Trống trường tiểu học Thanh Niên vừa đánh ba tiếng cho học trò ra chơi, thì thầy giáo Trương Tửu đi giày lốp bốp sang nhà tôi ở ngay bên cạnh. Tửu tươi cười nhanh nhẩu:
- Có một ông thầu khoán sẽ đến chơi.
Tưởng Trương Tửu nói đùa, tôi phì cười:
- Ông thầu khoán? Họ muốn bán xi măng cốt sắt cho tụi mình hả?
Trương Tửu cười sặc sụa, mặt đỏ như quả gấc:
- Một ông thầu khoán ở Hải Phòng, xây dựng nhà cửa và có dư thì giờ xây dựng những vở kịch. Kể ra, hắn cũng là một tay độc đáo đấy nhé.
- Tên là gì?
- Vi Huyền Đắc.
- Cái tên có mùi sân khấu…
- Cậu phải đọc những vở kịch của anh ta. Ở Việt Nam không có một người thứ hai như Vi Huyền Đắc đâu.
- Hắn ta đã viết những vở kịch gì?
- Nhiều lắm. Cả kịch bằng Việt văn, cả bằng Pháp văn, đến năm sáu cuốn. Cậu phải bảo nhà sách Nam Kỳ gởi cho cậu xe.
- Một Cornelle? Một Racine? Một Voltaire?
- Không, một Vi Huyền Đắc.
- Tôi không quan niệm được một ông thầu khoán mà lại là kịch sĩ. Một người cả ngày chỉ có việc làm những bài toán với mấy bao xi măng, mấy đống gạch, mấy cái bù lon, bao nhiêu thước đá và thước cây, thì làm sao có được tinh thần nghệ sĩ để viết những vở kịch nhỉ?
- Vi Huyền Đắc không phải là một nhà thầu khoán làm kịch sĩ, mà là một kịch sĩ làm thầu khoán. Anh vừa xuất bản vở kịch bằng Pháp văn “Eternels Regrets” đem lên Hà Nội biếu các bạn trong làng Văn, sáng nay có gặp tớ và có nhờ tớ cho cậu biết trước rằng trưa nay hắn sẽ đến thăm cậu và biếu cậu một quyển.
Trống trường Thanh Niên lại đánh ba tiếng, hết giờ chơi. Nhưng Trương Tửu không trở lại lớp học nữa. Anh đã nhờ một người bạn dạy thế.
Chúng tôi uống trà, nói chuyện về môn kịch sứ ta, và ở Pháp, Anh, Nhật. Ở mấy nước kia cũng như ở nhiều nước khác, môn kịch rất thịnh hành. Không những người soạn kịch mà cả đến những người đóng kịch có tài cũng đều được công chúng nhiệt liệt hoan nghênh, chính phủ trọng vọng. Còn ở xứ ta, những nhà Đại kịch sĩ của mấy thế kỉ trước đã soạn ra các tuồng hát bội danh tiếng thì ít ai biết đến tên. Văn học sử cũng không hề nói tới họ. Các người đóng kịch, thì bị mang tiếng là “xướng ca vô loại”!
Hồi đầu thế kỉ XX này, do ảnh hưởng của kịch Pháp nước ta có Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, và một đôi người nữa dịch vài ba vở bi kịch và hài kịch của Corneille và Molière, nhưng thiên về văn chương hơn là phương diện trình diễn… Tôi nhắc đến một kịch sĩ Pháp ở Sài Gòn là Claude Bourrin có thí nghiệm một bản kịch Việt Nam chuyên diễn xuất những vở kịch ngắn (seynètes) theo loại Vaudevilles, trong những năm 1935-36-37, nhưng cũng thất bại, vì số khán giả Việt Nam không có bao nhiêu người. Ban kịch này có ra Hà Nội nhưng cũng không thành công. Vả lại các kịch ngắn của Claude Bourrin tuy diễn bằng tiếng Việt, nhưng cũng chỉ mới là những hài kịch ngắn soạn bằng tiếng Pháp dịch ra tiếng Việt chưa được hay lắm. Kể về kịch chân chính, đại quy mô, thì chưa có mấy ai chuyên môn. Họa chăng bây giờ mới có Vi Huyền Đắc.
Nhưng Vi Huyền Đắc có phải thật là môt kịch sĩ tiền phong mà chúng ta mong đợi hay không? Ông có tài nghệ dồi dào về môn kịch không?
Chính với hy vọng thiết tha đó mà buổi trưa hôm ấy tôi vui mừng chờ đón Vi Huyền Đắc, tuy chưa hân hạnh biết anh.
*
Giữ Trương Tửu ở lại ăn cơm với tôi nhưng Tửu phải về Gia Lâm thăm ông cụ, tôi ngồi một mình nơi phòng khách hồi một giờ, đang xem một quyển sách, thì một người vóc cao từ ngoài sân gác bước vào, mắt to mũi lớn, miệng rộng, nở một nụ cười mênh mông, và tiếng nói rang rảng:
- Có chủ nhân ở nhà không?
Tôi cười đứng dậy:
- Thưa có.
Tôi đưa tay ra bắt tay anh. Anh vẫn nói cười tự nhiên:
- Vi Huyền Đắc đây.
- Rất hân hạnh.
Coi bộ anh đã lớn hơn tôi mười hay mười lăm tuổi là ít, và trông có vẻ nghệ sĩ nhiều hơn là thầu khoán lục lộ. Anh lấy một quyển Eternels Regrets đã viết sẵn mấy dòng chữ tặng tôi. Tôi bối rối không biết nói câu gì để cảm ơn anh, vì mới lần đầu tiên quen nhau anh đã có hảo ý biếu tôi một quyển thuộc về loại sách đẹp, in trên giấy bouffant đắt tiền và ấn loạt rất có mỹ thuật.
Chúng tôi nói chuyện rất lâu về môn kịch, và tôi cảm thấy rõ rệt là anh Vi Huyền Đắc có rất nhiều triển vọng về môn sở trường của anh.
Vở kịch Eternels Regrets đã chiếm được giải thưởng danh dự của Hàn Lâm Viện Nice, một giải thưởng xứng đáng vì với quyển ấy Vi Huyền Đắc đã tỏ ra một nhà kịch sĩ có thiên tài. Kịch này sắp trình diễn ở Paris năm 1939 thì chiến tranh bùng nổ. Đề tài là cuộc tình duyên của An Lộc Sơn với nàng Dương Quí Phi.
Sau đó, tôi có xem ba vở kịch khác của anh: Cô giáo Minh, Uyên ương, Thành Cát Tư Hãn, mà giá trị về văn chương cũng như nghệ thuật đã đạt đến một mức tinh vi hoàn hảo. Theo thiển ý của tôi, những vở kịch của Vi Huyền Đắc đều có thể dịch ra ngoại ngữ và trình diễn trên sấu khấu ngoại quốc.
Buổi gặp gỡ anh Vi Huyền Đắc gây cho tôi được rất nhiều cảm cách mến. Sau đó tôi có viết hai bài bằng Pháp văn trong báo La Patrie Annamite và Le Cygne để giới thiệu anh và quyển Eternels Regrets. Một người Tiệp Khắc có Pháp tịch và rất thông thạo Việt ngữ, - làm cả thơ chữ Việt nữa – lúc bấy giờ làm Chánh lục sự ở tòa án Hải Phòng, tên là Edmond Chodzko, quen với tôi từ ba bốn năm về trước có tỏ ý với tôi là ông muốn gặp anh Vi Huyền Đắc. Tôi có cho địa chỉ của anh, nhưng không biết về sau hai người có gặp nhau không. Ông Edmond Chodzko muốn đem các vở kịch của Vi Huyền Đắc qua trình diễn ở Paris và Prague.
*
Rất tiếc vì bận công việc riêng của mỗi người, và ở hai thành phố cách xa 100 kilômet, chúng tôi không có nhiều dịp gặp nhau. Chỉ có một lần Trương Tửu và tôi đi Hải Phòng, đến thăm anh Vi Huyền Đắc tại biệt thự của anh ở bến Hạ Lý. Anh đang bận công việc thầu khoán ở đâu gần đó, chúng tôi ngồi phòng khách chờ một lúc, người nhà đi mời anh về.
Cuộc hội kiến này rất là vui vẻ thân mật, anh Vi Huyền Đắc giữ ở lại chơi khá lâu, nhưng tiếc thay, từ đó chúng tôi lại không có cơ hội tiếp xúc với nhau nữa.
Mãi sau đình chiến và thỏa hiệp Genève, tôi mới được biết anh Vi Huyền Đắc di cư vào Sài Gòn, cuối năm 1954. Tôi chạy đi kiếm anh. Gần 20 năm xa cách, được gặp lại anh, tôi hồi hộp sung sướng muốn khóc lên. Vẫn với cặp mắt thông minh to lớn ấy, hai lỗ mũi bự ấy, cái miệng rộng ấy, anh mừng rỡ đón tôi với một tiếng cười nổ như sấm.
Anh ở một căn nhà tĩnh mịch, mà anh đặt tên là Hoàng Mai Hiên, giữa một cảnh trí nên thơ ở miệt Ngã Năm Bình Hòa, ngoại ô Gia Định, có hai vợ chồng, với một u già. Bao nhiêu cơ đồ sự nghiệp ở Hải Phòng đều bỏ lại rất Bắc hết. Anh chị vào đây với hai bàn tay trắng. Bao nhiêu sách quý của anh, và các bản thảo, cả những tác phẩm của anh đã xuất bản hồi tiền chiến, đều bị mất sạch. Bấy giờ chị đi dạy học ở trường Tiểu học Đakao, và chị là một cô giáo rất được học trò quí mến(1), (1) Chị Vi Huyền Đắc đã từ trần năm 1966 tại Hoàng Mai Hiên.> còn anh thì ở nhà dịch tiểu thuyết Tàu cho vài tờ báo, sống cuộc đời nhà văn thanh cao yên tịnh.
Viết đến đây, tôi không khỏi bùi ngùi về thân thế và sự nghiệp văn chương của một nhà kịch sĩ có thiên tài.
Trong lúc ở ngoại quốc, nhất là ở các nước mà trình độ văn hóa của công chúng đi theo kịp lịch sử tiến triển mãnh liệt của văn học, các nhà kịch sĩ đang đưa lên sân khấu những sáng tác phẩm vô cùng sôi nổi, ảnh hưởng lớn lao trong quần chúng, thì ở nước Việt Nam một nhà kịch sĩ có rất nhiều khả năng, nghệ thuật điêu luyện tinh vi, đành xếp các vở kịch một bên, để dịch các tiểu thuyết Tàu bán cho vài tờ báo, cho qua ngày qua tháng.
Sản phẩm thì để dành cho một số tuồng đề tài nhảm nhí, ý tưởng nghèo nàn, nghệ thuật hổ lốn, văn chương sơ đẳng. Một Năm Châu, một Kim Cương, một Út Trà On dù có đầy đủ khả năng và thiện chí, cũng đành phải chạy theo sau lớp tuồng Vọng cổ.
Một Vi Huyền Đắc có thiên tài nhưng không có phương tiện, không có hoàn cảnh, làm sao xây dựng được một kịch trường xứng đáng với dân tộc nghìn năm văn hiến, để hãnh diện với kịch trường quốc tế?
*
Tôi đã nhiều lần trình bày riêng một vài đề nghị với anh Vi Huyền Đắc và anh Đinh Xuân Hòa, nay tôi xin phép nhắc lại: Các anh có thể nào công tác với nhau để gây ra một phong trào Kịch trường mới mẻ, tiến bộ, phấn khởi, để xúc tiến mãnh liệt và rộng lớn nghệ thuật Kịch trường Việt Nam không? Vì giá trị và danh dự của Văn hóa Việt Nam trước Văn hóa ngoại quốc, tôi thiết tha mong mỏi có sự cộng tác ấy.
(còn tiếp)
Nguồn: Văn thi sĩ tiền chiến. “Chứng dẫn một thời đại” của Nguyễn Vỹ. NXB Văn học, 2007.
www.trieuxuan.info