tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20517693
Tiểu thuyết
01.12.2010
Triệu Xuân
Bụi đời

Thằng Ngọ móc túi lấy vàng tính đưa cho Tuấn. Nghĩ sao, nó lại thôi. Đây là số vàng mới trúng quả hồi hôm. Cẩn tắc vô áy náy, đưa vàng cho thằng này lộ bem như chơi. Bảo Tuấn ngồi chờ, nó chui vào xó nhà, lịch kịch một lát rồi ra, đưa cho Tuấn một nắm tiền:


- Chỗ này mua được bốn chỉ. Mày trả nợ, còn lại giữ mà xài.


- Có điều kiện gì không? - Tuấn hỏi, chưa cầm tiền.


- Không! Cầm lấy, đi lo cho êm vụ đó đi.


- Tao... có lúc tao nghĩ xấu về mày. Tao bậy. Cám ơn mày!


- Xì, chuyện vặt! - Thằng Ngọ búng tay tách một cái, nghiêng đầu, lắc vai y hệt cử chỉ của Nhân đại bàng.


Tuấn bước ra đến cửa, thằng Ngọ gọi giật lại:


- Này, tao đi công chuyện một lát. Một tiếng đồng hồ nữa, mày đi chơi với tao nghe. Tao bao mày một chầu. Mày ốm quá, Tuấn à.


Thằng Ngọ phóng xe đi “chuyển hóa” chiến lợi phẩm đêm qua thành tiền mặt. Nó định bụng ngày hôm nay sẽ xài hết phân nửa số tiền này vào mục đích mua đứt thằng Tuấn. Nó vào nhà Tuấn. Căn nhà cùng một hẻm với nhà nó, làm cùng một kiểu nhà sàn trên rạch Thị Nghè: mặt trước trổ ra hẻm, mặt sau là rạch Thị Nghè. Vào mùa mưa, nước dâng tới mặt sàn, đầy rác rưởi, muỗi mòng, rắn rít. Vào mùa kiệt, rạch cạn queo, khi nắng gắt, mùi nước thải bốc lên buồn ói. Hàng ngàn con người chen chúc nhau sống trên hai bờ con rạch này. Thằng Ngọ không biết gia đình nó với gia đình Tuấn về đây ở từ bao giờ. Nó chỉ nhớ rằng, lúc nó còn nhỏ xíu, nó đã đánh nhau với trẻ con cùng hẻm, trong đó có thằng Tuấn; và trong hẻm này chỉ có nó với Tuấn là bơi lội giỏi nhất.


Ngọ lao xe như tên bắn, thắng khựng lại trước nhà Tuấn, chân trái nó gạt cái chống phụ xe 67, rồi bước vào nhà. Tuấn đợi sẵn:


- Đi liền chứ?


“Rõ ràng là Tuấn không muốn cho mình vô nhà. Càng hay”, Ngọ nghĩ nhanh và đáp:


- Ừ. Đi!


Ngọ đưa Tuấn đến một nhà hàng loại sang nhất ở Chợ Lớn. Nó muốn tỏ cho Tuấn biết nó là kẻ ăn chơi sành điệu. Nó gật đầu và cố cười duyên dáng với mấy em tiếp viên của nhà hàng. Nó quen khắp lượt các em. “Tao chỉ cần nháy mắt làm hiệu là mấy con đĩ nửa mùa này dắt tao đi ngủ liền”. Tuấn thoáng nhăn mặt. Sao mày dám khi người ta vậy? Có phải vì mày có chút tiền, muốn mua ai cũng được sao?


Bàn tiệc toàn những món ăn đắt tiền: súp đuôi bò, tôm nướng, gân nai hầm ngọc dương và thuốc bắc, cua rang muối... Nhiều quá. Món nào cũng ngon đến mức Tuấn chưa hề mơ thấy. Nhưng lạ thay, Tuấn ăn không được. Đầu óc Tuấn lởn vởn những dằn vặt: Mình đang tự bán mình. Tuấn chỉ uống nhâm nhi. Chai rượu ngoại loại thượng hạng với những chữ viết tắt “VSOP” mà Tuấn hiểu nghĩa là “sản phẩm đặc biệt lâu năm” đã cạn gần hết. Tuấn mới uống có hai ly; chứng tỏ thằng Ngọ uống dữ quá. Càng uống, mặt nó càng trắng bợt ra, không sạm đen như bản mặt vốn có. Vừa ăn uống, nó vừa rỉ tai Tuấn những chuyện về gái. Nó khoe, nó được rất nhiều em coi là “thần tượng”. Tuấn thờ ơ với tất cả: những món ăn ngon, chai rượu thượng hạng với những chữ viết tắt “VSOP”, những cô em mỹ miều của Ngọ, chiều chuộng Ngọ đủ cỡ đủ cách... Trong đầu Tuấn lúc này hiển hiện ảnh hình của Ngọc Diệp. Chẳng lẽ Ngọc Diệp lại trở thành gái mại dâm? Nhưng cô đã bỏ nhà ra đi. Làm sao không tin được những lời má cô nói. Ngọc Diệp ơi! Mấy tháng qua, anh đi tìm em trong nỗi nhớ thương tuyệt vọng. Anh sẽ tìm em suốt cuộc đời. Cho dù em có hư hỏng, có tàn lụi, anh vẫn tìm em. Đêm nào anh cũng nhớ đến em, ôm em trong mơ, nhớ những âm thanh thốt ra từ miệng em trong lần gặp gỡ cuối cùng: “Anh đi làm đi, chiều rồi đó. Khi nào rảnh, anh đến em nghe!”. “Anh sẽ đến. Ngày mai được không?”. “Đúng hẹn nghe anh! Đừng thất hẹn như lần trước, em nghỉ chơi à!”.


Tuấn biết, từ lần gặp gỡ thứ hai và cũng là lần chót ấy, trong lòng anh sẽ mãi mãi khắc ghi ảnh hình Ngọc Diệp. Tuấn ước mong sao gặp được nhiều khách để anh chở họ, anh kiếm ra tiền, nhiều tiền, nuôi má, nuôi em và... mời Diệp đi chơi. Người ta chở người yêu bằng xe hơi, xe Honda, xe Vespa. Còn Tuấn, Tuấn sẽ chở Diệp bằng chiếc xe xích lô lúc nào cũng láng coóng của mình...


Nhưng điều ấy chỉ là ảo vọng. Khi những ước vọng giản dị, nhỏ bé nhất trở thành ảo vọng thì con người sẽ rơi vào tuyệt vọng. Tuấn chẳng còn gì để mà vui, mà hy vọng nữa. Trước mắt Tuấn chỉ còn một lối thoát: theo Ngọ. Tuấn không có quyền chọn lựa. Tuấn không còn gì để chọn lựa. Tuấn nghĩ: “Định mệnh đã buộc ta vào với Ngọ. Muốn nuôi được má và thằng Hùng, nhỏ Thoa ăn học, chỉ còn cách: theo Ngọ. “Cũng liều nhắm mắt đưa chân...”, hình như có người nào đó đã viết như thế về tâm trạng của một cô gái phải bán mình”. Tuấn ham đọc sách văn học lắm, từ ngày còn đi học cơ, chứ bấy lâu nay lo kiếm sống, Tuấn đâu có đọc được gì. Phải chăng em cũng “liều nhắm mắt đưa chân” hả Diệp? Vì sao trên cõi đời này con người ta lại không thương yêu nhau mà lại bội bạc với nhau như má của em đối với chồng con? Vì sao trên cõi đời này người ta lại phải cách trở, phải nhớ nhau trong tuyệt vọng như anh và em? Không lẽ chỉ vì tiền?


Thằng Ngọ búng tay đánh tách một cái, cô tiếp viên ỏn ẻn chạy đến, cúi thật sát vào Ngọ:


- Anh kêu thêm chi anh?


- Đủ rồi. Tính tiền đi cưng.


Ngọ rút ra một xấp bạc mới cứng đưa cho cô gái, mắt nó dâm đãng nhìn vào mắt cô ta:


- Khỏi thối nghe cưng.


- Anh Hai chơi... điệu quá xá. Cám ơn anh Hai nghe!


- Có chi đâu.


- Khi nào cần... anh Hai kêu em nghe! - Cô ta hạ giọng.


Có lẽ điều thằng Ngọ nói là đúng. Tuấn không hiểu ở tất cả các nhà hàng, các cô tiếp viên có kiểu tiếp khách như vầy không. “Khi nào cần... anh Hai kêu em nghe!”. Cần gì? Sao lại chào hàng một cách trắng trợn đến thế? Tuấn nhìn theo người con gái đang tưng tẩy cố tình đánh mông, lắc ngực để khêu gợi. Ngọ nắm tay Tuấn kéo đi, ghé sát vào tai:


- Nóng máy rồi hả? Đi theo tao!


Thằng Ngọ đã chủ tâm từ trước. Nó sẽ dẫn Tuấn vô xóm nghèo trước. Coi thái độ Tuấn thế nào, nếu Tuấn đam mê, nó sẽ dẫn đến “động xịn” của nó.


Đó là một khu phố nghèo, nằm phía bên tay trái của đường Lê Hồng Phong. Hơn chục năm về trước, đây còn là vùng đất hoang, bãi rác. Sau đó, thương phế binh đến và dựng “nhà”, chốt luôn tại khu vực bến xe này. Ngoại trừ một số nhà ngoài mặt tiền đường Lê Hồng Phong có nghề sản xuất hoặc buôn bán, còn lại đa số gia đình trong những con hẻm nhỏ là ổ chứa gái mại dâm. Mỗi nhà chứa tối thiểu hai cô, có nhà tới tám mười cô thường trực. Đó là chưa kể các cô đứng đường lâu lâu dẫn khách đi dù. Phần lớn số gái mại dâm ở xóm này là gái mang bệnh, bị các chủ “động” sang, thải hồi. Tại đây, giá chơi được coi là rẻ mạt. Bởi thế, chủ chứa hầu như không cần đầu tư một chút xíu gì cho phương tiện “kinh doanh”. Thường, chỉ là một manh chiếu trải trên sàn gỗ của gác xép, gác lửng. Giữa các manh chiếu là những tấm các tông hoặc ri đô bẩn thỉu ngăn cách. Không hề có một chút gì để bảo đảm vệ sinh tối thiểu. Khi Ngọ dẫn Tuấn leo lên một gác xép như thế, Tuấn suýt nữa thì nôn thốc nôn tháo ra tất cả những gì vừa ăn ở nhà hàng. Thằng Ngọ đang cười cợt, đùa giỡn với con bé mà nó kêu bằng Liễu xệ. Có lẽ đó là con bé khá nhất ở nơi này. Tuấn ngồi im, hai tay bó gối, mắt đờ ra nhìn cô gái đã cởi bỏ hết áo quần nằm tô hô cạnh Tuấn. Chờ mãi không thấy khách vào cuộc, cô gái cầm tay Tuấn lắc lắc:


- Yêu em đi!


- ...


- Nào... Để em khởi động cho.


- ...


- Bị liệt dương à?


- ...


Thấy Tuấn vẫn yên lặng, gạt tay không để cho mình rờ rẫm, cô gái liền đổi thái độ, đổi giọng:


- Này, nói cho biết, đằng nào cũng phải trả tiền nghe không! Nếu anh không trả là không xong với tôi đâu!


Có tiếng của Ngọ vang lên:


- Yên chí đi cô em. Qua sẽ trả tiền sòng phẳng mà!


- Chả không chơi mà anh dắt tới đây làm gì? - Vừa mặc quần áo vào, cô gái vừa hỏi lại như gắt.


- Thôi, được rồi mà. Qua sẽ trả tiền. Chơi hay không là quyền của bạn anh chớ. Em qua đây đi nào!


Thằng Ngọ ra hiệu cho cô gái vén tấm vải bẩn thỉu ngăn cách hai manh chiếu lên rồi... nằm xuống. Nó cố ý muốn cho Tuấn nhìn cảnh nó ngủ với hai cô gái. Tuấn không muốn nhìn tiếp nữa. Tuấn xuống nhà dưới. Cái cầu thang lâu ngày quá bị sập dưới chân Tuấn. May mà Tuấn không té nhào xuống vì nhanh tay túm được thanh vịn ở trên. Mấy cô gái ở dưới nhà nhốn nháo. Chúng nó túa ra vây chặt Tuấn. Mỗi đứa một câu độc địa:


- Trông bảnh ra phết mà đần.


- Thằng này liệt rồi bay ơi.


- Ông anh ăn phải thứ gì mà chê gái hả?


- Sao không sập thang chết mất đất cho rồi!


Tuấn thấy nghẹn đắng nơi cuống họng. Anh cúi đầu đi như chạy ra ngoài đường chờ Ngọ.


Mười lăm phút sau Ngọ mới ra. Nó chẳng nói chẳng rằng, qua bên kia đường lấy xe rồi đạp cho máy nổ. Lúc lên xe rồi, nó mới mở miệng:


- Mày ghê sợ phải không?


Tuấn không trả lời.


- Tao biết. Mày ghê là phải. Tởm lắm!


Thằng Ngọ vẫn rủ rỉ. Tiếng của nó vừa đủ cho Tuấn nghe. Chiếc xe Honda 67 lao như lướt trên mặt đường Lý Thái Tổ, quẹo vào đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, rồi thẳng tuốt vô trung tâm Chợ Lớn.


- Mày chưa chung chạ với đám này, mày ghê tởm và khinh bỉ chúng nó. Còn tao, tao đã từng ngủ cả đêm với bầy gái cỡ đó! Chúng nó chỉ cần tiền. Mỗi lần tiếp khách, giá mười đồng, chúng chỉ được chủ thí cho ba đồng. Một ngày, thân thể tàn tạ ấy lại kiếm được bao nhiêu. Chúng nó cần tiền. Một đồng bạc chúng cũng sẵn sàng ngửa hênh ra. Ở đó, chỉ có một thứ có quyền uy tối thượng. Ấy là đồng tiền. Thằng đàn ông nào có tiền, vô đó, có thể làm “vua”. Hắn có thể sai khiến mỗi con gái điếm mút một ngón chân của hắn. Bây giờ, tao sẽ cho mày biết thế nào là loại điếm “cao cấp”, điếm “quý tộc”. Sắp tới rồi. Ngon lành nghe. Hôm nay, phải, chỉ hôm nay thôi, mày sẽ hiểu hết giới gái mại dâm Sài Gòn.


Ngọ cho xe dừng lại trước một rạp hát lớn. Nó chưa xuống xe đã có một thằng nhóc ra mời chào:


- Anh Hai đưa xe em cất giùm.


Thằng Ngọ ừ một tiếng rồi giao xe cho thằng nhỏ, giống như nó vừa quăng một đầu mẩu thuốc lá vậy. Tuấn ngạc nhiên:


- Mày cho tao vô coi hát à?


- Ồ, không! Coi thứ này mê ly hơn nhiều.


Rạp hát nằm liền vách với một tòa nhà ba lầu. Ngọ dắt Tuấn leo lên lầu ba. Đó là một căn hộ có ba phòng, không kể nhà bếp. Phòng ngoài là phòng khách, rất sang trọng. Hai phòng trong, phòng nào cũng có tivi, tủ lạnh, cassette, giường nệm, xa lông và toa lét riêng.


Chủ nhà, một người đàn bà đã ngoài tứ tuần nhưng trang điểm rất khéo, thân thể hơ hớ rực lửa, ra tiếp khách:


- Mời hai anh ngồi nghỉ! Các em đâu, có khách tới nè. Mở máy lạnh lên nào!


Quay lại Ngọ, chủ nhà đon đả:


- Lâu rồi mới thấy anh Hai lại chơi! Bọn em nhớ anh Hai ghê.


Tuấn suýt bật cười vì mụ ta xưng hô “anh em” ngọt xớt với Ngọ.


- Lo làm ăn mà em! - Ngọ đáp - Hôm nay có bạn anh tới, o bế ngon lành nghe, cô Ba!


- Dạ, nay chỉ có ba em thôi. Tùy hai anh...


Ý mụ chủ nói tùy hai anh chọn lựa. Nhưng hai từ “chọn lựa” mụ nói bằng mắt với Ngọ. Mụ nhìn xoáy vào Tuấn như muốn nói: “Nào, cậu em, hãy mạnh bạo lên mà tận hưởng chớ”. Tuấn quan sát căn phòng khách được bày biện toàn đồ đắt tiền, những bức tranh sơn dầu, những đồ uống ngoại quốc chất đầy tủ ly, và tấm thảm len sạch bóng dưới chân Tuấn. Máy điện thoại đặt ở cái đôn bên cạnh ghế chủ nhân ngồi. Ngay cả bộ xa lông cũng là loại nhập cảng. Người vẽ kiểu xa lông cố ý để cho người ngồi ghế trong tình trạng hết sức thoải mái, những phần cơ thể tế nhị nhất lại phô cả ra. Tuấn nhìn nữ chủ nhân. Bà ta mặc chiếc rốp bằng vải đắt tiền, nền in bông rất nhã. Khi bà ta ngồi ghế xa lông, phần ngực và đùi ưỡn cả ra phía khách.


Cô Ba - nữ chủ nhân - rút ngăn kéo bàn xa lông lấy hai tấm ảnh chụp hai cô gái “nghèo”, trên người chỉ có duy nhất một mẩu vải:


- Hai em Tuyết và Mai đó, tùy hai anh!


Ngọ đưa hai tấm ảnh cho Tuấn. Tuấn suýt la lên. Một người giống y hệt Ngọc Diệp. Nhưng không phải. Đôi mắt Ngọc Diệp không phải mắt một mí như cô gái này. Trong lòng Tuấn nhói lên nỗi đau: “Giờ này, Diệp ở đâu, em ơi? Em rơi vào một ổ điếm ghê tởm như xóm Vườn Lài, hay là em vào một “động” quí phái như nơi anh đang ngồi đây?”. Có lẽ tình cảm đặc biệt của Tuấn khi nghĩ về Diệp đã hiện rõ trên mặt Tuấn, điều đó khiến Ngọ hiểu lầm. Ngọ cho là Tuấn đã mê tít cô gái mắt một mí. Nó nói như ra lệnh:


- Rồi, cô Ba mời anh bạn của anh vô phòng em Tuyết.


- Dạ. Xin mời! Tuyết em! Rước phu quân của em vô nào!


Tuấn ngước lên nhìn Tuyết. Cô gái cúi xuống, sát kề đến nỗi đầu vú cô một chút nữa là cọ vào mặt Tuấn. Tuấn đứng dậy, như người máy bước vô phòng trong. Sau khi Tuyết đóng cửa phòng, chủ nhân ôm lấy Ngọ. Vẫn giọng ra lệnh, Ngọ phán:


- Anh chơi “nhất dạ đế vương” để bao bạn. Cô Ba chú ý giùm nghe. Cần phải làm cho anh bạn của anh nhập cuộc.


- Dạ, thưa quân vương! Tiện thiếp xin sẵn lòng!


Nữ chủ nhân quỳ xuống ôm chặt lấy đầu Ngọ áp vào bộ ngực đồ sộ của mình, rồi gọi:


- Mai em! Ra đây mời quân vương ngự ngai vàng!


Cô Ba bước ra ngoài hành lang, bê chậu kiểng từ trên bờ tường của hành lang để xuống đất. Đó là tín hiệu không tiếp khách suốt đêm mà đệ tử của cô Ba từ dưới đường có trách nhiệm thông báo lại cho khách đến sau.


*


Tuấn đạp xe phom phom trên đường. Đây là chiếc xích lô mới toanh mà thằng Ngọ dẫn Tuấn đi mua. Sau lần cho Tuấn chơi “nhất dạ đế vương”, thấy Tuấn cứ băn khoăn mãi về chuyện tiền bạc, Ngọ nói:


- Tao cho mày mượn. Làm ăn khá sẽ trả tao, kẹt thì thôi. Với tao, hai ba chỉ có nhằm nhò gì. Tao mong giúp mày.


- Mày không đặt điều kiện gì thật sao?


- Không!


- Tao cám ơn mày. Tao nhớ ơn mày suốt đời.


Và cuộc đời lại tươi đẹp trong mắt Tuấn. Có tiền trang trải xong nợ nần, có chút tiền kiếm được hàng ngày, gia đình Tuấn đã có cơm ăn no. Tuấn lại lo đi tìm Diệp. Mỗi đêm, sau khi tìm Diệp đến khuya mà không thấy, Tuấn buồn bã đạp xe về, không sao ngủ được. Những đêm sau đó, Tuấn biết tìm cách nguôi ngoai cõi lòng: Kiếm một cô gái có vẻ trẻ và sạch sẽ nhất trong tụ điểm gái chơi Tao Đàn, chở trên xe xích lô, tấp vào một xó kín nào đó... Với kiểu cách ấy, Tuấn về đến nhà mệt rã rời, nằm xuống là ngủ thiếp đi luôn cho đến bảy giờ sáng hôm sau.


Đời một phu xích lô không bao giờ có tiền để dành. Tuấn vất vả lắm mới kiếm đủ tiền nuôi má và hai em. Rồi má Tuấn chết. Ngọ lại đến đúng lúc. Nó bỏ tiền ra cho Tuấn lo tang lễ. Tuấn không ngờ thằng Ngọ chí cốt với Tuấn đến vậy. Người mẹ mù lòa đáng thương của Tuấn được mồ yên mả đẹp. Tuấn mang ơn Ngọ suốt đời.


Tuấn đã hứa với má trước khi bà nhắm mắt lìa đời là sẽ nuôi hai em ăn học thành người. Bà mẹ nghe con trai nói câu đó rồi trút hơi thở tàn. Thằng Hùng, cái Thoa rất ngoan và siêng học. Trong con hẻm này, ai cũng tấm tắc khen hai anh em nó. Chúng nó không bao giờ chửi thề. Chúng nó đến trường hàng ngày, không bao giờ chơi bài bạc, không hề ăn cắp vặt. Đó là những điểm khác hẳn với trẻ con trong hẻm.


Má Tuấn chết được một tuần, Ngọ mua gà, rượu và trái cây về cho Tuấn cúng tuần. Đêm ấy, hai đứa uống nhiều. Lúc Ngọ ra về, Tuấn nắm tay Ngọ:


- Ngọ ơi, tôi... biết lấy gì đền ơn Ngọ?


- Có chi, có chi. Thôi, ngủ đi cho khỏe, mai chạy xe. Độ này tao thấy mày xuống sức quá. Tao thương mày, Tuấn à.


- Tại tôi mất ngủ vì thương má. - Tuấn rơm rớm nước mắt.


- Tao biết. Ngày ba má tao chết trận, tao còn bé, chả biết gì. Dù sao, má mày chết đi... đỡ cực cho... bà ấy. - Ngọ toan nói đỡ “cực cho mày” nhưng kịp sửa lại - Mày có nhớ con bé mắt một mí đó không?


Tuấn cười, gật đầu, lấy tay lau nước mắt.


- Sáng mai, đến thăm các em cho khuây khỏa nghe. Cứ sầu thảm mãi như vầy, còn làm ăn gì được!


Chín giờ sáng, Ngọ đến nhà Tuấn. Nó đi bộ.


- Xe Honda đâu? - Tuấn ngạc nhiên hỏi.


- Lâu lâu, mày chở tao coi!


- Ồ! Còn gì bằng. Mày sẽ thấy tao chạy xe tuyệt vời.


Tuấn chạy xe quả là tuyệt vời. Qua cầu Thị Nghè, Tuấn co người đạp. Xe xích lô của Tuấn vượt qua tất cả các loại xe, trừ xe hơi. “Nếu không có cảnh sát, tao qua mặt cả xe hơi”. Tuấn thấy hứng. Nó tự hào khoe với Ngọ. Nó cảm thấy hãnh diện được phục vụ Ngọ, người mà nó hàm ơn.


Hai đứa chơi trò “nhất nhật đế vương”. Hôm nay không phải chỉ ba em mà tới sáu em phục vụ. Tắm hơi, xoa bóp, làm tình, ăn uống, đùa giỡn, coi bói, coi phim con heo, lại xoa bóp, lại ăn uống, lại vừa làm tình vừa coi phim con heo. Tuấn cảm thấy cuộc đời có lý quá. Tội gì mà suy tư. Cứ mặc sức tận hưởng. Cao hứng, nó còn đọc thơ Lý Bạch, bài “Tương Tiến Tửu”:


Nhân sinh đắc ý  tu tận hoan


Mạc sử kim tôn không đối nguyệt!


Nó đọc thơ bằng âm Hán-Việt, rồi dịch nghĩa một cách sành sỏi khiến các em phục nó, tán tụng nó là “thi sĩ trứ danh”. Khi Tuấn vừa giảng giải xong hai câu thơ trên: “Đời người khi đắc ý nên tận hưởng niềm vui. Đừng để chén vàng cạn trơ dưới ánh trăng”, thì các em reo lên, chúc rượu Tuấn. Em Tuyết cầm lon bia Heineken rót vào vai Tuấn cho chảy tràn xuống ngực, và cô gái mắt một mí ấy uống bia trên ngực Tuấn. Đúng lúc ấy, chuông điện thoại réo. Nữ chủ nhân giơ tay ra hiệu cho tất cả im lặng.


- Hello! Xin lỗi, ai đầu dây đó ạ?


- ...


- A! Anh Năm! Good morning Mr Năm. How are you?(1) 


Tuấn thấy mụ ta phát âm tiếng Anh khá hay. Bên kia đầu dây nói gì đó, mụ cười ré lên, đáp lại:


- I'm fine, thanks.(2)


- ...


- Sao? Ngay bây giờ à? Mấy người? Ba người à? Nhân vật rất quan trọng à? Ông lớn à? Rất tiếc! Em không tiếp khách hôm nay. Hẹn đến tối được không? Dạ. Dạ. Em chờ anh Năm mà! Không tiện đi ban đêm? Dạ. Sáng mai vậy. Dạ. Em chờ mà cưng. Dạ. See you tomorrow morning. Good-bye3.


Mụ buông ống nghe, thở dài nói với Ngọ và Tuấn :


- Lại phải tiếp mấy thằng cha chuyên đi chùa4 không hà. Không tiếp là bị “hốt ổ” ngay! Mấy em chuẩn bị nghen. Sáng mai, anh Năm đưa khách bự tới đó! Phải chiều khách hết ga nghen.


Tuyết lên tiếng:


- Cái gì bự hả cô Ba? Em sợ nhất là mấy lão bụng bự thôi. Nó đè em nghẹt thở mà chẳng làm nên trò gì. Mấy lão bụng bự đáng đem bắn bỏ!


- Không phải bụng bự mà là “ghế” bự, hiểu chưa? Làm trái ý mấy ông lớn là rũ tù cả đám nghe không?


- Dạ nghe ạ. Cái gì bự cũng ô kê, trừ cái bụng!


Cả bọn phá lên cười. Tuyết lao vào Tuấn, lôi Tuấn vô phòng riêng.


Năm giờ chiều, hai đứa rời “động” Cô Ba. Ngọ hỏi Tuấn:


- Mày có đói không?


- Có.


- Đi ăn nghe?


- Đừng vô nhà hàng, mắc mà không ngon.


- Ừ. Mày thích ăn gì?


- Vô tiệm lẩu dê.


- Số dách. Mày giống tao y chang.


Hai đứa ăn uống no say. Ngọ bảo Tuấn bằng cái giọng tự nhiên như nói một câu chuyện bình thường:


- Mày về nhà ngủ. Ngủ cho ngon. Đúng ba giờ sáng, dậy đạp xích lô đến đón tao tại... - Nó ghé sát tai Tuấn nói địa chỉ - Mày biết nơi đó chớ?


- Chỗ đó là nhà ai?


- Nhà bồ của tao!


- Sao phải đón sớm vậy?


- Giờ đó mày đi là giờ người ta chạy xe ba bánh đi Chợ Lớn rồi, không sớm đâu. Cố gắng đến địa chỉ vào ba giờ hai mươi nghe.


- Được. Tao đúng hẹn mà.


- Ô kê. Mày dông đi.


Công việc đầu tiên mà Ngọ nhờ, cái hẹn đầu tiên mà Ngọ hẹn, Tuấn chỉ lo ngủ quên. Tuấn vặn đồng hồ lúc hai giờ ba mươi đổ chuông. Cẩn thận hơn, Tuấn dặn các em, nếu thấy chuông đổ thì kêu dậy.


Đặt lưng xuống giường, Tuấn ngủ say như chết. Tuấn ngủ mà không hề mộng mị. Tuấn không mơ thấy Diệp nữa. Khi chuông đồng hồ reo, Tuấn nghe mang máng bên tai nhưng không tài nào mở mắt nổi. Sức lực bỏ ra chạy xích lô suốt ngày quả là không thấm gì so với sức lực trút vào các em ở “động” Cô Ba. Tuấn mệt rã nhưng cũng đầy thỏa mãn. Nó tự hào vì đã được thỏa sức tận hưởng. Hồi chuông đồng hồ hết giây, im lặng trở lại. Chợt Tuấn giật mình vì tiếng lịch kịch bên nhà ông Tư hàng xóm. Bà Tư bán xôi ở chợ Thị Nghè. Sáng nào, bà cũng dậy rất sớm, dậy đúng vào lúc ba giờ mười lăm để nấu xôi. Tuấn vùng dậy. Chết rồi! Trễ hẹn thì còn mặt mũi nào nhìn Ngọ nữa. Tuấn đạp xe như điên trên đường. Nhờ tốc độ cực lớn, nó đến địa chỉ chậm có năm phút. Có hai bóng đen ở gốc cây me xuất hiện. Ngọ vẫy tay gọi Tuấn. Xe đến, hai người lên xe. Ngọ bảo đây là bạn nó, bị bệnh, nó cần đưa bạn đến ông thầy lang ở Biên Hòa bằng chuyến tàu sớm. Tuấn chỉ cần chạy đến ga Hòa Hưng là được.


Tuấn không hề hay rằng, người ngồi trên xe, đội nón, quấn khăn kín đầu kia chính là Nhân đại bàng. Nhân và Ngọ vừa thực hiện một quả đầy khó khăn. Không hiểu thuốc mê dởm hay sao mà khi Ngọ đang mở khóa, Nhân đại bàng đang làm thịt cô con gái thì bố cô ta tỉnh dậy. Ông ta cầm cây gậy có sẵn ở đầu giường phang vào đầu Nhân. May mà vì sức yếu, cú đánh thượng của ông già không nhằm nhò gì. Cũng rất may là ông già không kêu la mà chỉ hành động. Ngọ nhào tới. Nó bóp cổ cho ông già há miệng ra rồi nhét khăn vào. Sau đó, nó ấn cả hũ thuốc mê cho ông già thiếp đi. Toàn bộ số tiền hai bố con ông già vừa bán thùng đồ mới nhận, bị Ngọ và Nhân vét sạch. Hai đứa xóa dấu vết. Chờ mãi không thấy Tuấn, Nhân đang hằm hè chửi Ngọ thì Tuấn đến.


Tuấn đưa Ngọ và người bệnh đến ga Hòa Hưng.


Ngọ bảo Tuấn:


- Đi liền đi.


- Để tôi phụ anh đưa ảnh lên tàu.


- Tao biểu đi liền đi! - Ngọ quát.


Ga Hòa Hưng là nơi thuận lợi nhất đối với Nhân và Ngọ. Từ đây, chúng có thể tẩu tán rất nhanh theo con đường nhỏ dần về khu Cống Bà Sếp, hoặc leo tàu đi đến bất cứ nơi nào chúng cần xuống. Ở Cống Bà Sếp, Nhân có một người mẹ già. Hai đứa chia tiền rồi chia tay. Nhân bảo Ngọ nhớ cho Tuấn tiền.


- Dạ. Đại ca khỏi lo!


- Lâu lâu, hãy cho nó nhập cuộc để nó quen dần...


- Dạ.


Tuấn còng lưng đạp xe suốt ngày hôm đó được mười lăm đồng bạc. Về tới nhà, hai đứa em đang chờ Tuấn. Chỉ có một nồi cơm, chưa có thức ăn. Tuấn đưa tiền cho Thoa chạy ra chợ mua rau về nấu canh chua với tôm khô. Ba anh em ăn cơm, trò chuyện vui vẻ. Thằng Hùng khoe nó được cấp giấy khen. Cái Thoa kể với hai anh chuyện nó được thầy hiệu trưởng khen ngợi trước toàn trường trong lễ chào cờ đầu tuần. Ngọ đến. Nó đưa cho Tuấn một ngàn đồng.


- Tiền gì đây? Anh cho tôi vay hoài sao?


- Không. Của anh bạn gửi cho đó.


- Anh bạn sáng nay à?


Ngọ gật đầu.


- Ảnh đang bệnh mà! Sao anh còn nhận?


- Nghe tao kể về gia cảnh mày, ảnh thương, ảnh gửi cho.


Tuấn cầm tiền, cúi đầu, cảm động không nói nên lời. Ngọ nhỏ nhẹ:


- Tao đã biểu mày từ lâu, vô hội ăn chơi của tao là yên chí lớn. Mày sẽ thấy mọi người đối xử rất sòng phẳng và nghĩa khí. Thôi, tao về nghe. Mày lo may sắm quần áo cho cả ba anh em. Mày ăn mặc lùi xùi quá. Mai mốt, tao còn dẫn mày đi tiêu khiển ở “động” đặc biệt, mang lại hứng thú gấp ngàn lần những thứ mày đã biết. Đến đó rồi, mày sẽ muốn tới đó suốt đời...


*


Điều Ngọ hứa với Tuấn chính là ma túy.


Vào những năm trận mạc ác liệt nhất tại Việt Nam, đội quân viễn chinh Mỹ thực thi sứ mệnh “bảo vệ tự do” tại xứ sở nhiệt đới này đã thực sự là nguồn quảng bá và tiêu thụ xì ke rất lớn. Cùng với bom đạn, chất độc hóa học, việc quảng bá xì ke, lối sống hưởng lạc, người Mỹ quả là đã làm được một kỳ tích: hủy hoại nền tảng đạo lý của dân bản xứ, đặc biệt là giới trẻ.


Có một người, vào thời kỳ ấy, nhìn thấy Đức Mẹ hiển hiện... Người ta liền cho xây ở nơi Đức Mẹ giáng trần một nhà thờ lớn, mang tên “Fatima”, và kế đó là nhiều tòa nhà đồ sộ dùng làm trường học của giáo xứ - gần ga Bình Triệu, Thủ Đức. Dân mộ đạo trong miền nườm nượp về đây để cầu nguyện và cúng quả. Trên con đường từ quốc lộ dẫn vào nhà Chúa, người ta cho dựng ở giữa tim đường liên tiếp những bức tượng miêu tả cảnh Chúa Giêsu khổ nạn, vác cây thánh giá lên ngọn đồi chịu hành hình. Giáo xứ Fatima có lẽ đã động lòng Chúa ở trên cao, cho nên... hòa bình đã được vãn hồi. Sau năm 1975, một phần cơ sở giáo hội Fatima, tức là trường đào tạo các tu sĩ, đã được Nhà nước sử dụng vào mục đích y tế.


Ngày 23 tháng mười một năm 1975, một trung tâm chữa trị bệnh ghiền ma túy mang tên “Trường Phục hồi nhân phẩm” được thành lập. Dân ghiền Sài Gòn không chịu nổi cái danh “Trường Phục hồi nhân phẩm”. Họ căm thù cái tên ấy và những nhân viên của nó. Họ gọi vắn tắt bằng “bọn Fatima”. Họ xa lánh “bọn Fatima” như xa lánh quỷ sứ. Họ liên kết với nhau để khủng bố nhân viên Fatima khi có điều kiện. Họ bố trí “trinh sát” thường trực ở Sở Công an, Sở Thương binh - Xã hội và đặc biệt là ở trung tâm cai xì ke Fatima để thông tin cấp kì về những biện pháp, những chiến dịch “gom quét” dân ghiền, đĩ điếm.


Ở Fatima luôn luôn có một ngàn dân ghiền được chữa trị. Lớp cũ chưa ra, lớp mới đã vô. Có lúc, tại Fatima, con số “học viên” lên tới một ngàn năm trăm người.


Đứng đầu ban giám đốc Fatima là một người tầm vóc nhỏ bé, đã gần năm mươi tuổi: ông Quang.


Ông Quang làm việc trong một căn phòng rộng chưa đầy chín mét vuông, chỉ vừa đủ kê một bộ xa lông, một chiếc bàn làm việc giống y hệt cái bàn nhỏ của học trò. Tất cả đồng nghiệp của ông đều làm việc trong những ô vuông rất nhỏ. Toàn bộ diện tích được nhường cho việc chữa trị, ăn ở, vui chơi, lao động của học viên. Ở đây có mấy từ bị cấm ngặt: không được gọi “dân ghiền”, gọi “con nọ”, “thằng kia”. Chỉ được gọi “anh, chị, em học viên” mà thôi. Nhân viên Fatima nào lỡ lời nói nặng với học viên sẽ bị kỷ luật.


Ông Quang và các đồng nghiệp của ông ăn cơm cùng bếp tập thể với học viên, cùng chén đũa, bàn ghế tại nhà ăn tập thể. Thức ăn, đồ uống y hệt của học viên.


Thành phố Sài Gòn đang lâm nạn đói. Bữa ăn tại Fatima vô cùng kham khổ. Ông Quang se lòng, không nuốt nổi chén cơm độn hai phần ba hạt bo bo, khi nhìn thấy các em học viên của ông bỏ ăn vì không ai ăn nổi. Những thân hình tiều tụy, răng long tóc rụng, lở ghẻ cùng mình, môi thâm, vai so lại, chân tay run rẩy, mang theo đủ thứ bệnh lậu, phổi, thận, gan, mục xương, nhiễm trùng máu, v.v. đang lặng lẽ đi qua trước mặt ông. Ông Quang cảm thấy mình có tội.


Ở gốc cây điệp, một học viên ôm đàn ghi ta hát bài ca anh tự sáng tác. Anh vốn là một nhạc sĩ:


Mặt trời đen, quá đen, đen như đời ta


Cuộc đời như chó hoang lang thang về đêm


Nụ cười ta đánh rơi mất khi còn thơ


Từng niềm tin vỡ tan, bước xa mộng mơ...


Lời ca thật não nùng, oán than... Ông Quang buông đũa đứng dậy. Ông Tình - phó giám đốc - hỏi:


- Anh không ăn được sao?


- Ông ăn đi, tôi thấy mệt quá.


Ông Quang ra ngoài. Trưa nắng chói chang. Ở dọc lối đi của vườn hoa, hàng trăm học viên đang ngồi. Họ cởi trần. Người nào cũng mang trên ngực, trên lưng, trên cánh tay những dấu chàm: “Hận kẻ bạc tình”, “Cô đơn”, “Đàn bà là rắn độc”, “Lỗi đạo làm con”, “Xa quê nhớ mẹ hiền”, “Khi ta chết, ai xây mồ?”, “Hận đời đen bạc”, “Sanh nhầm thế kỷ”, hình vẽ trái tim bị dao găm đâm thủng tóe máu... Mấy năm qua, ông Quang đã thấy hàng ngàn lần những dòng chữ, hình vẽ ấy trên thân thể tiều tụy của học viên. Đến mức, ông chỉ cần nhìn thoáng là biết dấu chàm ấy mang nghĩa gì. Những người này đang thiếu một thứ, theo ông Quang, không phải chỉ thiếu thuốc. Họ đang thiếu tình thương. Chính những dấu chàm khắc trên ngực, trên lưng, trên cánh tay của họ đã biểu hiện một điều: Họ thiếu tình thương. Ông rất đồng ý với bà Tư giám đốc Sở khi bà nói rằng: “Phải đối xử với học viên như người mẹ đối với con; như người chị, người anh đối với em...”. Vậy, liệu có nên chăng cứ duy trì lực lượng cảnh sát canh gác quanh trường như hiện nay? Đây là trường học trở lại làm người, chứ đâu phải nhà tù? Những biện pháp vũ trang bảo vệ đâu có mấy tác dụng. Học viên vẫn tìm cách trốn trường. Vẫn có chuyện đánh lộn, nhảy lầu tự vẫn. Vẫn có băng đưa thuốc vào buôn bán trong trường. Vậy để cảnh sát canh gác làm chi?


Cai ma túy hữu hiệu nhất là phương pháp tự mình. Vậy cai quản cái trường này không gì hơn là để chính học viên tự quản. Không tin làm sao thương? Nói thương các em nhưng lại không tin, nhốt như nhốt tù, ai mà chịu?


Rồi còn chuyện ăn uống. Cực khổ quá. Phải cải thiện bữa ăn. Bằng cách nào? Ngân sách thành phố cấp ít quá, chưa đủ  mua gạo, mua chất đốt. Giá chợ tăng với tốc độ vũ trụ... Để các em đói rách như vầy, làm sao mà phục hồi nhân phẩm được? Chính  các em học viên đã nhiều lần đề xuất việc này.


A, thôi trúng rồi! Để các em tự quản! Tại sao không cho các em quyền được lao động, làm ra tiền của để sống? Lao động và hiệu quả của nó sẽ giúp các em giành lại niềm ham sống, niềm tin yêu...


Chiều hôm đó, ông Quang trao đổi với ông Tình, với các đồng sự của ông. Ông điện thoại cho giám đốc Sở.


- Chị Tư à, tôi muốn đề xuất với chị hai việc. Không biết có nên nói qua telephone không?


- Chuyện về mấy em, mấy cháu thì cứ nói. Tôi chắc là chú không nói gì ngoài chuyện đó.


- Thưa chị, đúng vậy! Tôi đề nghị cho phép nhà trường thực hiện chế độ tự quản, chuyển đơn vị cảnh sát đi nơi khác...


Thấy ông Quang ngừng lại như để thăm dò phản ứng của mình, bà Tư giục:


- Chú nói tiếp đi.


- Mấy năm nay, các em học viên phản ứng rất nhiều về chuyện cảnh sát giám sát các em như cai ngục với tội nhân...


- Rồi. Tôi hiểu. Còn đề xuất thứ hai là gì?


- Tôi muốn liên hệ với công ty lương thực của chị Ba nhận gạo về gia công bánh tráng, bún. Cũng tương tự, tôi sẽ ký một số hợp đồng sản xuất gia công may mặc, đồ gỗ và nhạc cụ... Tay nghề các em ở đây phong phú lắm. Cốt sao các em được lao động, trực tiếp làm ra của cải... Một công đôi việc, vừa giáo dục các em, vừa để các em tự cải thiện đời sống...


- Ăn uống cực khổ quá, tôi hiểu. Tôi đồng ý với chú về cả hai đề nghị. Ngày mai, chú sẽ nhận được văn bản chính thức của Sở chấp thuận hai đề xuất đó. Vấn đề là... nếu xảy ra sự cố? Chú đã tính đến chuyện đó chưa?


- Dạ rồi.


- Có chủ quan không?


- Thưa chị, tôi tin các em. Ngay cả các em mới vào hung dữ nhất, cũng chỉ là những nạn nhân. Chúng chỉ là nạn nhân... Chị biết đó. Tôi coi các em như em, như cháu, như... con của mình.


Giọng ông Quang lộ rõ xúc động. Bà Tư hiểu tâm trạng của đồng chí mình. Bà ân cần:


- Thôi nhé. Sáng mai, tôi sẽ xuống trường. Chị em ta sẽ bàn bạc cụ thể phương cách thực hiện. Chú đã trao đổi với các đồng chí trong ban giám đốc chưa?


- Dạ rồi, ai cũng nhất trí.


*


Đêm đã khuya lắm, căn phòng nhỏ của ông Quang vẫn sáng đèn.


Lạnh.


Ông Quang co ro trong chiếc áo bờ lu bằng vải nội màu xanh biển, hai tay ông chống cằm, chân xếp bằng trên ghế. Cuốn sổ tay mở sẵn nằm trên mặt bàn, cây viết bic kẹp ở giữa. Ông đang nghĩ ngợi. Vào những lúc như thế, có ai nhìn thấy ông, hẳn sẽ rất thương ông. Hai má ông hóp lại, vầng trán hằn bao nếp nhăn, mái tóc đã bạc nhiều. Duy có đôi mắt nhân từ là vẫn sáng, ấm áp. Ngay cả lúc ông đang tư duy một mình, đôi mắt ấy vẫn chan chứa tình người, hệt như trước mặt ông không phải là căn phòng trống vỏn vẹn chín mét vuông, mà là những học viên, những người được gọi là dân ken, dân ghiền, dân bụi đời, những người bị đồng loại xa lánh, bị cha mẹ, vợ con, anh chị em oán trách, căm giận, bạn bè khinh rẻ... Ông Quang đang nghĩ về họ - những con người tự làm đồi bại nhân cách và sự sống của mình. Xót xa lắm thay! Ông Quang chưa bao giờ giận họ, khi rẻ họ. Theo ông, con người mà không thương nhau thì không bằng con vật. Con vật còn biết thương nhau nữa là...


Ngày mai, ông sẽ trình bày trước bà Tư. Ông kính trọng bà, coi bà như người chị của mình. Ông sẽ trình bày một cách chi tiết phương án tự quản và phương án sản xuất của trường. Đêm nay, ông duyệt lại lần cuối những điều đã suy nghĩ suốt thời gian qua.


Phải xây dựng một lực lượng bảo vệ, gọi là đội hay là gì? Nòng cốt của đội bảo vệ phải là những học viên tiến bộ nhất, có sức khỏe, có văn hóa. Các lớp, các tổ học viên cần được chấn chỉnh lại đội ngũ lớp trưởng, tổ trưởng. Đội văn nghệ, câu lạc bộ phải được nâng cao chất lượng. Phải có phim mới, phim hay, sách báo hấp dẫn giới trẻ. Việc giáo dục về mặt tư tưởng còn cứng nhắc, giáo điều quá, ít sức thuyết phục. Nên mời các đồng chí thường đi nước ngoài đến nói chuyện thời sự, mời các nhà văn đến nói chuyện văn thơ. Vở kịch - do ông tự sáng tác - cần được dàn dựng kỹ hơn; tốt nhất, nên mời đạo diễn chuyên nghiệp. Cần xã hội hóa đội văn nghệ của trường. Đưa đội văn nghệ ra ngoài trình diễn có tác dụng tuyên truyền ngăn ngừa tệ nạn ghiền ma túy, chống bọn buôn lậu. Phát động thành phong trào người người, nhà nhà cùng chống ma túy, cả xã hội cùng chống ma túy. Ở Mã Lai, người ta dùng hình án nặng nhất - tử hình - đối với bọn buôn bán ma túy. Ở Thái Lan, chính phủ treo giá năm triệu bạt(1) cho ai bắt được “vua thuốc phiện” Khunsa. Khunsa có đội quân mười lăm ngàn người chuyên buôn thuốc phiện. Hắn tuyên bố: “Thật vô ích, không bao giờ họ bắt được tôi, vì kẻ nào đã nắm trong tay thuốc phiện, kẻ đó sẽ có ảnh hưởng quốc tế. Chính phủ Thái Lan phải tính đến điều đó”. Ở Colombia, mỗi năm có hàng trăm sĩ quan, binh lính, nhà báo bị hy sinh trong các cuộc truy quét bọn buôn lậu và các ổ ma túy. Tại Liên Xô, đã có tới cả trăm ngàn người nghiện ma túy rồi. Nước Mỹ có tới hàng chục triệu người nghiện cần sa, cocaine (cô-ca-in) và bạch phiến. Ma túy đã trở thành nạn dịch của nhân loại, thành cơn lốc cuốn hút lớp trẻ.


Tại Sài Gòn, đã xuất hiện một thế hệ ghiền mới. Đó là những người ghiền từ sau ngày 30 tháng Tư năm 1975. Đâu còn có thể đổ hết lỗi cho “tàn dư chế độ cũ” được nữa.


Cần một đội bảo vệ gồm toàn những người có năng lực, có tấm lòng. Để học viên tự quản! Đó là một phương cách thích hợp đối với một trường giáo dục lấy tình thương làm nền tảng. Nhưng ai xứng đáng làm đội trưởng? Nên để các em học viên bầu ra, hay là ban giám đốc cử ra?


Ông Quang lấy bút chì ghi vào sổ tay tên của ba học viên: Tín Tạczăng, Hùng xả láng, Ca sóc.


(còn tiếp)


Nguồn: Bụi đời. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn học tái bản lần thứ 10 năm 2009.


www.trieuxuan.info


 


 







(1)  Chào ông Năm. Ông có khỏe không?




(2)  Tôi khỏe. Cảm ơn.




3 Hẹn gặp ông sáng mai. Tạm biệt.




4 Chùa (tiếng lóng): ý nói không trả tiền.


 




(1)  Bạt (baht): tiền Thái Lan.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 22.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
xem thêm »