tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23630704
Lý luận phê bình văn học
29.10.2008
Xuân Cang
Triệu Xuân - Trường đời lấp lánh

1


Nhà văn Triệu Xuân sinh ngày 4-9 Nhâm Thìn, giờ Mão (1952). Quẻ Hà Lạc “Trời cho” là Thủy Địa Tỉ, nguyên đường hào 2. Quẻ Hậu thiên hậu vận tiếp theo là Thuần Khảm, chủ mệnh hào 5. Tỉ là đối sánh, sánh vai (gần gũi, gặp dịp thuận tiện để phát triển). Tượng quẻ là trên Đất có Nước, nước thấm xuống đất, đất hút lấy nước, cho nên có nghĩa là gần gũi thân thiết, giúp đỡ nhau. Quẻ có một hào dương cương, trung chính, (hào 5) thống lĩnh 5 hào âm, có cái tượng người trên cao được toàn thể dân chúng (hay người dưới) tin cậy, quy phục. Người quẻ Tỉ nhậy cảm với sự so sánh, đối chiếu. Người được quẻ này sống trong tình thân thiết của những người xung quanh, sánh vai, hòa hợp, thu phục được mọi người, từ đó mà có nhiều thành công quan trọng. Người quẻ Tỉ muốn có thành đạt thì phải luôn tự xét mình nghiêm túc, giữ đức chính đáng, cao thượng, hiền hòa, lấy đó làm gốc, giữ bền. Người quẻ Tỉ được những người thân sống bám víu, nương dựa, bản thân cũng nương dựa vào họ, nên lại càng phải đề cao những đức tính trên kia. Người quẻ Tỉ thường biết chọn bạn, họ tránh xa bọn “người chẳng ra người” (Tỉ chi phỉ nhân). Càng phải đề phòng tính ích kỷ và sự phản phúc của một số người. Người quẻ Tỉ coi trọng những người đứng đầu đám đông, đòi hỏi họ có đức tính xứng đáng. Người quẻ Tỉ cũng rất coi trọng những đầu mối, dẫn dắt, thiếu họ không có sự gần gũi (Tỉ chi vô thủ, hung). Người xưa khuyên các vị nguyên thủ coi quẻ này mà xây dựng các địa phương, các cơ quan phụ thuộc mình, làm thân với cấp dưới. Châm ngôn người quẻ Tỉ là câu tục ngữ Việt: Ăn ở như bát nước đầy. Quẻ Tỉ có quẻ Hỗ là Sơn Địa Bác. Bác là Tiêu mòn, hư hao. Người quẻ Tỉ cũng là người dễ gặp đám tiểu nhân, lối sống thấp kém làm cho tiêu mòn phẩm chất người quân tử, trong đối sánh, gần gũi vẫn tiềm ẩn sự cô đơn của quý nhân quẻ Bác. Người quẻ Tỷ xem quẻ Bác mà biết rằng phúc lộc có được giống như quả cuối cùng trên cây, ngon lành đấy, nhưng ăn là hết, phải biết để dành cho quả chín rụng xuống, hạt nẩy thành mầm, thì mới có phúc lộc lâu dài mà hưởng.


Tôi làm bài Hà Lạc cho Triệu Xuân, đối chiếu với hành trình sống và sáng tác công bố trong cuốn sách Lấp lánh tình đời (Triệu Xuân – Lấp lánh tình đời - Nxb Văn học – 2007 – viết tắt: LLTĐ Sđd – Sách đã dẫn) thì thấy mệnh Tỷ trên đây chẳng những phản ánh các chặng đường đời mà còn sáng lấp lánh trên tất cả các bài phóng sự, bút ký, truyện ngắn, tản văn, bình luận văn chương, ghi chép chân dung các nhà văn, trả lời phỏng vấn. Có thể dừng lại bất cứ trang sách nào cũng thấy dấu ấn người quẻ Tỷ: đối chiếu các kiểu người, hình ảnh người, chia sẻ, sánh vai, tìm sự tương phản, sự đồng điệu, với tất cả thành tín, chân thực, thông cảm. Tôi nói với Triệu Xuân: Cuốn sách này không chỉ có tình đời, mà cả một trường đời lấp lánh.


Có một phong cách đặc trưng của LLTĐ là sự đối chiếu, so sánh, soi rọi các sự kiện, các cảnh đời, số phận con người, các hành trình nhân vật để tìm ra cái sự thật ẩn giấu trong đó. Cả cuốn sách ánh lên tinh thần quẻ Tỷ: Tác giả muốn sánh vai làm bạn với tất cả các hạng người trong xã hội, từ bậc phong lưu cao thượng đến kẻ nghèo hèn sống cả đời người trên rạch sông ô nhiễm của Sài Gòn. Có lúc anh đi đánh giày để có dịp gần gũi đời thường, ra biển câu mực, lên rừng cạo mủ cao su…


Anh sinh giờ Mão nên chủ mệnh thuộc hào 2 quẻ Tỷ: Từ trong mà đối sánh gần gũi với ngoài, giữ chính bền thì tốt (Tỷ chi tự nội, trinh cát). Giữ gìn nhân cách của mình để đến với mọi người, đó là phẩm tính người hào 2 quẻ Tỷ. Phan Bội Châu giảng hào này ví như Khổng Minh chờ Lưu Bị ba lần đến lều cỏ, Y Doãn chờ vua Thang ba lần dâng lễ mới chịu ra giúp chúa cứu đời. Không phải hai người này cố ý làm cao đâu, chỉ vì tôn trọng nhân cách của mình mới mong duy trì được nhân cách một nước. Trong một dịp trả lời phỏng vấn, Triệu Xuân kể lại lời khuyên của cha mình nguyên là một sĩ quan quân đội: “Anh phải biết mười để rồi viết một thì cái điều anh viết ra người ta mới đọc”. Anh biến thành câu châm ngôn: Phải biết thật nhiều để viết ra cho độc! Và suốt đời anh đã hành động theo phương châm đó. Mọi thành công của anh cũng bắt nguồn từ lối sống đó. Dấu ấn hào 2 quẻ Tỷ ở đây là phải bắt đầu từ mình, từ nhân cách mình mà tỏa sáng, mà làm thân, gần gũi với mọi người, nhờ vậy mà biết được nhiều, biến tri thức trần đời thành của mình, và biết mười chỉ chắt chiu viết ra một. Trong những trang báo chí của anh nổi bật lên bài báo viết về các chủ vựa ở thành phố Sài Gòn, một đối tượng “cải tạo” trong suốt 10 năm đã trở thành vấn đề nóng bỏng trên “mặt trận” phân phối lưu thông. Nóng bỏng và còn nguyên vẹn. Sau mười năm giải phóng, trừ vua lúa gạo ở Chợ Lớn bị xóa bỏ, các vua trái cây, vua nông sản thực phẩm (ngoài gạo), vua tôm cá… còn nguyên đó, chỉ có khác là họ giấu hình, nghề buôn bán của họ lại hoàn thiện hơn trong các điều kiện mới. Nhà báo Triệu Xuân nói thẳng: Chúng ta chưa biết gì về các chủ vựa ấy. Cải tạo họ không đơn giản. Anh đi sâu, lặn mình vào cuộc sống ở vùng chợ Cầu Muối, Cầu Ông Lãnh, làm thân, gần gũi với các chủ vựa, chủ vườn và những người thân của họ, cuối cùng tìm ra nghệ thuật kinh doanh của họ. Các chủ vựa rất gắn bó với các chủ vườn, gọi là Nhà vườn. “Luôn luôn và lúc nào cũng phải tạo quan hệ máu thịt với nhà vườn. Nhà vườn cần tiền có tiền, cần phân bón, máy bơm, thuốc trừ sâu, hàng hóa tiêu xài phải cung cấp đủ. Đặc biệt, chủ vựa còn đầu tư kỹ thuật như giống, thuốc tăng trưởng, v.v… và phương tiện tay nghề khi thu hoạch, bảo quản vận chuyển. Đến kỳ thu hoạch, chẳng cần nhắc nhở, nhà vườn tự ý mang nông phẩm đến cho mình…”. “Một thuyền có mấy ngàn trái dưa hấu, đếm sao được? Không bao giờ có chuyện đo đếm cân đong giữa chủ vựa và nhà vườn. Mọi chuyện xác lập trên cơ sở chữ tín và tình nghĩa. Chủ vườn cho ba ghe trái cây lên Sài Gòn, chỉ có người làm đi áp tải. Chủ vườn khỏi cần đi theo. Ngày hôm sau, chủ vựa giao tiền cho người làm mang về”. Như vậy, bí quyết của chủ vựa là nắm hàng tận gốc, từ khi cây chưa ra trái, rau chưa gieo hạt, và cá chưa được bắt lên… bằng cách ứng trước tiền vốn, vật tư và xác lập tình nghĩa chí cốt với chủ vườn, với nông, ngư dân. Một chủ vườn cỡ lớn ở Mỹ Tho nói với nhà báo: “Từ khi tôi biết nói biết nghĩ, tôi đã thấy cha tôi làm ăn với chủ vựa ở Sài Gòn. Cha tôi là con rể của chủ vựa. Em gái của cha tôi là con dâu của chủ vựa đó. Đến đời tôi, hai đứa con gái tôi cũng làm dâu của chủ vựa ở Sài Gòn. Hằng năm, quà tết lớn nhứt mà tôi nhận được là của chủ vựa. Những ngày giỗ, ngày vui trong nhà tôi đều có sự góp của, góp tình của chủ vựa. Tôi đi Sài Gòn không cần mang tiền. Thôi thì, cần gì có nấy. Chủ vựa cung phụng từ phòng ngủ, ăn nhậu, đi coi hát cải lương, đi Vũng Tàu, Đà Lạt…”. “Đây chính là lối làm ăn trói chặt chủ vườn vào quỹ đạo của chủ vựa. Đây cũng chính là lý do tại sao chủ vườn chỉ muốn bán nông phẩm cho chủ vựa, hoặc là chọn lựa thứ tốt bán cho chủ vựa, thứ dở bán cho nhà nước.”


Còn về bí quyết tiêu thụ hàng thì đó là nhờ tiểu thương. Nếu đối với chủ vườn, đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, thì đối với tiểu thương đồng tiền đi sau là đồng tiền có uy quyền. Một khi giao hàng cho tiểu thương mà không cần lấy tiền trước, họ có quyền quy định cho tiểu thương về giá cả. “Vào mùa dưa hấu, tôi đã có dịp chứng kiến cảnh nhận dưa và phân phối dưa ở chợ Đầu Cầu. Một chủ vựa nhận được tin báo là chín giờ đêm nay có ba ghe chở dưa về. Lập tức họ cho người đi báo cho các tiểu thương đến. Đúng chín giờ, ghe cập bến và tiểu thương có mặt đông đủ. Từng trái dưa được chuyển từ ghe lên các phương tiện của tiểu thương. Tiểu thương nhận dưa rồi chuyển thẳng về sạp của mình tại chợ. Thế là hàng chục ngàn trái dưa hấu tươi ngon được đưa thẳng từ nơi trồng đến nơi tiêu thụ, không phải lưu lại ở nhà chủ vựa một giờ nào”. Không chỉ qua tiểu thương mà định giá trên thị trường, tiểu thương còn là tai mắt của chủ vựa: “Chợ nào cần cá nước ngọt? Chợ nào chỉ ăn thịt heo? Chợ nào chỉ ăn cá biển? Giá cả hàng ngày các loại hàng hóa, nghĩa là tất cả những biến động của thị trường, đều được báo về chủ vựa nhanh nhất, chính xác nhất”. “Bộ ba: Chủ vựa, chủ vườn, tiểu thương tạo thành thế kiềng ba chân, trong đó chủ vựa giữ vai trò quyết định hết thảy mọi vấn đề… Đây là bí quyết thành công của họ”.


Bài báo vạch rõ, thực chất sau khi các chủ vựa được “cải tạo” thì tình hình thị trường diễn ra thế nào? Nguồn hàng về chủ vựa đã giảm đi, nhưng đó là giả tạo. “Thực ra nguồn hàng vẫn về đều đặn, nhưng thay vì đến vựa tại chợ Đầu Cầu, nó lại được chia nhỏ ra, phân tán thẳng cho các tiểu thương ở các chợ, không thông qua chủ vựa nữa”. “Từ bảy mươi đến tám mươi phần trăm lượng rau Đà Lạt vẫn nằm trong tay các chủ vựa”. “Cái thế chân vạc chủ vườn, chủ vựa, tiểu thương vẫn tồn tại, chỉ có khác là chủ vựa đã “tàng hình, nhập thân” vào hai yếu tố kia để chi phối”. Từ đó tác giả đặt ra vấn đề, nhà nước muốn “cải tạo” được chủ vựa thì không phải là cải tạo bản thân chủ vựa, mà phải đầu tư nắm được cả ba khâu trong thế chân vạc chủ vựa, chủ vườn và tiểu thương. Bài báo Chủ vựa, vấn đề tồn tại suốt mười năm qua được dư luận đánh giá cao, được giải đặc biệt trong một cuộc thi viết phóng sự điều tra năm 1985.


Trong cõi vô thức, mệnh quẻ Tỉ đã chi phối nhà văn Triệu Xuân viết hàng loạt tiểu thuyết mang dấu ấn riêng được bạn đọc hoan nghênh: Những người mở đất, Giấy trắng, Đâu là lời phán xét cuối cùng, Nổi chìm trong dòng xoáy, Trả giá, Bụi đời, Sóng lừng, Cõi mê. Từ cấu trúc Hà Lạc chiết ra thì thấy hiện tượng trên gắn liền với những đại vận quẻ Tỷ của đời anh. Sau một thời gian dài làm báo, tích lũy được tư liệu, vốn sống đầy ắp từ chiến trường đến những năm biến động thời kỳ sau giải phóng, ngòi bút bắt đầu được thử thách, cái máu văn chương cũng bắt đầu nóng lên, thì anh gặp phải đại vận 6 năm (1979-1984), hào 6 quẻ Thủy Địa Tỷ. Một đại vận xấu, lời hào 6 bảo rằng Tỉ chi vô thủ, hung (Đối sánh, gần gũi nhưng không có đầu, xấu). Đầu đây là đầu đàn, cũng là đầu mối. Sánh vai gần gũi với đời mà không có đầu đàn dẫn dắt, đầu mối mách nối thì còn gì xấu hơn? Cho nên 6 năm này (từ năm 28 đến 33 tuổi) anh chỉ làm được 2 cuốn, một tác phẩm đầu tay là truyện vừa Những người mở đất. Mãi đến cuối đại vận mới viết được cuốn thứ hai: Giấy trắng. Mà cái năm viết Giấy trắng này là năm đẹp nhất của đại vận, năm Giáp Tý 1984 anh được quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu, chủ mệnh hào 5. Đại Hữu là Có lớn. Hào 5 bảo năm nay có lớn, lấy lòng tin, chí thành mà giao thiệp, và phải có uy thì tốt. Ân uy đi đôi, lập công to. Quẻ Nhân quả là Thuần Ly, hào 5: Rất sáng suốt, thông minh. Ở vị trí cao, biết buồn lo cho đất nước, tốt. Ngay cuốn Những người mở đất, sách đầu tay viết vào năm đầu tiên của cái đại vận xấu đó, số phận nó cũng rơi vào cảnh Tỉ chi vô thủ, gần gũi mà không có đầu mối, viết xong năm 1979, phải đến năm 1983 mới in được. Được khuyến khích viết thành kịch bản phim, viết xong, đưa cho một đạo diễn, chín tháng sau ông báo kịch bản bị mất. Mà đó là bản thảo duy nhất. Trong LLTĐ, Triệu Xuân than thở: Tôi không có duyên với điện ảnh chăng? (trang 580). Không phải thế, thưa anh Triệu Xuân, cái nạn ấy xảy ra trong trong một đại vận xấu của đời anh: gần gũi mà không có đầu mối! Ông đạo diễn ấy không phải là đầu mối.


Phải đến đại vận sau, hào 1 quẻ Thủy Địa Tỉ (1985-1990) mới là một chặng đường bội thu của nhà văn. Lời hào: Có lòng tin mà gần gũi nhau thì không lỗi. Nếu lòng thành tín như bát nước đầy thì có thêm nhiều điều tốt khác nữa (Trong nguyên văn: như đầy một cái ang – hữu phu doanh phẫu; doanh là đầy đặc, phẫu là cái ang). Chỉ trong mấy năm này anh làm liền 5 cuốn tiểu thuyết. Tất cả gắn liền với thời cuộc, trực tiếp đặt ra những vấn để nóng bỏng nhất, nhân vật là những người trong cơ quan, ngoài đường phố, trong xã hội hồng, xã hội đen. Từ nhân cách bên trong mà liên kết với bên ngoài, lòng thành tín như bát nước đầy, Triệu Xuân không biết lẩn tránh, không biết sợ, từ mệnh trời xui khiến anh đi đến với bạn đọc, một mạch.


Đâu là lời phán xét cuối cùng viết về chính sách cán bộ của Đảng, tập trung phê phán chính sách cán bộ kiểu cũ, không khoa học trong đánh giá con người. Không ít người tài ra đi bằng thuyền, nhiều người chết trên biển. Cần thay vào đó một chính sách trọng dụng nhân tài. Sau này đó là chính sách trải chiếu hoa mà Bình Dương là tỉnh đi đầu.


Bụi đời đến với những con người thuộc tầng lớp dưới đáy của xã hội: lưu manh, trộm cướp, gái mại dâm, xì ke, ma túy... “Viết về họ, phê phán sự tha hóa, sa đọa, nhưng từ đầu đến cuối, tôi luôn chia sẻ và thương yêu họ. Tôi lên án một bộ phận trong xã hội làm giàu dã man trên thân xác những nạn nhân vừa kể trên. Và chuyện tham nhũng được phơi bày nhãn tiền”. Trên báo chí ngày nay, chuyện đó được phản ánh hàng ngày, nhưng thời kỳ Triệu Xuân viết Bụi đời (1988 – 1989), báo chí chưa dám nói nhiều, nhất là không dám nói đến một loại cán bộ có chức sắc to mà tiếp tay cho bọn buôn lậu ma túy.


Với Trả giá, nhà văn phê phán rất mạnh sai lầm, do ấu trĩ, do nôn nóng, chủ quan khi tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Trong nhân dân, có những người lao động chân chính, nhờ tài năng, nhờ vốn liếng, họ trở thành những ông chủ giàu có, ta gọi họ là tư sản dân tộc. Một đất nước muốn phát triển, muốn xóa đói giảm nghèo, muốn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì phải có một đội ngũ những doanh nhân, những nhà doanh nghiệp giỏi. Chúng ta đã từng có cả một đội ngũ như thế, giàu lòng yêu nước, nhưng chúng ta đã cải tạo họ bằng những biện pháp nóng vội, ấu trĩ. Cái giá phải trả quá đắt. Rất nhiều người vượt biên, ra đi bằng thuyền. Bao nhiêu thảm họa đã xảy ra. “Trong Trả giá, tôi phản ánh, phân tích thực trạng đau lòng ấy, bằng tất cả tấm lòng của một công dân, mong muốn cho đất nước có nhiều người tài, có tâm, được trọng dụng, để ích nước lợi dân”. Trả giá là kết quả của những năm làm báo, lặn lội khắp nơi từ miền Đông đến miền Tây Nam bộ, sống cùng bà con trong rừng tràm, rừng đước, theo ngư dân đi biển. Nhà văn tập câu cá mập, học cách khai thác đáy sông, đáy biển, học nấu rượu, rang xay cà phê, phục vụ khách sạn, nhà hàng, chụp ảnh dạo, đánh giày ngoài phố để làm quen với trẻ bụi đời.


Triệu Xuân kể: “Để viết cuốn Nổi chìm trong dòng xoáy, một thời gian dài tôi đi theo tàu vận tải biển, tàu vận tải đường sông, sống với công nhân các cảng biển, cảng sông. Nhờ Công ty VOSA Sài Gòn, tôi được đưa ra phao Zêrô ngoài biển Vũng Tàu, để lên sống ở con tàu mẹ, (gọi là tàu Lash, của một công ty vận tải lớn nhất Liên Xô bấy giờ) trọng tải rất lớn, chứa trong lòng nó bốn chục chiếc xà lan Lash, mỗi xà lan chở được 1000 đến 1500 tấn hàng. Khi đến phao Zê rô, tàu mẹ nhả xà lan xuống. Tàu kéo của ta ra nhận, mỗi tàu tùy theo công suất kéo được 2 đến 4 xà lan, về các cảng nhỏ của Việt Nam, đồng thời trung chuyển hàng hóa cho Campuchia. Chính là trên đoạn trung chuyển này, bọn xấu đã lợi dụng mở niêm phong cặp chì, chui xuống moi hàng lên như moi ruột cá lóc rồi niêm phong cặp chì trở lại, rồi đái hoặc đổ a-xít vào cho han rỉ như vết niêm phong cũ. Có trường hợp mỗi xà lan bị moi tới một nửa số hàng. Chuyện tồi tệ xảy ra cả năm trời mà không ai biết. Khi biết chuyện này, tôi đã nhờ các cơ quan chức năng cho đi theo tàu kéo xà lan để khảo sát. Tiến sĩ Nguyễn Thanh Lâm, nguyên thứ trưởng bộ Giao thông Vận tải (đã nghỉ hưu) rất nhiệt tình giúp tôi trong việc này. Nhờ thế mà tôi viết được Nổi chìm trong vòng xoáy, nhà xuất bản in lần đầu bốn mươi ngàn bản. Thú thật, không gì cám dỗ tôi bằng được lăn lộn với thực tế, được trực tiếp cảm nhận cuộc sống”.


2


Tiểu thuyết Sóng lừng được Triệu Xuân viết trong năm kết thúc thời Thủy Địa Tỉ (Canh Ngọ 1990). Năm này anh được quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu chủ mệnh hào 6. Đại Hữu là Có lớn. Có lớn về của cải vật chất, của cải tinh thần. Hào 6 bảo rằng: Tự trời giúp cho, tốt. Không có gì là chẳng lợi. Làm việc lớn mà vẫn khiêm nhường, trời cũng thương. Lại được quẻ Nhân Quả là Thuần Ly, hào 6: Sáng suốt, ra quân chinh phục, giết bọn đầu đảng, bắt sống kẻ xấu, cho đi theo, không lỗi. Cứ như là trời đất xui khiến và đặt vào những ngón tay anh trên bàn phím để làm cuốn Sóng lừng. Anh đã viết một mạch, biết rằng những gì viết ra sẽ không tránh hiểm nguy cho tác giả, nhưng anh không thể dừng lại. Anh đâu biết rằng trời đang giúp cho, và những gì đang làm đây, lớn mà khiêm nhường, nên trời cũng thương. Đây là cuốn tiểu thuyết kể truyện một bọn ngày nay ta gọi là xã hội đen, hoành hành, thao túng, gây ác, tạo những rối loạn trong đời sống. Bên cạnh chúng có một bộ phận thoái hóa biến chất trong cơ quan chính quyền, tiếp tay, bao che cho chúng để trục lợi. Triệu Xuân cảnh báo đã có một bọn maphia kiểu Việt Nam xuất hiện, gây biến động trong cuộc sống. Đúng với lời hào 6 quẻ Thuần Ly nói về nhân quả: ra quân chinh phục, giết bọn đầu đảng, bắt sống kẻ xấu.


Sách viết ra vào một trong những năm đẹp nhất thời Tỉ, nhưng in ra vào năm mở đầu quẻ Hậu thiên, hậu vận là Thuần Khảm. Thuần Khảm nói ngắn gọn là hai lần Khảm hiểm, hai lần hãm hiểm. Quẻ báo động một thời gian nan, khó khăn, nguy hiểm sẽ đến với chủ thể. Được quẻ này, nếu chủ thể là một người có bản lĩnh sẽ biến cái hiểm nguy thành thử thách, lấy tài trí mà vượt lên và trở thành anh hùng. Ngược lại sẽ không tránh khỏi chìm đắm trong thác lũ cuộc đời. Đã được rèn luyện cả một thời Thủy Địa Tỉ, nên tác giả Sóng lừng thuộc hạng người thứ nhất. Có lẽ cái âm hưởng của thời Thuần Khảm đã đến với tâm trí Triệu Xuân khi viết Sóng lừng. Khảm có tượng là Nước. Không gì hiểm bằng nước sâu nên Kinh Dịch bảo khảm là hiểm. Cái tượng hai lần nước đã đi vào tên sách: Sóng lừng. Đó là cuốn tiểu thuyết gây xôn xao, cuốn hút sự chú ý của dư luận, in năm 1991 (năm này đã sang thời Thuần Khảm của tác giả), chỉ bán trong 5, 6 ngày là hết sạch. “Sóng lừng là lời cảnh báo đầy trách nhiệm công dân” (Nguyễn Tý, phóng viên báo Văn Nghệ. LLTĐ – Sđd. Tr. 591). Tuy nhiên, cái hiểm không tránh khỏi, đã đến với người Thuần Khảm: Bên cạnh một số bài báo khen ngợi tác phẩm, xuất hiện hai bài trên hai tờ báo đăng bài phỉ báng, “cho là tác giả chống cái nọ cái kia, bôi nhọ ngành công an”. Chỉ cần có thế, cuốn sách bị đình chỉ phát hành. Một cuộc hội thảo về Sóng lừng được triệu tập. Một hội đồng Giám định Trung ương được thành lập do nhà thơ Cù Huy Cận làm chủ tịch. Sau ba tháng xem xét, Hội đồng kết luận “nhà văn Triệu Xuân không chống cái tốt, không chống Đảng”. Và hơn hai năm sau, nhà văn Trần Bạch Đằng viết bài “Tham nhũng, buôn lậu: Việt gian chính hiệu” trên báo Tuổi Trẻ Chủ nhật (ra ngày 28-11-1993), thẳng thắn nói rằng: “…Hơn hai năm trước, trong một cuộc hội thảo về cuốn tiểu thuyết viết về maphia, tôi là người chống. Nay thì tôi đổi ý! Tham nhũng là quốc nạn.” (theo Nguyễn Tý. LLTĐ Sđd. Tr. 590). Và 14 năm sau, trong thời cuộc Việt Nam đã xảy ra vụ án động trời mang tên Năm Cam, cho thấy rằng trong Đảng, trong guồng máy Nhà nước, có bọn tham nhũng, tha hóa, có maphia. Tất cả đã cho thấy những dự báo trong Sóng lừng hơn mười bốn năm trước là hoàn toàn đúng.


Kể lại tóm tắt như thế để thấy rằng cái hiểm trong đời nhà văn đã đến đúng lúc, khi anh bước sang thời Thuần Khảm, hai lần hãm hiểm. Anh đã vượt qua, nhưng ai biết đâu rằng những năm ấy anh phải bao phen lên bờ xuống ruộng. Lịch sử đã từng xảy ra như thế. Còn riêng đối với Triệu Xuân, từ năm 1997, anh mắc chứng đau nửa đầu.


Chủ mệnh hào 5 quẻ Thuần Khảm: Có cách cứu hiểm, thì cứu hiểm thành công. Đổi nguy ra an, cứu được dân, sự nghiệp không nhỏ. Người xưa có thơ rằng: Tuy đầy mà chẳng lo tràn / Thuyền to buồm nhẹ tếch ngàn dặm khơi. (ý nói chủ thể được hào này quẻ này phải qua sóng gió nhưng thuyền to gió mạnh buồm nhẹ cánh còn đi ra khơi xa).


Cái “cách cứu hiểm” của Triệu Xuân là cuốn tiểu thuyết Cõi mê (Tiểu thuyết – Nxb Hội Nhà Văn – 2005). Cõi mê là tiếng nói người Thuần Khảm, là phần góp của văn chương “cứu hiểm” cho toàn xã hội, cho những ai cầm cuốn sách trong tay. Triệu Xuân đã dành 9 năm cho cuốn sách này, trong con mắt nhìn Hà Lạc thì đó là trọn vẹn một đại vận 9 năm hào 5 quẻ Thuần Khảm. Hầu hết những cuốn sách trước đó (Từ Trả giá đến Sóng Lừng) nhà văn đặt ra những vấn đề với thời cuộc. Tính thời sự sắc bén là đặc điểm chung cho sách Triệu Xuân. Bao trùm lên đó là sự đối sánh, lựa chọn các hạng người trong xã hội – dấu ấn người thời Tỉ - làm nên dấu ấn riêng của Triệu Xuân. Quân tử, tiểu nhân, trên cao, dưới đáy, cao thượng, thấp hèn, thiện, ác, nhà văn đặt họ bên nhau và cho họ tác động vào nhau mà sinh chuyện. Đến đây vẫn một phong cách ấy, nhưng trong Cõi mê cách đặt vấn đề đã khác. Nhà văn soi cái nhìn vào con người Việt trong một thời gian lịch sử dài dặc, với những biến động khác nhau, trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam, chung sống trong một tứ đại đồng đường, từ trong những hiểm nạn của cuộc đời mà biến đổi, tha hóa hoặc không, mê và tỉnh. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn một phóng viên, Triệu Xuân nói rằng qua cuốn sách này anh muốn đi sâu vào sự tha hóa của con người, bởi vì tha hóa là một “thuộc tính” của con người (Cõi mê, cuốn tiểu thuyết hấp dẫn của nhà văn Triệu Xuân đang làm xôn xao dư luận. LLTĐ – Sđd. Tr. 559). Tôi thấy hiệu quả tác phẩm không dừng lại ở đấy, nó đi xa hơn. Tác giả muốn nói về những cõi mê trong những đời người. Đối với nhân vật ông Hòa là cõi mê quyền lực. Cõi mê này chiếm nửa đời người ông Hòa bắt đầu từ khi ông ra khỏi cuộc chiến tranh. Nó làm ông lú lẫn, mê man không còn biết thế nào là phải trái, lời ông nói là đạo đức thiêng liêng, luận lý rạch ròi, mà hành động ông là chuyên chế, quy kết, biến tốt thành xấu, xấu thành tốt. Đối với thằng Thăng, cháu nội ông Hòa là cõi mê tình dục. Gia đình ông Hòa có cái “gien” tình dục, cha truyền con nối, đam mê tình dục. Khi tình dục là đam mê thì nó đem lại niềm vui cho con người, nhưng khi con người đã đến cõi mê tình dục thì tâm hồn đen tối, ô nhiễm, trở thành con vật. Thăng là con ông cháu cha, gia đình có nền nếp, cụ là nhân sĩ thời văn thân, ông là đại tá, một thủ trưởng ngành thanh tra, bà là bà Mẹ Việt Nam anh hùng, cha là liệt sĩ. Nhưng cái thảm họa của đời Thăng là để mất lý tưởng làm người từ thời thơ ấu, lâm vào cõi mê tình dục ngay từ khi biết làm con trai, nên sa ngay xuống vực thẳm. Bài học nhân văn từ cuộc sống gia đình này là từ cõi mê quyền lực dẫn đến cõi mê tình dục của một thiếu niên, và không có cách gì gỡ được. Cả hai ông cháu đều chết trong thê thảm. Trong Cõi mê cũng sáng lên những gương mặt thánh thiện, như Hoàng một tổng giám đốc ngành biển, như Ngọc Bắc một doanh nhân ngoi lên từ vũng lầy cuộc sống, như Phương Nam ở giữa cõi mê quyền lực nhưng vẫn thoát ra và toả sáng. Tất cả họ đều phạm những sai lầm trần tục, Hoàng đã từng sa vào vòng tình dâm loạn, Ngọc Bắc cũng thế. Nhưng họ đều qua được cõi mê, ở họ chỉ có đam mê, họ biết dừng lại đúng lúc, không phải tất cả đều thành công, nhưng cuối cùng thì họ vẫn xứng đáng với một con người trong thời mới của đất Việt.


Cõi Mê đã vượt qua cái tầm thời sự của những tác phẩm trước đó, khắc họa được nhân vật xuyên suốt trong một thời đại rộng lớn hơn, do đó chắc chắn để lại những suy ngẫm sâu xa hơn trong người đọc. Tiếng nói của tình dục được cất lên ngang hàng với những cảm quan và hoạt động khác của con người, đúng như nó vốn có trong đời sống, mà lâu nay cứ bị che giấu, dìm ép đi trong văn chương. Tác giả đủ bản lĩnh và thận trọng để việc miêu tả hoạt động tình dục có những cảm xúc thẩm mỹ (mà không rơi vào nhục dục) như khi tả ăn uống với văn hóa ẩm thực, tả thưởng thức thơ ca với sự thăng hoa về tinh thần. Lời dự đoán của hào 5 quẻ Thuần Khảm Có cách cứu hiểm thì cứu hiểm thành công đã hiện lên sinh động trong Cõi mê.


Tiếng nói cứu hiểm trong mệnh Triệu Xuân còn thể hiện trong công việc biên khảo các tác phẩm và cuộc đời của các nhà văn như Vũ Bằng, Lê Văn Trương... Lần đầu tiên vào năm 1999, kể từ sau ngày 30-4-1975, giải phóng Sài Gòn, có bài của Triệu Xuân giới thiệu trên báo Văn Nghệ cho bạn đọc biết Vũ Bằng thực sự là cơ sở tình báo cách mạng, chiến sĩ quân báo, là một nhà văn đàn anh đã có công phát hiện, nâng đỡ nhiều nhà văn trẻ nổi tiếng sau này, các tác phẩm của Vũ Bằng tài hoa và phong phú. Sau năm năm xuất bản Tuyển tập Vũ Bằng, Triệu Xuân lại cho ra đời Vũ Bằng Toàn tập, lần này trong bài viết giới thiệu có bổ sung, anh khẳng định Vũ Bằng là một trong những người có công lớn cách tân tiểu thuyết Việt nam, hiện đại hóa nền văn xuôi Việt Nam. Vũ Bằng Toàn tập, - 4 tập, dày 5000 trang khổ lớn 16 x24 cm - do Triệu Xuân chủ biên là một công trình lớn như một tượng đài Vũ Bằng (Trước đó, từ năm 2000, anh đã xuất bản Tuyển tập Vũ Bằng, 3000 trang). Người quẻ Thuần Khảm không thể không thốt lên lời cảm thán: “Cả cuộc đời say mê văn chương, cả một đời yêu nước thương nòi, vậy mà Vũ Bằng phải chịu quá nhiều oan ức khổ đau! Thương thay một kẻ lữ hành suốt đời đơn côi ngay trên đất nước quê hương mình.” (LLTĐ Sđd. Tr. 476). Với Vũ Bằng Toàn tập, Hội đồng Giải thưởng quốc gia đã truy tặng Giải thưởng Nhà nước cho cố nhà văn Vũ Bằng.


Với Lê Văn Trương cũng thế, Triệu Xuân đã không quản ngại gian nan, vất vả, sưu tập, biên khảo viết bài giới thiệu Nhà văn Lê Văn Trương, 59 năm sống và viết, tổ chức cho ra đời bộ sách Lê Văn Trương – Tác phẩm chọn lọc (2 tập, khổ lớn) do Nhà xuất bản Văn Học ấn hành năm 2005, vào dịp giỗ lần thứ 41 của nhà văn. Triệu Xuân viết: “Lê Văn Trương là một trong những nhà văn anh tài. Tác phẩm của họ là tài sản vô giá của dân tộc. Số phận các nhà văn ấy vô cùng cay đắng, lênh đênh, lận đận. Hậu thế cần hiểu rõ những giá trị đích thực để lớp bụi thời gian không thể làm lu mờ những gì là tinh hoa của đời sống tinh thần người Việt Nam.” (LLTĐ Sđd. Tr. 502).


Chúng tôi viết bài này khi nhà văn bước vào năm thứ hai (năm 2007) của đại vận hào 1 quẻ Thuần Khảm. Lời khuyên của hào này là bạn đang trong những năm gặp hiểm trở. Không biết cách trừ hiểm nên không ra khỏi chỗ hiểm. Trong đời thường: Phòng đắm đuối. Chủ mệnh chi phối cả thời hậu vận là biết cách trừ hiểm. Đến chặng đường này là không biết cách trừ hiểm. Có ba tình huống xảy ra. 1- Biết thời cơ, giữ đạo, tuy đến chỗ hiểm mà không vào. Những hành động này không lỗi. 2- Khôn ngoan tận dụng thời cơ, phát huy ưu thế chủ mệnh của Hậu thiên (dành cho cả hậu vận cho đến cuối đời) tìm cách cứu hiểm, biết cách cứu hiểm thì vẫn thoát hiểm và thành công. 3- Tài xoàng, trí mọn, không gặp thời, không đúng chỗ, lối bùn lầy lội, không cách vượt lên. Triệu Xuân thuộc kiểu người chọn tình huống thứ hai, vì anh đã có những thành công nhất định vượt qua những chặng đường hiểm. Anh cũng đã từng biết chỗ hiểm mà không vào. Năm 1995 viết xong 500 trang Cõi mê, anh đã ngừng lại để suy ngẫm. Anh đã gác Cõi mê lại trong máy tính, đi viết những cái khác (LLTĐ. Sđd. Tr. 560). Anh cũng đã từng vượt qua chặng đường hào 6 quẻ Thuần Khảm (2000-2005) là chặng đưởng hiểm nhất thời Thuần Khảm (Trói tay bằng dây đàn, lại đặt vào bụi gai, ba năm không ra được, xấu. Vô tài mà ở chỗ cực hiểm, tất nguy vong). Chính thời gian này anh viết lại Cõi mê như trong cảnh “trói tay bằng dây đàn, lại đặt vào bụi gai”. Câu trên là trong dự đoán, còn trong thực tế là: “Tôi đã bạc tóc, đã lao động vô cùng gian khổ, vô cùng cô đơn, một mình trước computer, tôi đã khóc nhiều lần…” (LLTĐ. Sđd. Tr. 562). Nhà báo Nguyễn Tý có linh cảm về số phận Triệu Xuân đã “giật tít” một bài phỏng vấn như sau: “Nhà văn Triệu Xuân: Nghề văn gian khổ và nguy hiểm hơn một mình chinh phục đỉnh Everest rất nhiều”!


Trên chặng đường này, anh đã báo tin sẽ cho ra đời tiểu thuyết Hồn Việt. Nghe tên truyện đã thấy một cuộc đấu tranh gian khổ để gìn giữ và làm sáng lên những tinh hoa của dân tộc trong thời hội nhập toàn cầu; cảnh báo nguy cơ nào đó trong xã hội, một tiếng nói cứu hiểm của người thời Khảm. Đặc điểm của Triệu Xuân trong văn chương là cái sau thường hay hơn cái trước. Chúng ta hy vọng Hồn Việt sẽ là như thế. Riêng tôi sẽ đón đọc và hy vọng tìm thấy cái hồn Dịch trong một tác phẩm của một nhà văn mà, trong cõi vô thức, anh đi đúng con đường Dịch học đã mách bảo.


 


Tháng 8-2007


 


Phụ lục: Cấu trúc Hà Lạc của nhà văn Triệu Xuân


Sinh ngày 4 – 9 –Nhâm Thìn giờ Mão (22 – 10 – 1952). Dương Nam. Mệnh Thủy (trường lưu). Mát mẻ (Tiết lệnh tháng 9): 8-10-1952. Giữa thu: 23-9-1952 (Hóa công Đoài). Trung nguyên. Sinh giờ khí dương. Can chi: Năm Nhâm Thìn, Tháng Canh Tuất, Ngày Tân Sửu, Giờ Tân Mão. Mã số Can Chi: 6, 5-10; 3, 5-10; 4, 5-10; 4, 3-8. Số dương: 21. Số âm: 52

































Tiên Thiên


Tiền Vận



Đại Vận


 (Năm)



 Hỗ


Tiên Thiên



Hậu Thiên


Hậu Vận



 Đại vận


 (Năm)



 Hỗ


Hậu Thiên



Hỗ


Nhân Quả



0


1


0


0


0*


0



79-84


70-78


64-69


58-63


52-57


85-90



1


0


0


0


0


0



0


1*


0


0


1


0



00-05


91-99


27-32


21-26


12-20


06-11



1


0


0


0


0


1



1


1


1


1


0


1



Thủy Địa


 Tỷ



 



 Sơn Địa


 Bác



Thuần Khảm



 



Sơn Lôi


 Di



Thiên Hỏa


Đồng Nhân



 


Hoá công: (Đoài) Không. Thiên nguyên khí: (Càn) Không. Địa Nguyên khí: (Tốn) Không. Dấu *: Hào nguyên đường, chủ mệnh. Mệnh hợp cách ở mức trung bình. Hỗ Nhân Quả: Đổi dấu hào 2.


 


Nguồn: Khám phá một tia sáng văn hóa phương Đông. Xuân Cang. NXB Văn học. 2009.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyễn Bính và tuần báo “Trăm hoa” 1955-1957 - Lại Nguyên Ân 20.08.2018
Nguyễn Bính và con đường trở thành “Người của ngày mai” - Đoàn Trọng Huy 20.08.2018
Nam Bộ trong đời thơ Nguyễn Bính - Võ Văn Nhơn 20.08.2018
Nguyễn Bính – Nhà thơ của nhiều thời - Bùi Mạnh Nhị 16.08.2018
Giang hồ Nguyễn Bính - Phạm Xuân Nguyên 16.08.2018
Hai không gian sống trong thơ Nguyễn Bính trước cách mạng - Lê Thị Dục Tú 16.08.2018
Những bài viết về thơ Đỗ Nam Cao - Nhiều tác giả 16.08.2018
Cảm thức nơi chốn trong thơ Nguyễn Bính trước 1945 - Đỗ Hải Ninh 15.08.2018
Trở về như là Nguyễn Bính… - Nguyễn Thanh Tâm 15.08.2018
Con người và đặc sắc thơ Nguyễn Bính qua một số chân dung văn học - Hà Thị Kim Phượng 14.08.2018
xem thêm »