ngoài Phi ra? Mà đối với Diệp, chẳng phải Phi hiểm ác, đẩy Diệp vào thế giới bụi đời. Diệp chưa bao giờ oán trách Phi. Đối với Phi, Diệp luôn luôn là đứa bạn gái cần sự giúp đỡ. Phi đã làm mọi cách để giúp bạn. Một công đôi việc: vừa giúp được Diệp, vừa có bạn sóng đôi trên con đường mà định mệnh đã bắt Phi phải lao vào. Phi đã nói với Diệp như thế. Ấy là vào lúc gặp lại nhau tại ga Sài Gòn, Phi mới thổ lộ những điều có ý “tổng kết” cuộc đời. Chứ còn trước đó, cả Phi, cả Diệp không hề vướng bận ý nghĩ: Mình phải làm gì, không nên làm gì? Tại sao mình lại như vậy?... Với lối nghĩ của Diệp, của Phi, ở vào hoàn cảnh đó, ba mươi sáu chước, cái chước “liều nhắm mắt đưa chân” là hay hơn cả. Hoàn cảnh của Diệp, của Phi không đòi hỏi các cô phải bắt trí óc làm việc nhiều. Có chăng, chỉ là một câu hỏi: “Có lợi không? Có nhiều tiền không?”. Và thế là vừa đủ rồi. Cần chi nữa!


Có tiếng gà gáy, rồi nhiều tiếng gà gáy. Trời sắp sáng rồi. Diệp cảm thấy đầu óc bớt căng thẳng. Cô nằm thẳng chân, thẳng tay, cố nhắm mắt ngủ. Vẫn không ngủ được. Ngày mai, Fatima sẽ bắt ta làm gì? Liệu Phi có còn sống không?


Phi ơi, mày tốt với tao quá! Người ta, đã đi làm gái, thường là ích kỷ lắm. Vậy mà mày đã đưa tao vào nhà ông Nam Hải làm chung, không hề sợ bị đuổi việc. Khổ cho mày! Chỉ vì ba cái sái thuốc phiện mà cháu ổng vu cho mày ăn cắp của gia bảo. Chính nó lấy cái vòng ngọc đó chứ còn ai nữa. Chỉ có ba đứa, chắc chắn mày không lấy, tao không lấy. Không nó thì còn ai? Mày bị ông chủ đuổi, tao không làm sao kêu oan cho mày được. Vì đúng vào ngày hôm đó, mày đi chợ mua váy đầm cho tao. Ông chủ dứt khoát tin lời cháu ổng. Thế là mày bị đuổi! Rồi ông chủ bệnh nặng. Tao đã lo sợ nghĩ đến ngày ông chủ chết, sẽ bị hất ra như mày. Tao về nhà. Lần thứ nhất, má tao chửi: “Đi làm đĩ, không được vác mặt về đây nữa”. Tao uất quá, xếp dọn quần áo vào cái giỏ rồi ra đi. Từ lâu, tao vẫn thắc mắc, không hiểu mỗi lần lão Thượng đến đưa cho má tao hai gói hình chữ nhật là gói gì. Lần thứ hai, tao về, cốt trả thù. Má tao không có nhà. Tao mở cửa vô phòng và phá tủ. Tiền bạc chẳng có, vàng cũng không, nhưng tao vớ được hai kí lô thuốc phiện. Đây chính là những món quà lão Thượng vẫn trao cho má tao. Vì hai cái gói hình chữ nhật này mà ba tao chết, tao phải đi hoang. Tao lấy hai kí thuốc phiện, viết mẩu giấy để lại: “Tôi lấy hai gói quà mà ông Thượng vẫn dúi cho má. Tôi sẽ tố cáo với công an khi nào tôi muốn”. Về đến nhà ông Nam Hải, tao cho luôn ổng, gọi là trả cái ơn ổng đã cưu mang tao. Ổng trả tiền hai kí thuốc phiện rất sòng phẳng và ép tao phải nhận. Được hai ngày thì ổng chết. Cháu ổng đuổi tao đi. Thuốc trong nhà còn nhiều, vậy mà một điếu sái nó cũng không cho tao.


Phi ơi! Tao bị lột sạch ngay đêm đầu tiên rời khỏi nhà ông Nam Hải. Chuyện đó tao đã kể cho mày nghe chưa? Chắc là chưa. Hai đứa mới gặp nhau, chưa kịp tàn một cơn say đã bị bắt. Thật là khốn nạn! Bây giờ, tao mới thấm thía bốn chữ mày chàm ở bắp vế: “Xả láng cuộc đời”. Đúng là phải chơi cho xả láng cuộc đời! Để những khi bị bắt, bị chết, đỡ phải tiếc nuối.


Diệp ngồi dậy. Trời chưa sáng hẳn. Không khí ẩm, lạnh từ ngoài cửa sổ ùa vào khiến cô rét run người. Cô ngáp. Gần sáng là gần đến cữ rồi. Liệu sẽ ra sao? Ở đây đào đâu ra thuốc? Cô thấy lạnh từ trong gan ruột lạnh ra. Cô nằm co quắp người lại cho bớt lạnh, hai tay kẹp vào giữa hai đùi, mặt quay vào trong phòng. Trời sáng dần. Cô nhận ra giường cô nằm sát cửa sổ lầu một. Trước mặt cô, trong căn phòng lớn, có khoảng chục chiếc giường cá nhân, trên đó cũng là những hình hài như cô. Họ đang ngủ. Sao họ ngủ ngon vậy? Mình đã bao giờ ngủ được như vậy chưa?


Diệp ngồi dậy. Giá như có bếp lửa mà sưởi. Cô nhớ gốc cây đa cổ thụ ở vườn hoa Gia Long, nơi cô đã bị lột sạch trong đêm đầu tiên rời khỏi nhà Nam Hải. Nơi ấy, cô trú qua đêm, đôi khi dẫn khách về đó đi dù. Những đêm lạnh, cô gom mấy cành cây khô lại đốt lửa để sưởi. Giá như giờ này được ở đó, cô sẽ đốt lên đống lửa lớn để sưởi cho đã. Lạnh quá! Không có cái áo nào để khoác. Diệp trở lại giường, cô lột cái chiếu lên, quấn quanh người. Run bắn vì lạnh, Diệp ngồi dựa vào góc phòng, càng lúc càng run dữ hơn, hai hàm răng va vào nhau lạch cạch. Cô đợi sáng.


*


Nhân đại bàng bị công an vây bắt cùng với ba đệ tử khác khi đang hành nghề trong cửa hàng bách hóa thành phố. Vào phút chót, số phận lại cứu giúp hắn. Khi tận mắt thấy ba tên đàn em bị còng tay, Nhân đại bàng quăng thật mạnh cái bao bố đựng toàn đồng hồ và tiền vào mặt viên cảnh sát đang dùng súng khống chế, rồi bỏ chạy. Súng nổ hết băng nọ đến băng kia, nhưng không viên đạn nào trúng trùm băng cướp. Nhân đại bàng liên lạc với Ngọ qua hộp thư chết. Ngọ gom tiền, vàng hiện có đến nộp cho sếp. Sếp bảo Ngọ:


- Tao lánh mặt khỏi Sài Gòn một thời gian. Có thể là tao đi Cao Miên. Ở bển làm ăn coi mòi trúng lắm! Mày ở nhà cùng thằng Tuấn ngố duy trì hoạt động của hội. Ráng nuôi mấy thằng trong khám, và nhắc tụi nó đừng quên luật giang hồ. Tao qua đó, nếu móc nối được với bọn buôn á phiện ở Thái Lan thì tuyệt vời. Bọn mình chuyển sang nghề mới, mau giàu hơn, mà nhàn nhã hơn.


- Đại ca cứ đi. Em ở nhà, đại ca khỏi lo. Em chỉ huy thằng Tuấn là hết sảy. Nó sáng dạ lắm. Những phi vụ có nó tham gia đều trót lọt. Độ này nó chơi xì ke dữ lắm. Sức mấy mà nó dám trái lời em.


- Mày có mang cho tao thứ đó không?


- Hì hì... Em biết ý đại ca mà. Dạ, có ngay ạ. Thứ này nguyên chất, mắc nhất đó.


- Ừ. Tao đi nghe! Coi chừng có tụi cớm nó bám đuôi.


- Dạ. Từ biệt đại ca!


Nhân đại bàng chụp chiếc nón màu cỏ úa bạc thếch lên đầu, kéo sụp vành nón che kín lông mày, rồi lom khom đẩy chiếc xe Suzuki máy còn rất ngon lành nhưng mã bên ngoài thì dơ bẩn, lủng lẳng hai thùng dầu cặn đằng sau. Áo quần Nhân cũng lấm lem dầu xe. Đúng là bộ dạng của người chuyên đi mua dầu cặn. Ngọ thầm phục tài hóa trang của Nhân đại bàng. Chờ cho Nhân đi khỏi, Ngọ mới rảo bước ra bãi gửi xe để lấy xe về. Nó tạt qua “động” Kim Chi. Nó thích đứa con gái mới mười sáu tuổi của mụ Chi có tên rất điệu: Ngọc Liễu. Biết ý Ngọ, lần nào Ngọ đến, mụ Chi cũng bảo con gái ra chích cho nó.


Từ ngày tập cho Tuấn chơi xì ke, nó mua luôn bộ đồ nghề về nhà để hai đứa chích cho nhau. Nhưng lâu lâu, chọc ghẹo con gái mụ Chi vẫn thinh thích. Gái thì nó đâu có thiếu. Nó khoái nhất là có dịp nào đó, nó chơi con gái mụ để trả thù mụ bán thuốc với giá cắt cổ! Á phiện lên giá hàng tuần; có tuần lên tới ba giá. Ngọ biết là mụ Kim Chi giàu sụ nhờ dân ken.


Mai mốt, đại ca mà móc nối được đường dây chuyển á phiện từ Thái về, mụ Chi có mà ngồi ngáp. Ngọ chìa bắp vế cho con gái Kim Chi chích vào đó ba xê đúp, rồi nằm thừ ra, thích thú với ý nghĩ về đại ca của nó. Rồi nó nằm để cho hồn chu du. Nó rắp tâm ngủ với Ngọc Liễu.


Khi Ngọ từ trên lầu bước xuống, nó đang ở trong trạng thái tinh anh, hưng phấn nhất. Nó thấy Ngọc Liễu đang mở tủ lạnh lấy trái cây ra ăn. Nó dừng lại. Ở trên lầu, mụ Kim Chi đang phê. Mụ vừa tự chích cho mình. Nghĩa là, phải một giờ nữa mụ mới tỉnh. Đây là cơ hội bằng... á phiện của Ngọ. Người vừa no thuốc phiện, thường có nghị lực để làm bằng được bất cứ công việc gì. Nó đi như lướt, đến gần Ngọc Liễu mà con bé không biết. Khi Ngọ cất tiếng, giọng nó thật du dương. Nó nói như hát:


- Ngọc Liễu à! Anh vừa trúng mánh. Anh muốn tặng em một món quà. Không biết em có chịu không?


- Quà gì vậy, anh Ngọ?


Rõ ràng là con bé rất cảnh giác khi mở to mắt nhìn Ngọ.


- Tùy em lựa. Tiền, vàng, hột xoàn...


- Chà! Bữa nay bảnh quá ta. Thôi được, cứ đưa tiền cho em.


Má nó cấm nó chơi xì ke nhưng nó vẫn chơi lén. Nếu thằng Ngọ cho nó tiền, nó sẽ có loại á phiện ngon nhất của má nó. Nó vẫn giấu thuốc để xài khi đi bỏ mối cho khách. Nó sẽ đến nhà bạn nó, thằng bạn học cùng lớp rất bô trai, và hai đứa sẽ vấn vào thuốc lá, xe một đầu lại để hút. Thật tuyệt vời! Nó sẽ được nghe thằng bạn thốt lên thán phục: “Ngọc Liễu sành điệu số một!”. Nó khoái ai khen mình.


- Tiền đây!


Thằng Ngọ rút từ trong túi sau của cái quần jean ra một xấp bạc mới đưa cho Ngọc Liễu. Con bé tròn mắt ngạc nhiên. Lần đầu tiên nó thấy một dân ken có nhiều tiền và đặc biệt lại hào phóng với nó đến thế.


- Anh cho không em à?


- Ừ.


- Em phải cho anh cái gì?


- Vừa vặn một cái hôn mà thôi.


- Hôn à?


- Ừ. Một cái thôi!


Con bé bừng đỏ mặt. Nó cười, lắc đầu, tuy trong bụng lại nghĩ, một cái hôn chứ một trăm cái cũng có hao hụt gì đâu. Má nó già vậy mà tối ngày còn chìa má chìa miệng cho người ta hôn nữa là.


- Ô kê! - Nó thốt ra câu tiếng Anh, cố nhấn giọng anh chị - Vô đi, phòng của em nè. Sá gì một cái hôn mà không cho nhau!


Ngọ bước theo con bé vô phòng. Nó hôn con bé ngay khi vừa khép cửa. Nó cảm nhận môi con bé rất thơm và rất ngọt, rằng da mặt, da cổ, da lưng con bé rất mỏng. Nó kín đáo, lẹ làng gạt chốt cửa lại. Nó vòng tay ôm lưng con bé, ôm rất chặt, và hôn rất lâu. Con bé mềm nhũn ra, nó đặt con bé lên giường...


Ngọ một lần nữa hôn vào cái vú vừa nhú lên như hai cái bánh dày của con bé, rồi nhét xấp giấy bạc vào ngực nó, giơ tay ra ý tạm biệt. Nó biến rất lẹ. Nó biết, nó sẽ còn được vô phòng con bé dài dài nếu thích. Ra đến tiệm ăn Chí Tài, nó dựng xe, vào quán, mặt quay ra ngoài. Nó không còn một xu trong túi. Bụng đói, nhưng nó rất vui. Nó vừa làm thịt con gái mụ Kim Chi. Nhân danh dân ghiền, nó đã trừng trị mụ. Nó biết, không nghề gì hốt bạc nhanh như nghề buôn bán á phiện. Nó biết, mụ Kim Chi pha chế thuốc dởm vào. Dân ghiền mau chết là bởi thế. Nó ăn uống no say, kêu tính tiền. Chủ tiệm đưa cái đĩa có mảnh giấy ghi số tiền ra.


- Tôi thiếu được chớ?


- Dạ, hề hề hề. Chú... quen mà! Có chi đâu.


- Cám ơn nghe. Lâu lâu lỡ bộ một chút.


(còn tiếp)


Nguồn: Bụi đời. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn học tái bản lần thứ 10 năm 2009.


www.trieuxuan.info


 







(1)  Chiềng Mai: thành phố lớn ở Đông Bắc Thái Lan, cửa ngõ đi vào vùng Tam Giác Vàng chuyên trồng cây thuốc phiện.




(1)  Chà đồ nhôm (nói lái): chôm đồ nhà.




(1)  Canh chèo (tiếng lóng): chỉ việc canh gác trước cửa “động”, thấy có nguy hiểm thì báo động để tẩu tán.




(2)  Nay khách sạn này đã lấy lại tên ban đầu của nó là “Majestic” (NBT).



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »