tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21070777
28.11.2010
Nguyễn Hồng Lam
Vài nét về Tiến sỹ Phan Lạc Tuyên, bạn thân của Thủy Thủ

Phan Lạc Tuyên - con người cầm súng, con người cầm bút 


Trò chuyện với ông ở lứa tuổi thất thập cổ lai hy, mà sao tôi vẫn cảm thấy hào hứng như đang đối diện với những mùa xuân trẻ trung, tươi đẹp nhất của đời người.


Từng là người hùng đảo chính chống Ngô Đình Diệm 11.11.1960; vừa ở tù, vừa viết báo yêu nước ở Phnom Penh; là nghĩa quân dưới cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam VN... nhưng trước hết Phan Lạc Tuyên là một nhà thơ.


Từ trước năm 1960, Phan Lạc Tuyên đã sớm nổi tiếng với bài thơ Tình quê hương được Đan Thọ phổ nhạc:


 


Anh về qua xóm nhỏ


Em chờ dưới bóng dừa


Nắng chiều lên mái tóc


Tình quê hương đơn sơ


 


Quê em nghèo cát trắng


Tóc em lúa vừa xanh


Anh là người lính chiến


Áo bạc màu đấu tranh


 


Em mời anh dừng lại


Đêm trăng ướt lá dừa


Bên nồi khoai mới luộc


Ngát thơm vườn ngâu thưa


 


Em hẹn em sẽ kể


Tình quê hương đơn sơ


Mẹ già như chiều nắng


Nhớ con trai chưa về


 


Ruộng nghèo không đủ thóc


Vườn nghèo nong tầm thưa


Ngõ buồn màu hoang loạn


Quê nghèo thêm xác xơ...


Năm 1960


Đại úy Phan Lạc Tuyên  


 


Ông đã bắt đầu đời lính và đi vào cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam bằng thứ tình cảm lãng mạn như vậy. Lính gì thì lính, khi con người cầm bút này đã biết ca ngợi thứ tình quê hương ngọt ngào đến thế, thì con người cầm súng kia chắc chắn không thể là kẻ ác ôn, phản bội đồng bào và Tổ quốc. Ngược lại Phan Lạc Tuyên đã sớm nhận ra bộ mặt tàn bạo của chế độ Diệm, nhất là qua những chiến dịch tố cộng đẫm máu. Ông đã quyết không để cho chế độ Diệm làm đôi tay mình nhuốm máu những người chiến sĩ cách mạng. Năm 1956, những người kháng chiến cũ bị Diệm giam giữ ở nhà tù Tân Hiệp đã tổ chức vượt ngục tìm đường về căn cứ. Phan Lạc Tuyên được lệnh truy sát họ. Trong quyển sách nhan đề Cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp 2.12.1956 do những người cựu tù chính trị ở Đồng Nai viết về sự kiện ấy, có đoạn như sau: “Đại úy Phan Lạc Tuyên lúc đó đang chỉ huy một đơn vị hành quân truy kích đoàn tù chính trị vượt ngục ở hướng chiến khu D. Khi phát hiện dấu vết của đoàn, anh ra lệnh cho đơn vị đi về ngã khác, đồng thời giả vờ đánh rơi lương thực dọc đường cố ý giúp cho đoàn...”. Hiện nay, trong phòng truyền thống của đoàn cựu tù chính trị Tân Hiệp có cả chân dung của Phan Lạc Tuyên và hằng năm đến ngày kỷ niệm ấy, ông thường được mời về tham dự.


 


Trong cuộc đời nhà binh của Phan Lạc Tuyên có một giai đoạn tương đối dễ chịu. Đó là lúc ông được bố trí vào Trường Chỉ huy và Tham mưu, làm chủ bút tạp chí Đại học Quân sự và giảng dạy môn Binh pháp Á Đông. Ít lâu sau, vào tháng 9.1957, Phan Lạc Tuyên được gửi sang Mỹ học trường báo chí ở New York cùng với học viên sĩ quan quân đội các nước đồng minh của Hoa Kỳ.


 


Sau khi tốt nghiệp về nước, Phan Lạc Tuyên được bổ nhiệm làm chỉ huy phó Liên đoàn Biệt động quân - Quân khu thủ đô. Điều bất ngờ là một hôm, vào đầu năm 1960, Ngô Đình Diệm cho mời Phan Lạc Tuyên vào gặp riêng ở phủ Tổng thống. Ngô Đình Diệm nói: “Lâu nay tôi có theo dõi những bài của ông trên báo Đại học Quân sự. Ông là người có năng lực như thế mà để làm ở chỗ ấy thì cũng uổng phí. Nếu ông đồng ý, tôi sẽ bổ nhiệm ông làm tỉnh trưởng Bình Dương, phụ trách hành chính lẫn quân sự. Ông sẽ là tỉnh trưởng trẻ nhất. Ý kiến ông thế nào?”. Lần đầu tiên đối diện với “Ngô Tổng thống”, Phan Lạc Tuyên nhận thấy Diệm có đôi mắt sắc bén, khuôn mặt lạnh lùng vô cảm, giọng nói đều đều, không một lời dư thừa và không một nụ cười. Phan Lạc Tuyên suy nghĩ rất nhanh: “Nếu nhận lời, mình sẽ trở thành gia nô của ông ta. Nếu từ chối ngay, cũng sẽ rất khó sống. Tốt nhất là hoãn binh chi kế”. Bèn lễ phép trả lời: “Đây là việc quan trọng trong đời tôi, xin Tổng thống cho tôi về thưa lại với thân sinh để ông cụ quyết định, chứ phận làm con không dám tự chuyên”. Thật ra còn một lý do khác, rất không tiện thưa với Tổng thống. Đó là lúc này Phan Lạc Tuyên và một số sĩ quan khác đã bắt đầu âm thầm xúc tiến kế hoạch đảo chính lật đổ Diệm - Nhu.


 


Cuộc đảo chính đã bùng nổ vào ngày 11.11.1960. Phan Lạc Tuyên kéo 10 đại đội biệt động quân và một tiểu đoàn pháo 12 khẩu 105 ly từ Tây Ninh tiến công vào Sài Gòn. Quân đảo chính nhanh chóng đánh chiếm đài phát thanh Sài Gòn, bộ Tổng tham mưu, đánh tan Lữ đoàn Liên binh phòng vệ phủ Tổng thống, bắt sống đại tướng Lê Văn Tỵ - Tổng tham mưu trưởng và trung tướng Thái Quang Hoàng - Tư lệnh Quân khu thủ đô, hai nhân vật đầu não trong quân đội Diệm rồi bao vây phong tỏa phủ Tổng thống. Cánh quân của Phan Lạc Tuyên chiếm giữ Bộ Tổng tham mưu với một khẩu đội trọng pháo và 2.000 viên đạn sẵn sàng san bằng phủ Tổng thống. Nhưng Ngô Đình Diệm dùng kế hoãn binh, thương lượng với nhóm sĩ quan đảo chính xin cho ông ta có thời gian sắp xếp, bàn giao quyền hành trước khi ra nước ngoài. Trong khi đó, Diệm đã huy động quân đội các nơi về ứng cứu. Mờ sáng 12.11.1960, các sư đoàn thiết giáp và thủy quân lục chiến của Trần Thiện Khiêm, Huỳnh Văn Cao đã kéo về. Các lực lượng khác của Tôn Thất Xứng, Lê Nguyên Khang, Chung Tấn Cang... cũng tập họp lại phản kích. Quân đảo chính cốt ở đánh nhanh rút gọn, nay bị căng mỏng ra nên lần lượt thất thủ. Các sĩ quan cầm đầu như Vương Văn Đông, Nguyễn Chánh Thi... lên một chiếc máy bay vận tải đem theo tướng Thái Quang Hoàng làm con tin sang Campuchia tị nạn chính trị. Rõ ràng đây là một cuộc binh biến hoàn toàn tự phát, không hề có thế lực nào ở đằng sau hay bên ngoài hỗ trợ.


 


Về chuyện này, có một chi tiết hay hay. Ông Nguyễn Cao Kỳ, khi ấy là đại úy không quân, tình nguyện lái máy bay đưa các đại ca đi lánh nạn, nhưng nhóm đảo chính đã bố trí đại úy Phan Phụng Tiên lo việc này nên ông Kỳ đành ở lại. Riêng cánh quân của Phan Lạc Tuyên đóng ở Bộ Tổng tham mưu thì rút theo đường bộ qua cửa khẩu biên giới Gò Dầu - Tây Ninh rồi cũng đến Campuchia trong ngày hôm đó.


 


Sau hơn một năm bị chính quyền Campuchia quản thúc ở Phnom Penh, các thành viên của nhóm đảo chính có một số như Vương Văn Đông, linh mục Hồ Văn Vui... xin qua Pháp, Nguyễn Chánh Thi xin qua Mỹ. Riêng nhóm của Phan Lạc Tuyên xin được trở về vùng giải phóng miền Nam Việt Nam để tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nguyên hồi còn ở Sài Gòn, Phan Lạc Tuyên nhận được một lá thư của cách mạng viết: “Biết ông có lòng yêu nước, mong ông đem lòng yêu nước và tinh thần dân tộc để đóng góp cho cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc”. Mãi về sau Phan Lạc Tuyên mới biết người gửi cho ông lá thư ấy là đồng chí Mười Cúc (tức Nguyễn Văn Linh), nhưng ngay từ những ngày đầu bị quản thúc ở Phnom Penh, nhóm Phan Lạc Tuyên và một số đồng đội như Năm Thúc, Sáu Nghĩa (nhà văn Thủy Thủ, Tư Minh) đều đã khẳng định quyết tâm đi theo cách mạng. Cơ sở cách mạng ở Phnom Penh là tờ báo Trung Lập do ông Trần Văn Kiêm làm chủ bút. Phan Lạc Tuyên và Thủy Thủ tích cực viết bài cho báo Trung Lập, ngoài ra còn cộng tác với tờ La Dépêche de Cambodge (Tin nhanh Campuchia), có quan điểm tiến bộ, gây được ảnh hưởng mạnh mẽ trong cộng đồng Việt kiều ở Campuchia. Hóa ra những điều học được trong trường báo chí ở New York, giờ đây lại rất có ích cho ông trong cuộc chiến đấu bằng ngòi bút.


Từ đây Phan Lạc Tuyên chính thức tham gia Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam VN. Tháng 7.1963, nhóm Phan Lạc Tuyên được Trung ương Cục bí mật điều động về khu giải phóng. Năm 1965, Phan Lạc Tuyên cùng phái đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN từ khu giải phóng công khai trở lại Phnom Penh tham dự Hội nghị Nhân dân Đông Dương do chính phủ vương quốc Campuchia đăng cai. Tại hội nghị, Phan Lạc Tuyên thay mặt nhóm đảo chính 11.11.1960 đọc tham luận chính trị gây tiếng vang rất lớn ở Sài Gòn lúc bấy giờ. Sau đó, ông được giao công tác làm Ủy viên phái đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam VN tại miền Bắc (Hà Nội).


 


Phan Lạc Tuyên xuất thân từ một gia đình khoa bảng ở đất Bắc (Thạch Thất - Sơn Tây), từ cuối đời Lê có tiến sĩ Phan Bảng được khắc tên trong bia đá ở Văn Miếu Hà Nội. Bởi vậy, sau khi đã làm nhiệm vụ của người trai thời chiến, Phan Lạc Tuyên lại quay trở về với truyền thống bút nghiên của gia tộc. Trong thời gian công tác ở miền Bắc, ông đã tranh thủ nghiên cứu, học hỏi và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Dân tộc học ở Ba Lan.


 


Bây giờ nhắc lại chuyện cũ, tôi có thể gọi ông là đại úy hoặc tiến sĩ Phan Lạc Tuyên với tấm lòng ngưỡng mộ. Đối với ông, cả con người cầm súng lẫn con người cầm bút đều phải trải qua những thử thách chọn lựa mang ý nghĩa dấn thân của người trai thuộc thế hệ vàng của tuổi trẻ miền Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.


 


Hoàng Phủ Ngọc Phan


thanhnien.com.vn


 


Tiến sĩ Phan Lạc Tuyên đi tu


Tiến sĩ Phan Lạc Tuyên là một học giả nổi tiếng về Dân tộc- Tôn giáo học, từng giảng dạy ở rất nhiều trường đại học trong và ngoài nước, có nhiều công trình nghiên cứu sâu sắc, 20 năm gắn bó với Học Viện Phật Giáo VN tại thành phố HCM qua 5 khóa học, góp phần đào tạo nên một đội ngũ đông đảo trí thức Phật giáo, trong đó có nhiều người hiện đang đảm nhận những trọng trách của Giáo hội.


Nhưng nói như thế chỉ mới khái quát nửa phần đời sau của ông thôi, còn nửa phần đời trước là cả một quãng đời binh nghiệp đầy sóng gió, can cường mà ít người biết đến. Ông là người tích cực tham gia cuộc đảo chánh chống chế độc tài Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo.


 


Và rồi hôm nay, ở cái tuổi 83 ông kiên quyết vào ở hẳn trong chùa. Ngôi chùa mà ông chọn ở là chùa Diệu Pháp ở P.13, Bình thạnh, cuối con đường Nơ Trang Long.


Đến thăm ông vào một chiều mùa hè nơi ông ẩn tu. Câu chuyện bên tách trà với ông không biết đã đi qua mấy tuần rồi, từ chuyện đời, chuyện đạo; chuyện binh nghiệp, chuyện dạy học...


- Thưa Cụ! Ông bà mình thường bảo vào chùa để tu. Vậy hôm nay Cụ vào chùa ở phải chăng Cụ quyết chí tu hành?


 


Vâng! Vào chùa là để tu tất nhiên rồi. Nhưng cũng không hẳn như vậy. Vì tôi đâu chỉ tu kể từ khi vào chùa. Nếu nói gặp Phật mến Phật là tu, thì tôi đã tu từ bé, khi còn lẽo đẽo theo mẹ lên chùa. Tôi nhớ không rõ trong kinh nào, có kể câu chuyện một người đốn củi vào rừng bị thú dữ nạp, hoảng quá leo lên ngọn cây mà miệng cứ mãi niệm Nam mô Phật, Nam mô Phật rồi sau này thành Phật. Huống nữa là cậu bé ngây thơ đầy lòng mến mộ đức Phật như tôi lúc bấy giờ. Còn nói bảo vệ Phật pháp, làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài ở thế gian là tu, thì khi tôi tiến hành đảo chánh chống Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo là tu rồi còn gì. Còn nói đem tri thức, đem giáo lý đức Phật phổ cập đến cho nhiều người là tu, thì suốt những năm tháng giảng dạy tại các trường đại học tôi cũng đang tu đấy chứ. Tất nhiên, tôi dạy Tôn giáo học nói chung, trong đó có Phật giáo, nhưng tôi luôn đề cao tư cách đạo đức của Phật và tính trí tuệ trong giáo lý của Ngài. Đây đều là những sự thật, mà đã là sự thật thì ngại gì không nói. Tôi biết rất nhiều người có cảm tình với Phật sau khi nghe tôi nói, và cũng rất nhiều tìm hiểu lại Phật giáo rồi thay đổi thái độ. Đó là chưa kể lúc tôi dạy tại Học viện, góp phần đạo tạo được rất nhiều Quý Thầy, Quý sư Cô tài ba. Tất cả đều là tu hết, nhưng qua mỗi thời kỳ chúng ta có cách tiếp cận khác nhau mà thôi.


 


Tôi nay hơn 80 rồi, gần cuối cuộc lữ hành rồi, phải tu khẩn trương, nghiêm túc hơn nên tôi vào chùa ở hẳn. Hằng ngày tôi ăn chay, niệm Phật, ngồi thiền theo quý Thầy. Hiện tại tôi rất hạnh phúc. Khung cảnh nơi đây thật yên bình nên thơ. Có tiếng chim, có sóng vỗ, có khóm trúc vàng, có cây đa cổ thụ... đó là những hình ảnh tiêu biểu của làng quê Việt Nam muôn đời. Tôi yêu khung cảnh này, và hy vọng tìm được ít vốn liếng Phật trước khi về với Ngài.


 


- Cụ có nhắc đến cuộc đảo chính năm 1960. Thưa Cụ, lâu nay chúng ta chỉ mới biết đến một Phan Lạc Tuyên là nhà khoa học, chứ ít biết còn một Phan Lạc Tuyên khác nữa, đó là Đại úy Phan Lạc Tuyên, một trong những người lãnh đạo cuộc đảo chánh năm 1960. Cụ có thể kể về sự kiện này được không?


 


À đó là cuộc đảo chánh ngày 11/11/1960 do tôi và một số Sỹ quan Sài Gòn tiến hành. Như tôi đã nói, là người theo đạo Phật từ khi còn nằm trong bụng mẹ, vì mẹ tôi siêng đi chùa lắm, khi có mang tôi, mẹ càng siêng hơn nữa, có lẽ là để cầu nguyện cho tôi. Rồi khi bé, Rằm, Mùng Một nào mẹ cũng dẫn tôi đi chùa. Kỷ vật về mẹ của tôi là một tràng hạt và một tượng Phật Bổn Sư mẹ để lại cho tôi, hiện giờ tôi vẫn còn giữ. Nên tình cảm của tôi đối với đạo Phật như là một cái gì đó rất tự nhiên. Khi Ngô Đình Diệm tiến hành đàn áp Phật giáo ở miền Nam, tôi đang là chỉ huy phó kiêm tham mưu trưởng Liên đoàn biệt động quân khu thủ đô. Quá bất mãn với những việc làm của ông Diệm, Nhu, tôi cùng với một số sĩ quan khác tiến hành đảo chánh.


 


Mà nghĩ cũng lạ, tuy chưa có dịp hiểu sâu về Phật pháp, nhưng tôi luôn xem nhẹ danh lợi, phải chăng đây là Phật tính nhiều đời, nhiều kiếp tích tụ trong tôi. Nếu thế thì thật là phúc cho tôi, vì nhờ đó mà tôi thoát được những tình thế ngặt nghèo của thời cuộc. Khi ấy tôi 30 tuổi, một hôm Tổng thống Ngô Đình Diệm gọi tôi vào dinh và đề nghị tôi làm Tỉnh trưởng tỉnh Bình Dương kiêm chỉ huy quân sự, Ông còn nói, nếu đồng ý, tôi sẽ là một tỉnh trưởng trẻ nhất miền nam lúc bấy giờ. Nhưng tôi lựa lời thối thác và sau đó tiến hành đảo chánh chống ông ta. Nếu đam mê danh lợi chắc tôi là tội đồ của dân tộc rồi, và chắc chùa cũng không cho tôi ở đâu, vì theo ông Diệm thì phải chống lại Phật giáo rồi! (cười).


 


- Nếu lịch sử có sự lập lại, Cụ có vì Phật giáo một lần nữa xả thân nữa không?


 


Tất nhiên, đối với Phật giáo lúc nào tôi cũng sẵn sàng. Nhưng mỗi thời đại nó có những vấn đề khác nhau. Hiện tại, theo tôi, để có thể đóng góp thật nhiều cho Phật giáo thì mọi người, từ tu sĩ cho đến cư sĩ phải học thật giỏi giáo lý của Phật và tu hành thật nghiêm túc vào. Đó là cách tốt nhất và duy nhất hiện nay.


 


- Từ một quân nhân đến một nhà giáo, hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau nếu không nói là đối lập nhau. Nhưng ở phương diện nào Cụ cũng thể hiện một cách xuất xắc. Vậy thưa Cụ điều gì đã khiến một Phan Lạc Tuyên quân nhân trở thành Phan Lạc Tuyên nhà giáo?


 


Gia tộc tôi thuộc truyền thống khoa bảng. Từ đời Lê đến tôi có 2 vị đậu tiến sĩ. Bản thân tôi cũng là bạch diện thư sinh, bị động viên đi lính khi đang học năm 2 trường luật Hà Nội. Vào quân đội rồi nghiệp bút nghiên vẫn cứ đeo đuổi. Tôi dạy ở trường chỉ huy và tham mưu, và làm chủ bút tạp chí Đại học quân sự Sài gòn. Nói như vậy để thấy rằng dòng máu khoa bảng luôn nóng chảy trong người tôi, còn việc chiến chinh chỉ là thời cuộc mà thôi. Nên khi đất nước thống nhất, tôi trở về với chính con người của tôi, con người văn chương học thuật. Tôi còn nhớ một mẩu chuyền vui về quyết định đi dạy của mình thế này. Đó là sau khi giải phóng miền nam, tôi ở nước ngoài về gặp Cụ Phạm Văn Đồng khi ấy đang là Thủ tướng, Cụ hỏi tôi có đề nghị gì không, tôi đề nghị là được đi dạy học. Cụ phá lên cười sảng khoái, bảo tôi rằng tưởng đề nghị gì, chứ đi dạy học thì quá đơn giản. Tôi nói: "vâng thưa Thủ tướng! Nhưng mà sách vở, tài liệu tôi sưu tầm nhiều lắm, lúc này phương tiện đi lại rất khó khăn, xin Thủ tướng giúp đỡ”. Thủ tướng nói ngay: “Được! có xe của chị Bình (tức bà Nguyễn Thị Bình) đi công tác ở nước ngoài để không đấy, lấy cho đồng chí Tuyên mượn”. Thế là tôi bắt đầu con đường đi dạy học từ đó và mãi cho tới bây giờ.


 


- Được biết Cụ được đề nghị phong Giáo sư đến 2 lần nhưng Cụ từ chối?


 


Vâng đúng thế! Mọi danh hiệu đều là phù phiếm, đức Phật chẳng dạy thế sao. Danh hiệu đã phù phiếm rồi, mà danh hiệu không đúng càng phù phiếm gấp bội lần. Sống thực tế với chính con người mình ý nghĩa hơn, nên tôi từ chối.


 


- Cụ tham gia giảng dạy tại HVPGVN tại TP.HCM ngay từ khóa đầu tiên và trải qua 5 khóa. Vậy nhân duyên gì đưa Cụ đến với Học viện?


 


Cụ Tuyên: Lúc đó tôi đang công tác tại Viện khoa học xã hội miền nam, chuyên ngành dân tộc học. Tôi được Học Viện - lúc đó gọi là trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam - mời phụ trách môn Văn minh Việt Nam. Hình ảnh tôi còn nhớ như in trong đầu, Hòa thượng Thích Minh Châu đích thân đến nhà tôi, mời tôi dạy học khiến tôi rất cảm động. Tôi rất quý Hòa thượng Minh Châu. Ngòai ra, trong thời gian công tác với học viện, Hòa Thượng Thích Chơn Thiện là người mà mỗi lần gặp gỡ tôi đều có ấn tượng rất tốt đẹp.


 


- Xin Cụ kể một kỷ niệm đáng nhớ nhất khi giảng dạy tại Học viện?


 


Đó là chuyến đi điền giã thực tế 1 tuần cùng với Tăng Ni khóa 4 tại Tháp Bà Ponagar Nha Trang, một công trình kiến trúc tiêu biểu của văn hóa Chămpa. Thầy trò chúng tôi ngồi học, thảo luận ngay dưới chân tháp về mọi vấn đề của tháp Chăm. Quý Thầy Cô rất thông minh và nhiều thắc mắc, khiến tôi không ít lần phải bối rối. Chuyến đi đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm đẹp. Tôi nhớ mãi chuyến đi này.


 


- Phật giáo như là một sợi chỉ xuyên suốt cuộc đời của Cụ. Từ một cậu bé hồn nhiên, đến một sỹ quan cang cường, rồi một nhà giáo thâm trầm... thế thì điều gì của Phật giáo đọng lại sâu nhất trong Cụ.


 


Đó là câu nói: thắng ngàn quân địch ở chiến trường không bằng tự thắng mình, thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất. Mình đây là nỗi sợ hãi, sự hèn nhát, lòng ích kỷ, tính đố kỵ... mà Phật dạy là Tham Sân Si... đây mới thực sự là những đối thủ khủng khiếp và đáng sợ nhất, mà tôi thấy chưa ai có thể chiến thắng được một cách toàn diện, triệt để, ngoại trừ đức Phật. Chính vì thế nên chúng ta mới lạy Phật, tu theo Phật, tức là học cách tự thắng. Điều này cũng nói lên rằng sự cao siêu, vĩ đại hay sự đốn mạt, thấp hèn không phải ở trên trời hay dưới đất, mà ở ngay trong chính con người chúng ta.


 


- Với tư cách là một nhà khoa học, nhà sư phạm, cụ thấy Phật giáo có thể đóng góp được gì cho con người trong hiện tại?


 


Sống và chết, chiến tranh và hòa bình là những vấn đề lớn nhất của nhân loại muôn đời. Phật giáo đáp ứng được tất cả những vấn đề này từ trong ý nghĩa cụ thể nhất đến khái quát nhất. Chiến tranh diễn ra hàng ngày trên khắp thế giới, kết cục bi thảm của nó là cái chết vô nghĩa của những con người vô tội. Càng đau khổ chết chóc vì chiến tranh, người ta càng khát vọng hòa bình, nhưng hòa bình làm sao được khi lòng đầy thù hận. Thù hận chỉ có thể chuyển hóa, chứ không không thể đè nén. Tôi rất ấn tượng với ảnh dụ lấy đá đè cỏ của đức Phật, vì rốt cuộc cỏ vẫn cứ mọc lên thôi. Giải quyết chiến tranh bằng chiến tranh chỉ làm cho chiến tranh thêm lan tràn. Như lời phật dạy, chiến tranh nằm ngay trong lòng người. Tôi rất mừng là gần đây, Liên Hợp Quốc đã chọn ngày Đản sinh của đức Phật làm ngày kêu gọi hòa bình cho thế giới. Đây là điều rất tốt cho Phật giáo. Phật giáo phải trở thành kim chỉ nam cho con đường mưu cầu hòa bình hạnh phúc của nhân loại. Tôi nghĩ đã đến lúc, các nhà Phật học nên tranh thủ giới thiệu, quảng bá một cách mới mẻ, khoa học, gần gũi những giá trị từ bi, bình đẳng, nhân ái, hiếu sinh... điều này không chỉ làm cho Phật giáo trở nên gần gũi, có ích với mọi người, mà quan trọng là con người được cung cấp những phương pháp hữu hiệu để vun đắp hạnh phúc cho bản thân và cộng đồng xã hội.


 


- Xin Cụ cho một lời kết về cuộc nói chuyện này?


 


Tôi sống đến nay đã hơn 80 tuổi rồi. Sự đời có gì mà tôi chưa từng nếm trải. Nhưng càng từng trải, kinh nghiệm thì niềm tin nơi Phật pháp càng sáng lên trong tôi. Cứ tưởng rằng tiếp xúc nhiều với khoa học, với văn minh vật chất của phương Tây, thì niềm tin vào Phật bị lấn át đi. Nhưng hoàn toàn không phải như vậy. Phật pháp vẫn đứng vững giữa dòng chảy như thác lũ của khoa học và văn minh nhân loại hiện nay, mà cụ thể là trong lòng tôi. Vì phật pháp hết sức nhân bản, và trí tuệ. Trí tuệ từ cách đặt vấn đề đến cách giải quyết nó. Đó là luôn lấy con người làm trung tâm của mọi suy tư và hành động. Và chính điều này làm cho Phật giáo có khả năng bao dung được trí tuệ của nhân loại, mà các tôn giáo khác không có được.


Và tôi sáng nào cũng ngồi thiền!


- Xin cảm ơn Cụ, chúc Cụ nhiều sức khỏe.


29.01.2010


phatgiaovnn.com


 


 


GS TS. Phan Lạc Tuyên: Điểm dừng chân nơi đạo Bụt 


Vừa là một nhà giáo, vừa là một Phật tử thuần thành, Giáo Sư Phan Lạc Tuyên đã gắn bó với Học Viện Phật giáo Viêt Nam tại TP.HCM trong suốt nhiều khóa học liền, truyền trao kiến thức cho Tăng Ni sinh qua môn học Văn Minh Việt Nam.


Đối với cựu Tăng Ni sinh khóa 5 HVPG thành Phố Hồ Chí Minh, thầy Phan Lạc Tuyên là người thầy, người Phật Tử hết lòng vì đạo. Nhắc đến thầy, ai trong số họ cũng không thể quên hình ảnh "ông giáo già" tận tụy trên bụt giảng. Sau những giờ lên lớp, ông thường tâm sự với học trò về những trăn trở, suy nghĩ đối với ngành giáo dục Phật giáo Việt Nam. Đó là tâm huyết chân thành của ông với vai trò là một giảng viên đứng trên giảng đường Phật Học, cũng như những người bạn cùng thời, cùng tuổi ông lúc bấy giờ, trong đó có cố giáo sư Minh Chi.


 


Kết thúc khóa 5 cũng là lúc thầy không còn tiếp tục giảng dạy nữa, song những điều thầy chia sẻ đối với Tăng Ni Trẻ hôm nào, nó vẫn nóng hỏi như mới ngày hôm nay. Thầy Giác Nhường, Thầy Giác Thái - Cựu tăng ni sinh Khoá 5 đến thăm thầy trong lần trở về nước vừa rồi, được thầy tặng sách, hỏi thăm và chấp tay cung kính lễ chào, khiến họ không khỏi xúc động vì những tình cảm cao quý mà thầy dành tặng. Có thể nói, Thầy Tuyên là người tri thức đến với đạo Bụt bằng chính con đường giáo dục Phật pháp, một người thầy đáng kính của bao thế hệ Tăng Ni.


Hiện nay, ông chọn Chùa Diệu Pháp, Quận Bình Thạnh, Thành Phố Hồ Chí Minh là nơi dừng chân tu tập, an tịnh tâm hồn trên quãng đường dài đã đi qua nơi cuộc đời này. Dẫu thời gian trôi nhanh, bao thế hệ Tăng Ni đi qua, nhưng tấm lòng, hình ảnh của thầy Phan Lạc Tuyên luôn luôn  tồn tại  trong tâm trí của những học trò cũ - Tăng Ni sinh khóa 5, mãi mãi không phai.


timhieudaophat.com


 


Cuộc tình bi thảm của một người đảo chính: Katherin Trinh Mây.


Phan Lạc Tuyên sinh năm 1930, là hậu duệ đời thứ 13 của họ Phan cự phách ở làng Hữu Bằng, Thạch Thất, Sơn Tây. Năm 1951, đang học dở Trường Luật, Phan Lạc Tuyên được quân đội vét vào danh sách đào tạo Sĩ quan trừ bị khoá I của cái gọi là Quân đội Quốc gia Việt Nam, chung khoá với một loạt tên tuổi sau này sẽ là những tướng lĩnh chóp bu của quân đội Sài Gòn như Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Xuân Vinh, Nguyễn Đức Thắng, Bùi Đình Đạm, Nguyễn Bảo Trị, Chung Tấn Cang, Lê Nguyên Khang v.v…


Ở tuổi 30, Phan Lạc Tuyên được Tổng thống Ngô Đình Diệm mời giữ chức Tiểu khu trưởng kiêm Tỉnh trưởng tỉnh Bình Dương. Nhưng Tuyên từ chối. Thay vào đó, anh khoác lên mình bộ quân phục rằn ri nâu, đội bê rê nâu, trở thành Chỉ huy phó Liên đoàn Biệt động quân, một  binh chủng con cưng của chế độ vừa mới thành lập.


Mang nặng tinh thần dân tộc chủ nghĩa, ngay khi đang bước trên con đường công danh rộng thênh thang, Phan Lạc Tuyên đã nhận ra và lớn dần lên trong lòng những mối hoài nghi về lý tưởng, về cái gọi là chính nghĩa quốc gia, về đạo lý và tính hợp pháp của cái chế độ mà anh đang dốc lòng phục vụ. Sau 5 năm kể từ ngày ông Ngô Đình Diệm về nước chấp chính, miền Nam Việt Nam vẫn chỉ là một xã hội ly loạn. Vết thương chia cắt của dân tộc ngày càng bị khoét sâu. Tất cả hàng hoá, nguyên nhiên liệu cần thiết cho việc xây dựng và phát triển xã hội đều phụ thuộc vào viện trợ Mỹ và nhập khẩu. Cả miền Nam chỉ có duy nhất một món hàng xuất khẩu, đó là… chủ nghĩa chống cộng cực đoan, một mối họa tàn phá dai dẳng.


Tâm trạng hoài nghi, sự chán ghét đối với chế độ độc tài đang thống trị miền Nam đã đẩy Phan Lạc Tuyên và một bộ phận sĩ quan trẻ trong quân lực Việt Nam cộng hoà ngả dần về phía hư vô chủ nghĩa. 0h ngày 11/11/1960, tại vị trí tiền đồn biên giới Việt Nam - Campuchia ở rừng Sa Mát, Tây Ninh, Đại úy Chỉ huy phó Phan Lạc Tuyên đã ra lệnh cho thuộc hạ bắt giữ Thiếu tá Chỉ huy trưởng Lữ Đình Sơn, giành quyền kiểm soát toàn bộ 12 đại đội của Liên đoàn Biệt động quân.


Chỉ để 2 đại đội ở lại tiếp tục làm nhiệm vụ (giống như lực lượng biên phòng ngày  nay) ở biên giới, Phan Lạc Tuyên đã chỉ huy 10 đại đội Biệt động quân, 12 khẩu pháo từ Tây Ninh kéo về Sài Gòn cùng Đại tá Nguyễn Chánh Thi - Chỉ huy trưởng Lữ đoàn nhảy dù và Trung tá Vương Văn Đông, giảng viên Trường Đại học Quân sự tiến hành đảo chính Ngô Đình Diệm, một vị Tổng thống cũng có phần nào giống như anh, rất nặng tinh thần quốc gia dân tộc!


Tuy cùng mưu cầu đại sự nhưng cả 3 kẻ khởi xướng và chỉ huy cuộc binh biến lại hoàn toàn không đồng nhất với nhau trong cả mục đích lẫn phương pháp. Nguyễn Chánh Thi quá lỗ mãng, võ biền, chỉ muốn gây binh biến để loại bỏ, trừng trị một bộ phận mà ông ta ghét cay ghét đắng trong chính phủ và quân đội. Ý thức chính trị của Thi rất mù mờ.


Vương Văn Đông, ngược lại, tuy không có lấy một người lính thuộc quyền làm thực lực nhưng lại chất chứa quá nhiều mưu mô và tham vọng chính trị. Ông ta lại đang thậm thụt đi lại với một đám những tay Phòng Nhì cũ như Quách Sến, Nhữ Đình Lan đang lưu vong tại Cao Miên. Đầu óc thân Pháp của Đông vẫn còn nặng trịch, vẫn hão huyền tái lập ảnh hưởng chính trị của Pháp trên đất miền Nam. Phan Lạc Tuyên thừa nhiệt tình, thật tâm muốn chấm dứt quyền lực của một chế độ độc tài đã mục ruỗng, song cũng chưa hề hình dung sẽ thay nó bằng gì. Cả 3 kẻ lãnh đạo cuộc đảo chính đều không có chút ý thức nào trong phần việc phải làm để "chăm dân, trị quốc", nếu việc lật đổ anh em ông Ngô Đình Diệm giành được thắng lợi.


Lẽ ra cuộc binh biến chỉ nổ ra sau 0 giờ ngày 12/11/1960, chậm hơn so với thực tế một ngày. Nhưng vì không nắm quân trong tay, sợ mất vai trò sau khi đảo chính thành công, Vương Văn Đông đã cố tình phát động binh biến trước 24h, sau đó mới báo cho Nguyễn Chánh Thi biết, đặt kẻ đồng mưu trước việc đã rồi. Mục đích của Đông là tạo cơ hội để giành quyền bày binh khiển tướng, tự nâng cao vai trò cá nhân. Vì sự bị động này nên các đơn vị tham gia đảo chính đã triển khai hành động không đồng bộ. Mãi đến trưa ngày 11/11, mục tiêu quan trọng nhất là Dinh Gia Long vẫn chưa bị chiếm.


Bên trong hàng rào Dinh Gia Long, sức kháng cự của Liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống vẫn còn rất mạnh. Từ sân Bộ Tổng tham mưu, 12 khẩu pháo 105 ly của Phan Lạc Tuyên đã nhắm hướng Dinh Gia Long, lấy sẵn tọa độ, sẵn sàng trút lửa giã nát lực lượng phòng thủ trong Dinh nếu Nguyễn Chánh Thi ra lệnh.


Nhưng miệng lưỡi giảo hoạt của Vương Văn Đông đã thuyết phục được Thi bãi bỏ lệnh xạ kích vì "Tổng thống đã xin điều đình, ta phải tin". Thay vào đó, Thi và Đông quay sang chuẩn bị họp báo om sòm, tuyên ngôn lớn tiếng cùng Phan Quang Đán, Phan Khắc Sửu, linh mục Hồ Văn Vui… đám chính khách salon xôi thịt.


Cơ hội bị bỏ lỡ. Bằng hệ thống điện đài cực mạnh trong Dinh Tổng thống, Diệm đã có thời gian liên lạc gọi các tướng lĩnh trung thành đưa quân về tiếp cứu. Trong khi Thi, Đông, Tuyên tin tưởng vào lời hứa đầu hàng của Tổng thống Ngô Đình Diệm, vẫn loay hoay thương thuyết cả ngày trời với Võ Văn Hải, Bí thư riêng của ông Diệm về cách thức chuyển giao quyền lực tại Bộ Tổng tham mưu thì khuya 11/11, từ ba bề bốn bên, quân "cứu giá" đã ùn ùn kéo về Sài Gòn: Sư đoàn 7 của Tướng Huỳnh Văn Cao từ Biên Hoà vào, Sư đoàn 13 của Trần Thiện Khiêm từ Mỹ Tho lên, sư đoàn 5 của Đại tá Nguyễn Văn Thiệu từ Bảo Lộc kéo xuống…


Trong nội đô, một loạt đơn vị khác như Lữ đoàn Thiết giáp của Lê Nguyên Khang từ Gò Vấp, lực lượng hải quân của Chung Tấn Cang ở bến Bạch Đằng cũng rục rịch  tấn công vào sườn quân đảo chính.


 


Hành sự như một tay tập sự, Nguyễn Chánh Thi phạm thêm một sai lầm lớn nữa là không cho quân chiếm Đài Phát thanh Sài Gòn. 1 giờ trưa ngày 12/11, đài đã cho phát công khai lời hiệu triệu của chính ông Diệm kêu gọi các đơn vị đưa quân về Sài Gòn dẹp loạn.


Biết thất bại đã gần kề, Nguyễn Chánh Thi, Vương Quang Đông đã cho bắt Trung tướng Thái Quang Hoàng ném lên xe Jeep phóng ra phi trường Tân Sơn Nhất. Viên tướng Tư lệnh Biệt khu Thủ đô bị đám loạn quân đẩy lên  một chiếc DC4 do Đại uý Phan Phụng Tiên cầm lái bay thẳng sang Nam Vang xin tị nạn chính trị.


Phan Lạc Tuyên ban đầu định liều mạng sống chết đánh luôn một trận cuối cùng. Một số sĩ quan thuộc quyền xúm vào can ngăn, khiến anh thay đổi ý định. Cùng với Trung úy Ân, Hạ sĩ Thúc và một người lính, viên đại uý dự mưu bất thành dùng xe Jeep rút về Tây Ninh. Tại cửa khẩu Sa Mát, anh đã đánh lừa đám quân canh gác cửa khẩu để cho Hạ sĩ Thúc có cơ hội bất ngờ tăng tốc tung gãy barie chắn đường, đưa chiếc xe Jeep có 4 tay đào tẩu ngồi trên vọt thẳng sang đất Cao Miên bắt đầu cuộc đời lưu vong.


Sau khi thẩm vấn, nhà chức trách Cao Miên đưa nhóm của Phan Lạc Tuyên về trại tỵ nạn Monivông ở Phnôm Pênh. Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông cũng ở trại này. Nhưng những mâu thuẫn sâu sắc trong quan điểm đã khiến ba kẻ dự mưu hầu như không liên lạc, thăm viếng gì nhau. Mỗi người trong số họ lại tiếp tục đeo đuổi những dự định riêng, những lựa chọn chính trị khác biệt.


Nắm được tâm tư, nguyện vọng của cựu Đại úy Phan Lạc Tuyên và một số cộng sự xuất thân Biệt Động quân, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã bí mật liên lạc, lôi kéo thành phần dân tộc chủ nghĩa trong nhóm đảo chính lưu vong về phía cách mạng. Một cuộc gặp gỡ bí mật đã diễn ra tại toà soạn Báo Trung Lập (một tờ báo do MTDTGPMN thành lập) tại số 380 đường Mônivông. Tại đây, Phan Lạc Tuyên được ông Trần Văn Kiêm (chủ bút), ông Hai Lý (đại diện Ban Binh vận TW Cục miền Nam) và anh Nguyễn Thế Thịnh (công nhân in) tiếp đón. Sau buổi  tiếp xúc, Phan Lạc Tuyên đã nhận lời giữ liên lạc với Ban Binh vận Trung ương Cục.


Ít lâu sau, phía Campuchia đã tách những người tỵ nạn thành 3 nhóm, ở 3 trại khác nhau, tuỳ theo thiên kiến chính trị của họ. Thông qua Sa Biêng, một lính gác người Miên gốc Việt, sách báo, tài liệu của MTDTGPMN đã được chuyển vào tận trại Stung Miênchay - nguyên là một chuồng ngựa cũ của Pháp - cho nhóm của Tuyên. Từ sự thuyết phục của anh, Trung úy Ân, Hạ sĩ Thúc, Trung úy Hồ Công Minh, Thiếu úy Thái Trần Trọng Nghĩa (nhà văn Thủy Thủ) và một số người khác đã đồng lòng cùng Tuyên theo về với Cách mạng.


 


Tháng 3/1962, tất cả những người tỵ nạn đều được phóng thích khỏi các trại, tự do tìm việc làm tại Phnôm Pênh, chỉ mỗi tháng một lần phải đến trình diện nhà chức trách địa phương. Nhờ vốn tiếng Pháp và khả năng viết báo, Phan Lạc Tuyên đã xin được một chân biên tập trong tờ La Depêche Du Cambogde do Châu Seng, Bộ trưởng Bộ Thông tin Campuchia sáng lập. Biết tính Phan Lạc Tuyên, ông Bộ trưởng kiêm chủ bút nhắc: "Viết gì cũng được nhưng đừng quá khích, ông Diệm cho mật vụ sang ném lựu đạn vô toà soạn thì khốn".


Cũng nhờ sự giới thiệu của ông Châu Seng, ít lâu sau đó, Phan Lạc Tuyên đã được mời dạy môn Văn chương hiện đại Pháp tại Trường Lyssé Anna Kout do Hoàng thân Virya, cậu ruột của ông hoàng Shihanouk làm Hiệu trưởng. Sau nhiều biến động và sóng gió, mối tình đầu êm đềm của Phan Lạc Tuyên đã nảy nở tại Trường trung học này. Tên nàng  là Katherin Trinh Mây, thường gọi là Kathy, một nữ sinh năm cuối trung học.


Mẹ gốc Hoa lai Việt, bố là người Campuchia, hiện đang giữ chức Giám đốc Trung tâm Y tế Thủ đô Phnôm Pênh. Kathy thừa hưởng được cả nét duyên dáng của người mẹ lẫn sự thông minh, học thức của bố. Bản thân cô cũng thành thạo 5 ngôn ngữ: Việt, Anh, Hoa, Pháp, Miên. Nhan sắc, dòng dõi và học thức đã biến Kathy thành một tiểu thư quý phái, đài các, trở thành hoa khôi của Trường Anna Kout.


Xuất thân quý tộc, được cưng chiều và ưa mơ mộng, Kathy tỏ ra đặc biệt quan tâm đến mẫu người hùng sa cơ đầy lãng mạn như ông thầy Phan Lạc Tuyên của cô. Phần khác, vẻ lấp lánh của trí tuệ trong những trang văn chương lãng mạn Pháp mà anh say mê giảng cũng gieo vào lòng cô gái không ít những cơn mơ bay bổng. Tuyên sống một mình trong gác trọ. Thỉnh thoảng, Kathy lại mượn cớ nhờ anh giảng giúp một đoạn văn, chuyển ngữ  giùm vài câu tiếng Pháp để tìm đến, giúp anh dọn dẹp, giặt giũ - những công việc mà ở nhà, cô đã có người giúp việc lo, chẳng bao  giờ phải mó tay.


Như thể tình cờ, Kathy cũng thường xuất hiện đúng vào lúc ông thầy giáo vừa ra khỏi cửa nhà. Mỗi lần như thế, cô thường... nhường tay lái chiếc xe hơi riêng để "cho thầy đi nhờ" xe của cô đến trường. Thỉnh thoảng, cô lại mời anh về nhà ở số 17, đường Yukanthor để giới thiệu cùng cha mẹ.


 


Ông Giám đốc Trung tâm Y tế Thủ đô, bố của cô, vốn là người ghét ông Ngô Đình Diệm nên tỏ ra quý mến, thường tiếp đón Phan Lạc Tuyên hết sức nhiệt tình. Những cuộc đàm đạo bên bình trà tàu do Kathy pha mời giữa ông và anh thường kéo dài nhiều giờ, rất tâm đầu ý hợp. Nghe tin thầy giáo Phan Lạc Tuyên bị ốm, bà mẹ thường giục Kathy tự tay làm thức ăn, sau đó lại giục ông chồng Giám đốc đích thân lái xe đưa con gái đến tận gác trọ thăm nom chăm sóc ông thầy. Trong những lần gặp gỡ ấy, Kathy đã được Tuyên bộc bạch ý nguyện muốn theo về với Cách mạng. Cô ngỏ ý sẵn sàng giã từ đời sống nhung lụa để theo anh tận cùng trời cuối đất. Không muốn, cũng không thể chối từ tấm lòng của người yêu, Phan Lạc Tuyên hết sức phân vân.


 


Tháng 7/1963, nhóm cựu Biệt động quân gồm Tuyên, Ân, Thúc, Minh nhận được chỉ thị của TW Cục miền Nam rời đất Cao Miên để về căn cứ. Sở CS đặc biệt Nam Vang nghiêm cấm những người tỵ nạn tham gia hoạt động chính trị. Vì vậy, chuyến đi phải giữ bí mật tuyệt đối, kể cả với người thân. Đau đớn, Phan Lạc Tuyên đành im lặng dứt áo ra đi, không báo cho Katherin Trinh Mây biết. Kỷ niệm duy nhất về cô mà anh mang theo là một tấm ảnh Kathy chụp nghiêng, khuôn mặt sang và nụ cười trong trẻo nhưng dường như định mệnh cũng đã phớt nhẹ lên đó một chút u hoài.


 


Ra cứ rồi ra Bắc tham gia nhiều hoạt động vì hoà bình, đến năm 1971, Phan Lạc Tuyên được gửi sang Ba Lan học và bảo vệ luận án Tiến sĩ sử học. Sau 12 năm xa cách bặt tin, mãi đến tháng 8/1975, khi trở lại Việt Nam, Tiến sĩ Phan Lạc Tuyên mới biết được đôi chút thông tin về Kathy yêu dấu. Nhiều năm trời, cô vẫn thương nhớ và đợi chờ anh. Cô đã tốt nghiệp bác sĩ Y khoa tại Pháp, đã lấy chồng ở Pháp và có một con gái. Thông tin đầu tiên đến với anh chỉ có chừng đó. Bỏ khá nhiều thời gian tìm kiếm, sang tận thủ đô Phnôm Pênh tìm đến tận ngôi nhà cũ của Kathy, Phan Lạc Tuyên cũng tuyệt đối không nhận thêm được thông tin gì về cô.


 


Phải thêm 4 năm sau nữa, khi đã định cư lâu dài ở phường 18, Tân Bình, Tiến sĩ Phan Lạc Tuyên mới có đầy đủ thông tin về Katherin Trinh Mây. Một người chị của cô lấy chồng người Hoa, chuyển theo chồng sang Sài Gòn sinh sống. Tình cờ, có một người bà con bên chồng của người phụ nữ này cũng ở phường 18, Tân Bình.


 


Từ thông tin của người này, Tiến sĩ Phan Lạc Tuyên đã  bỏ thời gian tìm kiếm, cuối cùng đã gặp được người chị ruột của Kathy tại Gò Vấp. Suýt chút nữa, anh lại là người đến trễ: người chị của Kathy đã hoàn tất thủ tục, không lâu nữa sẽ cùng chồng sang Pháp định cư. Cuộc trò chuyện vội vàng giữa họ thường xuyên bị ngắt quãng bởi những tiếng nấc nghẹn đau xót. Thông tin về người yêu chỉ đến với Phan Lạc Tuyên đầy đủ khi tất cả đã thành thảm kịch.


 


Ngày anh rời đi, Katherin Trinh Mây đã ngồi lại một mình trong căn gác trọ và khóc rất lâu. Kathy không biết tại sao anh đi mà không lời từ giã, nhưng cô tin là anh có lý do, tin rằng tình cảm của anh sẽ không bao giờ thay đổi. Vì thế, cô đã im lặng nhặt nhạnh tất cả mọi thứ giấy tờ, khung ảnh mà anh để lại trong gác trọ đem về nâng niu cất giữ như những kỷ vật. Cô cứ một mực chờ anh quay lại, chờ mãi.


 


Tốt nghiệp Trung học, Kathy sang Pháp học Y khoa. Cô đã từ chối rất nhiều lời cầu hôn, rất nhiều tiếng tỏ tình để  ôm mãi hy vọng sẽ gặp lại Phan Lạc Tuyên. Tháng 2/1965, Hội nghị Nhân dân Đông Dương được tổ chức tại Phnôm Pênh. Qua báo chí, Kathy mừng như bắt được vàng khi biết tin Phan Lạc Tuyên sẽ có mặt trong đoàn đại biểu của MTDTGP miền Nam Việt Nam tham gia Hội nghị. Gác chương trình học ở Pháp sang một bên, Kathy đã bay ngay về Phnôm Pênh tìm kiếm, chỉ mong được gặp lại người mà cô yêu dấu.


 


Không bắt được liên lạc, suốt một tháng trời diễn ra hội nghị, sáng nào Kathy cũng ôm một bó hoa tươi đứng chờ và ngóng tìm trước cổng khách sạn nơi có đoàn Việt Nam ở để đợi gặp anh. Nhưng, nguyên tắc bí mật được áp dụng triệt để, ngoài chương trình nghị sự, các đại biểu Việt Nam tuyệt đối không được có thêm bất kỳ một cuộc tiếp xúc riêng nào khác. Hàng ngày, họ được xe đón tận sảnh khách sạn, đưa đến hội nghị, rồi lại đón trả về tận sảnh. Suốt cả tháng trời, họ vẫn luôn ở sát bên nhau mà vẫn lướt qua nhau không một phút trùng phùng, dù cả hai đều cháy bỏng nhớ nhung và khát khao gặp mặt.


 


Khi Kathy đã tốt nghiệp bác sĩ Y khoa thì Phan Lạc Tuyên, muộn màng hơn, vẫn đang long đong với Ba Lan tuyết trắng để trả nợ bút nghiên, không để lại được một chút tin tức. Vô vọng, Kathy đành găm chặt thương nhớ vào lòng để lập gia đình.


 


Tháng 4/1975, Khmer Đỏ tiến vào Phnôm Pênh. Gia đình Katherin Trinh Mây ngay lập tức bị biến thành những nạn nhân đầu tiên trong chủ trương cuồng sát, diệt chủng tàn bạo và ngu xuẩn. Bởi lẽ, tất cả mọi thành viên trong gia đình cô đều là trí thức, đều có bằng cấp cao, cả gia đình gồm toàn những người có tiếng tăm trong xã hội thượng lưu của Thủ đô Phnôm Pênh. Cả cô con gái bé nhỏ của Kathy cũng  không tránh  được cơn đại họa. Duy nhất chỉ có mỗi chị gái đầu của Kathy, vì theo chồng sang Việt Nam sinh sống, không thường xuyên có mặt ở Campuchia nên mới có cơ hội sống sót. Cô trở thành nhân chứng, phải sống để chứng kiến, để có cơ hội thuật lại với Phan Lạc Tuyên đoạn kết bi thảm của một cuộc tình.


Lúc đó, cuộc đời và chuỗi tháng năm chờ đợi của người đảo chính, Tiến sĩ Phan Lạc Tuyên đã về rất xa bên kia sườn dốc. Ông đã gần 50 tuổi!


 


Nguyễn Hồng Lam


antgct.cand.com.vn


 


 


Thư Khanh, người em dâu, viết: VỀ PHAN LẠC TUYÊN


(Người viết tỏ ra không hiểu hết nội tình gia đình, thâm thù cộng sản, hận thù anh chồng PLT, nhiều lời mạt sát ông Phan Lạc Tuyên; văn chương kém, hứng lên là chấm, viết hoa tùm lum, lỗi chính tả quá nhiều!)


Ðám Tang Cụ Phan Vọng Húc - Bố Chồng Tôi


Tôi ghi lại đám tang cụ Phan Vọng Húc - Bố chồng tôi - tức là bố đẻ của Phan Lạc Tuyên và Phan Lạc Giang Đông. Vào ngày 25 tháng 1 năm 1983 - Đúng một năm sau khi Phan Lạc Giang Đông đi cải tạo về!


Trong tình cảnh này Giang Đông đang là Cái Bị Rách... tiền thì không có. Dù là có bà chị đang ở Seattle nhưng thỉnh thoảng được dăm chục đô la có thấm vào đâu. Tinh thần thì căng thẳng: Phan Lạc Tuyên bám sát để báo cáo!


Tuyên chỉ sợ Phan Lạc Giang Đông làm "cái gì " mà Tuyên không biết thì khi bị bắt rồi thì chính TUYÊN cũng có Lỗi với Đảng. Vì:


a- Tuyên làm công tác tình báo mà không theo dõi nổi ngay cả em ruột mình thì làm sao Nắm Được BọN VĂN NGHỆ SĨ MIỀN NAM đang như kiến vậy?!


b - Thực bụng Tuyên chỉ muốn Giang Đông chết ở trong trại cải tạo! Đúng như Tuyên đã báo cáo và đề nghị trại gia tăng mức độ cải tạo.


- Ôi chao - nó là sự MỤC TẬN XƯƠNG mục ra cho Giang Đông.


Khi cụ Húc tắt thở ở nhà bà vợ sau cùng là bà Tư Cao ở khu Cống Bà Xếp!


Trong tay không có tiền! Cửa căn nhà thờ Tuyên khoá trái từ lâu!


Giang Đông chạy lên ông chú thứ nhất là ông Tham Liên - Ông là Kỹ Sư Kiểm Lâm Thời Pháp để cầu cứu và bàn bạc.


Ông Tham nói: Để cho mời chú Tư Tài và bà Trẻ (Bà Vợ mà cụ Húc lấy từ khi còn trẻ ở Hải Dương - có 4 cô con gái đang ở Mỹ và 1 cô ở VN. Bà không có con trai- ông Tham, ông Tư đều có con ở Mỹ ).


Tập trung tại nhà ông Tham, bàn Đám Tang ông cụ.


Ông Tham chủ toạ nói:


- Tôi hay chú Tư Tài chỉ là anh em còn Anh Tuyên + Anh Giang Đông và bà Trẻ mới là chủ yếu.


Mọi phí tổn chúng tôi có thể cho mượn từ A đến Z. Xong trả lại sau.


Anh Giang Đông là con thứ vậy tôi đề nghị cho người xuống nhà anh Tuyên ở Phường 17 mời anh ấy về.


Còn Bà Trẻ tuy không có con trai nhưng bà có 5 mặt con với ông Xếp Húc cũng là tình nghĩa lắm rồi thì bà là KẾ MẪU ghé vai với anh Tuyên và anh Giang Đông để lo cho ông cụ.


- Kết quả: a- Tuyên tránh mặt không về - người đưa tin về là TUYÊN ĐI CÔNG TÁC!


Bà Trẻ dãy nảy không nhận trách nhiệm nói: Anh Giang Đông là con bà Cả = con của VỢ Cái Con Cột - còn tôi: Vợ bé con thêm nhất là ông cụ lại lấy thêm vợ nữa và có con rồi!


Tôi chỉ đi dự đám tang khi đưa ra chùa làm lễ hoặc về căn nhà nơi thờ cúng tổ tiên còn nếu để trong nhà bà Tư Cao thì tôi không đến.


Từ 6 giờ tối ông cụ tắt thở đến 9 giờ tối chưa xong bàn bạc!


Giang Đông năn nỉ bà Trẻ Ký Nợ Phụ còn mọi chuyện tang ma thì Giang Đông lo.


Bà Trẻ có uy tín về Tiền bạc vì con bà bốn cô con gái đang ở Mỹ thì Ông Tham Ông Tư Tài mới cho vay.


Bà Trẻ nghe ông Tham nói là: Chúng tôi chỉ biết bà là thay cho Bà Cả đã mất. Và từ nay anh Giang Đông phải gọi bằng Mợ chứ không được gọi bằng Dì Hai!


Giang Đông Vâng lời như tép và biên giấy nợ gấp để lấy tiền đi đặt nhà đòn!


Giấy ký nợ có hai người ký chịu trách nhiệm đó là chữ ký của Giang Đông và của bà Trần Thị Bột - ( mẹ Kế )


Chủ tang sẽ là Hai Người và chịu trách nhiệm chi trả.


Giang Đông quay cùng tôi và hai con tôi lên lo lau thi hài ông cụ và thay áo quần!


Con trai tôi, thằng thứ hai nó cũng bạo gan nó lau rửa cho ông. May mà áo rộng chứ không thỉ hơi cứng xỏ tay không nổi. Sau đó thức suốt đêm tại đây và mai đưa lên Chùa Vĩnh Nghiêm.


***Phan Lạc Tuyên không ló mặt và ngồi nhà họp với các con để " Coi thằng Giang Đông buôn bác xác ông Cụ - tin này do anh Quang làmgiáo viên bạn của Giang Đông và đệ tử của Tuyên - nhà Quang ở gần nhà Tuyên báo cho Giang Đông hay là Tuyên không ra mặt chứ không phải đi công tác! ).


Bà Mợ TRẺ lo thu và chi và Kết toán còn Giang đông lo khách khứa nhà đòn, nghĩa địa!!!và Liên Hệ Chùa Vĩnh Nghiêm để làm lễ tang ma cho - khách tới Viếng!


- Ngày đầu khách đông quá và học trò cùng thày cô ở các trường nữa!


- Ngày thứ hai thì Bà Trẻ thủ Qũy vui vẻ hơn vì có giấy báo là cô Phan Thị Đằng gửi 100 Đô La và Bốn cô con bà trẻ 200 đô nữa là tổng cộng có ba trăm đô la!


Cũng ngày này lúc 10 giờ sáng có Ông Mặc Đường Viện Trưởng Viện Khoa Học Xã Hội và Công Đoàn của Viện tới phúng một vòng hoa.


Ông Mặc Đường hỏi tôi:


Ai là chủ tang xin cho chúng tôi thắp nhang.


Tôi thưa: " Dạ thưa ông: anh Phan Lạc Giang Đông và bà Mẹ! "


Ông hỏi: " Tôi nghe bà Cụ mẹ Tuyên mất từ lâu cơ mà ? "


Tôi thật thà: " Thưa bà Mẹ Kế ạ! ".


Ông lại hỏi: " Vậy Tuyên đâu ?! "


Tôi thưa: " Anh Tuyên đi công tác! Chúng tôi cho người tìm tận nhà nhưng nhà đóng cửa. Gõ cửa mãi thì con anh ấy trả lời như vậy! ".


Ông Mặc Đường:


" Hừ! hắn đi công tác thì tôi là thủ trưởng phải biết chứ - Chị Công Đoàn cho gọi hắn lên đây ngay cho tôi - không thể như vậy được! ".


Tôi thưa:


" Thưa ông! Việc Nước trước việc nhà thưa ông - Nếu vì công tác thì Vong hồn Cụ Húc cũng vui vẻ thôI và chúng tôi lo tang ma được ạ! ".


Ông ta quay ra thắp nhang và đặt vòng hoa rồi ra về ngay.


Đến gần trưa, tức là hai giờ sau khi ông Mặc Đường về thì Tuyên lên - Mặc bộ đồ Treizy hay mặc để đi điền dã ( Đi khảo cổ thì mặc! ) bắt tay Giang Đông - bước vào đi thẳng vào Quan Tài ông Cụ. Hai tay chắp lên trán gục đầu ngang trên phía đầu quan tài. Rồi Tuyên ra thắp nhang và khấn to:


" Lạy bố, con bận đi công tác còn đang vận đồ điền dã - nghe tin bố mất con về thắp nhang.


Người ta sống thọ được như bố ít lắm - biết bao chiến sĩ Cách Mạng phải chết trẻ để đánh Mỹ cứu nước bố ạ! ".


Tuyên không nhận tang. Bà Trẻ thì sùng vì: Tuyên đã từng một điều: " MẸ! - hai điều Mẹ! " - hồi mới về để moi của của bà. Nay coi như chả cần biết bà là ai!!!


Bà bảo Giang Đông: Đây tôi trả lại anh cái Thủ qũy!


Lại một phen Giang Đông năn nỉ muốn chết!


- Ngày hôm sau động Quan đưa ra Nghĩa tranh Bình HƯNG HOÀ - bà Quẹo Tân Bình!Vì bạn hầu hết là thân quen nhưng số VĂN NGHỆ SĨ muốn tiễn đưa ông Cụ là nhà văn nhà viết sử mà còn muốn chứng kiến PHAN LẠC TUYÊN Có mặt và thái độ thế nào- coi nó Cộng Sản đến mức độ nào ?!


- Tuyên không có trong chùa trong buổi này. Nhưng khi tang Chủ sắp ngỏ lời ở trước mộ thì Tuyên xuất hiện - gạt Giang ông và Bà TRẺ ra!


Tuyên vẫn mặc bộ quần áo Điền dã và dõng dạc TUYÊN BỐ:


Kính thưa qúy vị:


Tôi là phan Lạc Tuyên. Tôi là con trưởng của cụ Phan Vọng Húc. Nay bố tôi qua đời! Tôi vì bận CÔNG TÁC tôi không về kịp nên nhờ em trai tôi là Phan Lạc giang Đông lo mọi thứ. Đến đây thì em tôi đã xong nhiệm vụ và tôi xin có đôi điều thưa với vong hồn bố: " Thưa bố! Con đi Kháng Chiến ăn bom ăn đạn! Bố được sống an bình tới tuổi này là qúy lắm rồi -


- Biết bao chiến sĩ cách Mạng phải hy sinh ở tuổi non trẻ! Vậy mong bố đi an bình! - tôi xin hết và tuyên bố lấp đất! ".Không một lời cám ơn ai cả!


Xong hắn ra xe con rể hắn chở đi.


Giang Đông lại chờ lấp đất xong và cảm ơn QÚY VỊ - cảm ơn Khách đưa đám!


Họ nói thì thầm: " thằng Tuyên nó sợ bố nó sống thêm ăn tốn 9 kí gạo hẩm cửa CÁCH MẠNG! Nghe nói đậu tới tiến sĩ mà culi quá! "


Bà TRẺ thì vật vã khóc kể lể....hai bà cô cũng kể lể: " Anh chết thì chúng em biết theo ai để cúng dỗ! ".


Bài vị ông Cụ được đưa về chỗ nhà thờ cũ -


Tôi đã phải nậy cửa từ hôm ông cụ tắt thở để lau chùi bàn thờ! Tuyên đã gài 1 cây sắt dài 2 gang tay của cây sắt b40 của nhà binh - ở phía trong trên cao của hai cánh cửa - khi cánh cửa vừa bật ra, cây sắt rớt tí bể đầu tôi - rớt trúng bàn chân tôi nhưng nhờ tôi đi giày nên xoa bóp hoài mới tan máu đỡ đau!!!!


**** Tôi cũng viết lại để một số bạn cũ ở xa không hiểu Tuyên là gì ?!


Nên khi chúng tôi sang Mỹ thì nhiều cú điện thoại gọi bảo chúng tôi: " tại sao không ở lại - Đi Mỹ làm gì - tụi này đang chuẩn bị Về Việt Nam nè! ".


Họ đã Về và đã phải TRỞ LẠI MỸ!!!!( tôi không muốn nêu tên họ ở đây thôi! ).


THƯ KHANH


 


MỒNg MỘT TẾT " CẮT MIỆNG " với PHAN LẠC TUYÊN


 


Trước khi Phan Lạc Tuyên nhắm mắt ra đi có lẽ tôi phải ghi lại hết những gì tôi chưa ghi để Cả Thế Giới cùng biết và khi Phan Lạc Tuyên có chết thì xin các thày chùa dốc lòng tụng kinh xin ĐỨC PHẬT bỏ tội cho hắn. Kẻo hắn thành Qủy về phá thế gian nữa!!!!


Tôi ghi lại đây chuyện cái tết Nguyên Đán đầu tiên sau khi Sài Gòn failed - của GIA ĐÌNH Giòng PHAN LẠC mà ông bố chồng tôi là Trưởng Tộc đã giao Quyền Trưởng cho PHAN LẠC TUYÊN!


- Sáng hôm đó là mồng một Tết, Tết Nguyên Đán đầu tiên khi Cộng Sảnvào SàI GÒN. Tôi gọi là Tết " Cắt Miệng " vì: Có quái gì đâu mà ăn.


Bố mẹ tôi còn ngo ngoe được nên cũng gói mươi lăm cái bánh chưng và cho em tôi mang cho mẹ con tôi Một cái và biếu ông Cụ Húc một cái.


Tôi ngồi nhìn hai cái bánh chưng và chảy nước mắt vì mọi năm trước năm 1975 - Cộng Sản chưa vào thì năm nào tôi cũng nấu 2 nồi bánh chưng lận. Vì để cúng Tổ Tiên bên chồng và đi Tết cha mẹ tôi cũng như để biếu bà cô ông chú cho đỡ tiền mua kẹo mứt!


Tôi lại khoái nấu bánh và canh bánh chưng còn KHOÁI HÁT bài: PHIÊN GÁC ĐÊM XUÂN theo tiếng than hồng nổ lép bép!!!!Có khi tôi hát say mê trong đêm canh bánh...


Kỷ niệm cứ về tràn đầy mà chồng tôi là chiến sĩ ĐI TÙ đói khát khiến tôi chảy nước mắt lặng nhìn hai tấm bánh bố mẹ vừa chia xẻ...- Biết là con cháu Đang đói giữa ngày Tết!


Thay vì tôi phải đem Tết bố Mẹ thì nay bố mẹ phải " TẾT! " con cháu thế này!


- Đang còn buồn tủi như vậy thì PHAN LẠC TUYÊN - Trưởng Tộc của họ PHAN LẠC cho con gái mời tôi qua để cúng Tổ Tiên và ăn Tết.


Khi tôi sang căn nhà để vốn THỜ Cúng.


Bàn thờ còn nguyên. Nhưng cửa chỉ mở cửa phụ còn cửa chính đóng!


Tôi để tấm bánh chưng mà bố mẹ tôi vừa đem bảo là biếu cụ THÔNG GIA là cụ Húc lên bàn thờ.


Tôi chưa kịp thắp nhang chỉ hỏi Phan Lạc Tuyên:


" Cậu chưa về à anh! Đây là bánh bố mẹ em biếu cậu! ".


Phan Lạc Tuyên cười trả lời:


" Cậu giao hết cho tao rồi! Ông cụ ở trên Cống Bà Xếp luôn! ".


" Nay việc thờ cúng phải theo tao! " - Tuyên chỉ cái ghế bảo tôi:


" Ngồi nghe tao đọc GIA PHẢ trước khi thắp nhang! ".


Tôi ngạc nhiên. Tuyên mời uống nước trà tàu rồi nói: "


" Quyển gia phả ông cụ viết công phu - song tao thấy không hợp lý. Tao dẹp quyển đó đi nay tóm gọn trong 50 trang đánh máy thôi "


Anh ta nói thao thao:


" Và cúng giỗ tổ tiên chỉ cúng TẤT Tật vào ngày mồng một Tết thôi - mỗi năm một lần ".


" Lịch Sử Giòng họ tao phân chia ra làm hai: Những cụ nào có công để sang một bên - đọc cho con cháu nghe- để khen ngợi -


Những cụ nào Phản Quốc hoặc bê bối để sang một bên đọc cho con cháu nghe để thấy mà tránh - rút kinh nghiệm! "


" Sau khi đọc cái History xong kể Công Tội từng vị rồi thì mới thắp nhang!


Tôi giật mình hỏi lại Tuyên:


" Vậy ngày Tết thành ngày Kiểm Điểm Tổ Tiên à ???!!! ".


Tuyên cười tít mắt:


" Đúng! " " Như tao là xét ra có Hiếu với tổ tiên vì cứ trung bình ba đời thì họ Phan Lạc lại có một ông Tiến Sĩ! - mãi nay lại mới có là tao ".


Tôi mạnh miệng:


" Anh giống Tiến Sĩ Giấy quá vì thực tế cái bằng của anh cũng chỉ là nhân viên chứ có được làm Trưởng Viện hay Phó Viện của Viện Khoa Học Xã Hội đâu! - Đứng đầu Thủ Trưởng là ông Mặc Đường, một CỬ NHÂN tốt nghiệp ở trong nước! ".


Tuyên chữa thẹn:


" Ừ! Cộng Sản chúng nó vậy đấy - Có thằng còn bị treo bằng! Tao là còn may làm riêng cho MAI CHÍ THỌ chứ không cũng không biết nó dùng hay không ?! ".


 


- Sau khi nghe xong về Lý Lịch ông bà tổ tiên rồi thì tôi thắp nhang. Tuyên cho gõ chuông ba tiếng! ( cái chuông cổ lớn bằng đồng đen )


Nhưng Trên bàn thờ tôi lại thấy có 1 tấm hình một người trai trẻ lạ mặt!


Tôi hỏi:


" Ủa sao hình ai vậy ?! "


Tuyên trả lời:


" Hình thằng THỦY THỦ! Nó vốn là Trung Úy Hải Quân VNCH - Viết văn, bạn cũ với tao. Nó đi ra khu khi thấy Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chính là tay sai của Cộng Sản Bắc Việt thì nó buồn thất vọng tính về SÀI GÒN lại nhưng cuối cùng nó đã ra BIÀ RỪNG, bứt hoa lá rừng kết thành một vòng hoa rồi nằm gối đầu lên vòng hoa, ngửa mặt lên trời, kề súng vào màng tang bấm cò tự tử! " " Tao được tin nó tự tử, tao ra thì nó để lại cái thư nhờ tao đem cái ba lô và cái tấm hình nó chụp trước khi ra khu - nay để trên bàn thờ đó - và lá thư nó viết cho người yêu của nó ở Sài Gòn cùng Bài Thơ: Vĩnh Biệt Em! Nó dặn tao khi về được Sài Gòn thì tìm cô người yêu của nó trao lại.


Tao mang đi khắp nơi nhưng chưa tìm được cô người yêu của nó!


* ( Kỷ vật này hiện C. H ở Seattle - bạn của Giang Đông giữ dùm! ).


Vâng! Đó là cái Tết " Cắt Miệng " vì có quái gì mà ăn!


Tổ tiên thì Phan Lạc Tuyên đọc như Kiểm điểm vậy!!!!


CÁI chuông bằng đồng đen cổ của dòng họ từ đời Phan Huy Ích Tuyên cũng đem bán - trên chuông có khắc tên các vị Tổ Tiên đậu Tiến Sĩ - Mỗi vị có khắc kèm một bài thơ khi thi nữa.


Phan Lạc tuyên - Hắn chết thì xin các thày chùa dốc lòng tụng kinh chứ không chắc chắn thành Qủy quá!


THƯ KHANH Seattle- ngày 8 tháng 7- 2010.


Bổ Sung Về Thân Thế Phan Lạc Tuyên


From: Khanh Thu


To: PhoNang@yahoogroups.com


Sent: Wed, July 7, 2010 8:34:31 PM


Subject: Re: [PhoNang]


PHAN LẠC TUYÊN ĐANG ỐM NẶNG - HẮN LÀ AI ?! - THƯ KHANH KỂ THỰC RỒI - Xin bổ sung! ( THƯ KHANH - thơ ngậm ngùi...). Xin ông chủ PHỐ NẮNg cho đăng. Xin cám ơn.


Kính thi sĩ Hồ Công Tâm,


1- CẢM ƠN thi sĩ HỒ CÔNG TÂM đã đăng lại MỘT PHẦN ỨC KÝ của THƯ KHANH về thằng anh chồng của Thư Khanh là PHAN LẠC TUYÊN!


Những điều này trung thực 100%


2-THƯ KHANH Xin nói thêm về Phan Lạc Tuyện:


* VỢ:


Vợ thứ nhất:Chị Đường ( lấy ở Hải Dương từ khi Tuyên còn làm CHÁNH Sở CẨM tỉnh Hải Dương của PHÁP!!!!!!!!!!)


Vợ đầu tiên là chị Đường cưới ở Hải Dương có 3 con với Tuyên là


Phan thị Phương Lan


Phan thị Bạch Tuyết


Phan thị Hoàng Yến ( đã chết!!! )


Chị Đường mất sau khi sanh con cháy Yến 6 tháng vì chị đau tim nặng ( năm 1954 )!


Bà mẹ ruột Tuyên lãnh sáu cây vàng chị Đường để lại và nuôi ba đứa cháu mồ côi mẹ!


Vợ lần thứ 2:


Chị Bùi Thị Nga ( vào ngày Đình Chiến 1954 - tại đồn Hưng Yên )


Lỳ do: chị Nga còn trẻ có chồng nhưng do cha mẹ đôi bên cưới. Vắng không có chú rể vì CHÚ RỂ đi Kháng Chiến không chịu lấy vợ!


Mẹ chồng cho chi đi buôn các thứ lặt vặt từ Nam Định ra vùng Việt Minh như: dầu hoả, áo len v. v.


Đi buôn phải qua khu vực đồn Hưng Yên nên chi bị Lính bắt giữ - Tới khi nghe lệnh đình chiến thì lính đem TRÌNH Phan Lạc Tuyên và TUYÊN thấy đẹp lại đang Goá vợ nữa nên giữ lại đem theo vào Nam cùng với đơn vị.


Do đó khi vào Nam thì Tuyên đã để chị ở khách sạn tạm rồi về thưa với Ông bố bà mẹ làm vài mâm cơm mời họ hàng cho nhận và ra XÃ TÂN SƠN HOÀ( cuối đường Trương Minh Giảng Sài Gòn ) làm Hôn THÚ. Lúc đó chị Nga đã có bầu đứa con đầu được 3 tháng tên nó là Phan Quốc Hưng.


Sau này Tuyên và chị Nga có thêm đứa con gái tên là Phan Thị Hoài Hà ( hiện chồng nó là Trung tá Bộ Đội - nó lànm Y Tá Quận Tân Bình thành Hồ - hiện nay )


Chị Bùi Thị Nga đã bị điên - đau nặng đưa về bệnh viện Quận Tân Bình lo thuốc thang ít ngày rồi chết ở bệnh viện. TUYÊN KHÔNG NHẬN và KHÔNG ĐƯA MA!!!!!


Vợ Thư ba:


Bà Đỗ Thị HỒNg PHẤN.


Lấy chị Phấn nhân dịp Tuyên được đưa từ trong Nam ( Bị Bom Bỏ- bị thương nặng ở Tây Ninh! )


Đưa ra Bệnh Viện VIỆT - XÔ ở Hà Nội để mổ ( Vết thương ở bụng dài cỡ 1 gang ta người lớn ( Vết thương này TUYÊN BẢO là Thù thằng Em Phan Lạc Giang Đông- Không Quân NGỤY cho nó đi Cải Tạo mút mùa luôn vì n1 Tuyên truyền cho Phi Công đi bỏ bom! ).


Bà Phấn làm Y Tá ở đây - Đảng và BÁC HỒ, Bác Tôn, bác Đồng cưng lắm thường xuyên tới thăm Tuyên và Đảng đã KẾT THÀNH DUYÊN cho ĐÔI LỨA = Trai từ trong Nam Phất Cờ Chống Mỹ Cứu nước - Gái Ba đời Đi Ở Đợ!


Sau đó sanh thằng con tên là PHAN ĐỖ TRÍ ( sinh năm 1967 tại Hà Nội ).


Bà Phấn - năm 1975 đã vào Nam nhưng ở với Tuyên được ít tháng thì Ly Dị Tuyên dẫn con là Phan Đỗ Trí về CẦN THƠ ( Ông bố nuôi là Tỉnh Ủy Tỉnh Cần Thơ - ông ta đưa chị Phấn đi Tập Kết nay về đỡ đầu cho chị trở về Quê Quán = ÁO Gấm về làng nhé! - Chị được Nhận position = Giám Đốc Bệnh Viện Da Liễu Tỉnh Cần Thơ -nhà ở thì mua giá RẺ một biệt thự lớn của Một Trung Tá VNCH!!!! )


Hiện chị đã về hưu và nghe nói GIÀU lắm!


Phan Đỗ Trí nối dòng Trưởng Tộc HỌ PHAN LẠC!!! mà nghe nói nó " GỒ GHỀ, xâm mình nhảy tuýt loạn xạ " lắm! Ấu Chúa hay về Sài Gòn nhưng họ hàng chỉ còn vài người tiếp đón Ấu Chúa!!!


Vợ thứ Tư:bà Nguyễn Thị Tám - làm giáo viên từ Cần Thơ chạy lên Sài Gòn ngày 30 - 4- 1975 ( nay đang ở Cali ) bà này Có với Tuyên đứa con gái tên là Phan Thị Mai Thơ.


Sau lại ly dị vì Tuyên DÊ Tùm lum và xấu tính lắm! - Bà Tám đã ly dị để lấy 1 người Yêu lúc còn đi học ở Cần Thơ- Anh ta là H.O trở về tìm thăm bà Tám - Tuyên cho phép đi liên tu! - và đồng ý cho ly dị.


**** Đáng lý là chị nữ Sĩ HOÀNg HƯƠNG TRANG ( hiện đang ở Sài Gòn - Quận Bình Thạnh - lấy Phan Lạc Tuyên chứ không phải bà Tám.


Phan Lạc Tuyên mê Hoàng Hương Trang cả Sắc lẫn Tài của NGƯỜI MIỀN NAM này - Tuyên đem hình ảnh khoe cả Nhạc Sĩ VĂN CAO - và một số bạn hữu ở Hà Nội là sẽ cưới HHtrang làm vợ!


Nhưng không thành vì Chồng chị KHÔNg CHịU LY DỊ và nhất là VĂN GHỆ SĨ MIền NAM ghét Cộng Sản nên đã tính làm thành to chuyện!!!


Nay chị Trang vẫn nói qua điện thoại: " Thư Khanh ơi! đáng lẽ Hoàng Hương Trang là con dâu cụ Húc - là vợ anh Tuyên đấy! Nay HHTrang ly dị chồng được rồi thì anh Tuyên lại đi tu và TRỄ QUÁ RỒI! - HHTrang cũng đang tính sang năm về Huế nghỉ tuổi già đây - hiện chân chi bị đau ở một mắt cá chân - đau phải luôn ngồi xe lăn! "


HHTrang nhờ vậy mà Phan Lạc Tuyên đã bảo lãnh cho anh ruột của chi về ngay trước khi cả trại Cải Tạo chuyển trại từ Quân Quản sang Công An! - Anh của HHTrang này cấp thiếu tá - cải tạo ở cùng T với Anh Phan Lạc Giang Đông!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!


Ghi chú: Thư Khanh cũng để HHTrang thần tượng về CHÀNG với mấy câu thơ: " Anh về qua xóm nhỏ..." mà ĐAN THỌ PHỔ Nhạc khi xưa nên THƯ KHANH chưa hề nói gì về PLTuyên CHÓ MÁ cho HHTrang nghe cả!!!


****


Đấy là các bà vợ chính thức có hôn thú và có con.


Còn BỒ, đào kép!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!


Động đâu ổng cũng dính " Thượng vàng hạ cám! "


****


3- Phan Lạc Tuyên ra Bắc năm 1967 - Mổ xong lành bệnh - Đảng cưới bà Đỗ Thị Hồng Phấn cho rồi cho làm trong ĐOàN ĐẠI DIỆN MẶT TRẬN GIảI PHÓNG MIỀN NAM - Tuyên là uỷ Viên!


Bắc Việt CộngSản cần DƯƠNG CAO NGỌN CỜ Mặt Trận GIẢI PHóNG MIền NAM - chống Mỹ Cứu Nước!


nên BÁC HỒ BáC TÔN BÁC ĐỒNG luôn thăm viếng cho quà ĐOàN MTGPMNam!


- ĐI HỌC BA LAN Năm 1972:


TUYÊN thấy Rõ THÂN PHẬN MÌNH khi CHIếN TRANH VIỆT NAM kết thúc( MTGPMIỀN NAM không cần nữa! ) nên XIN ĐI HỌC về KHẢO CỔ CHÀM tại BA LAN!!!!


Vào Nam Năm 1975 - TUYÊN làm cho P 16 -


TUYÊN RA CÔNG LẤY ĐIỂM với ĐẢNG nên Tuyên RA CÔNG KHủNG BỐ BÁO CÁO từ trong nhà đến ngoài!


Hắn nói: " Cộng Sản là không có trái tim, cái não chỉ nguyện như một cái LÕI. Tao còn tình cảm tao phải Xét Lại - kể cả bố tao cũng thế tao không vì tình cảm! "


* NAY HẮN ĐI TU!


- thôi cũng cầu xin hắn Tu chứ hắn chết mà thành Qủy nữa thì Quả thật THƯ KHAN sợ nó lắm!!!!!!!!!!!!


Chị anh Giang Đông đang ở gần nhà THƯ KHANH - mới báo tin Phan Lạc Tuyên sắp chết! Đau nặng! ".


Con tôi chúng trả lời:


" Bố tôi dặn chúng tôi lập HỌ PHAN LẠC riêng rồi " không chung với Thằng đó!


*Xin cảm ơn thi sĩ Hồ Công Tâm - Thư Khanh lại làm mất thì giờ của QÚY VỊ trên Diễn Đàn này!


THƯ KHANH Seattle.ngày 7- 7- 2010


http://vanhoavn.blogspot.com/2010/07/thu-khanh-ve-phan-lac-tuyen.html


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Một Năm: Ngoại giao của Trump - Jonathan Freedland 20.11.2017
Cách tự sát của một siêu cường - RICHARD Javad Heydarian 20.11.2017
Thế kỷ đẫm máu - Stephen Kotkin 07.11.2017
Nhà Lê sơ - Lê sơ triều - Tư liệu sưu tầm 06.11.2017
Đông Kinh Nghĩa Thục: Cuộc cách mạng giáo dục đầu tiên ở VN - Nguyễn Hải Hoành 05.11.2017
Mao, Tập và “Cơn bão tháng Giêng” - Tư liệu sưu tầm 05.11.2017
Vai trò của Stalin trong Chiến tranh Triều Tiên - Nguyễn Hải Hoành 05.11.2017
02/10/1966: Báo Liên Xô đưa tin sĩ quan Nga bị tấn công - Tư liệu sưu tầm 05.11.2017
Đặng Tiểu Bình và quyết định của TQ tiến hành chiến tranh với VN - Tư liệu sưu tầm 04.11.2017
Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 - Tư liệu sưu tầm 04.11.2017
xem thêm »