tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18938142
Những bài báo
18.11.2010
Tư liệu
Khía cạnh Phật học Trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu

Ở đây, chúng tôi xin nói rõ hơn về khía cạnh Phật học trong bộ tự điển ấy.


HVTĐ của Thiều Chửu, theo bản in năm 2000 của NXB TP.HCM gồm 809 trang, trong đó có hơn 145 chữ, về nghĩa có những liên hệ gần xa tới Phật giáo và Phật học, đã được tác giả nhân đấy giải thích, quảng diễn thêm. Chúng tôi xin sắp xếp lại theo thứ tự abc để chúng ta cùng lãnh hội.


- Chữ am (tr.177/2): Cái nhà nhỏ thờ Phật gọi là am. Có khi viết là...


- Chữ bái (tr.91/1): a) Tiếng Phạn, nghĩa là chúc tụng. Bên Tây Vực có cây bái đa, nhà Phật dùng lá nó viết kinh gọi là bái diệp, cũng gọi là bái đa la; b) Canh. Tăng đồ đọc canh tán tụng các câu kệ gọi là bái tán.


- Chữ bàn (tr.535/2): Lại một âm là bát. Bát nhã: dịch âm chữ Phạn, nghĩa là Trí tuệ, trí tuệ thanh tịnh.


- Chữ bát (tr.703/1): Tiếng Phạn là Bát đa la, cái bát ăn của sư nhà chùa. Dùng bát xin ăn đời đời truyền cho nhau, nên đời đời truyền đạo cho nhau gọi là y bát.


- Chữ bi (tr.204/2): Thương xót. Đạo Phật lấy từ bi làm tôn chỉ, nghĩa là thương xót chúng sinh mà ra tay cứu độ.


- Chữ bì (tr.327/2): a) Bì ni: Dịch âm tiếng Phạn nghĩa là Giới luật; b) Tỳ Lư: Tên một vị Phật. Ta quen đọc là Tỳ.


- Chữ bồ (tr.552/1): a) Bồ đề: Dịch âm chữ Phạn nghĩa là tỏ biết lẽ chân chính. Tàu dịch là Chính giác. Trong loài thực vật có thứ có hạt tròn dùng làm tràng hạt, nên gọi là bồ đề tử. Bên Ấn Độ có cây Tất bát la, vì Đức Phật tu đắc đạo ở bên gốc cây ấy, nên gọi cây ấy là cây Bồ đề. Bồ tát: dịch âm tiếng Phạn, nói đủ là Bồ đề tát đỏa, nghĩa là đã tự giác ngộ, lại giác ngộ cho chúng sinh.


- Chữ bố (tr.168/1): Cho, như bố thí: cho khắp. Phép tu nhà Phật có 6 phép tu tới Bồ tát, phép Bố thí đứng đầu...


- Chữ bối (tr.636/2): Các đồ đệ Phật lấy lá cây bối đa viết kinh, gọi là bối diệp kinh.


- Chữ căn (tr.291/2): Nhà Phật gọi là mắt tai mũi lưỡi thân ý là lục căn.


- Chữ câu (tr.230/1): Câu lư xá: dịch âm tiếng Phạn, một tên gọi trong phép đo. Một câu lư xá bằng: dặm bây giờ. Tám Câu lư xá là 1 do tuần.


- Chữ cư (tr.156/1): Cư sĩ: Đàn ông ở nhà tu theo Phật pháp, giữ 5 điều giới thanh tịnh gọi là cư sĩ.


- Chữ chân (tr.423/1): Chân như: Nguyên lai vẫn tinh thành, viên mãn, thanh tịnh, không phải mượn ở ngoài vào. Chân đế: Đạo lý chân thực, trái lại với chữ vọng.


- Chữ chú (tr.86/2): Thần chú. Theo nghĩa kinh Phật thì chú nghĩa là chúc nguyện.


- Chữ chướng (tr.733/1): Che lấp: Bị vật dục che lấp chân trí, gọi là Trần chướng. Bị phần tri kiến che lấp mất chân trí, gọi là Lý chướng, đều là nói về sự làm mất cái sáng láng của bản thể chân tâm.


- Chữ diệt (tr.354/2): Diệt độ: Diệt hết phiền não qua bể sinh tử.


- Chữ du (tr.393/2): Du già: Tiếng Phạn, nghĩa là nghỉ ngơi. Ngồi yên lặng nghỉ, chứng được sức thần bí mật để trừ ma chứng đạo, cứu khắp chúng sinh. Du già tăng: Sư đi cùng đám.


- Chữ dục (tr.212/2): Ham muốn. Bởi sự ham muốn làm chướng đường tu, gọi là Dục chướng.


- Chữ duyên (tr.486/2): Nhân: Cái nhân kết thành cái gì gọi là duyên, như duyên cố: duyên cớ. Nhà Phật cho vì nhân mà được quả là duyên, như Nhân duyên.


- Chữ dưỡng (tr.764/2): Ta nói phụng dưỡng, cung dưỡng: cúng dường.


- Chữ đàm (tr.274/1): Kinh Phật gọi Phật là Cù Đàm. Nguyên trước họ Phật là họ Cù Đàm, sau mới đổi họ Thích.


- Chữ đàn (tr.312/1): Nhà Phật gọi các người cúng đàn cầu được qua cõi khổ là đàn việt, hay đàn na.


- Chữ đản (tr.597/2): Lễ nhà chùa mặc cà sa cũng để trống bên trái gọi là Thiên đản.


- Chữ đạo (tr.152/2): Đạo sư: ông thầy chỉ vẽ cho mình biết chỗ mê lầm mà đi về đường chính.


- Chữ đầu (tr.756/1): Đầu đà: Tiếng Phạn, một phép tu khổ hạnh, như đi xin ăn, ngồi ngủ nơi gốc cây, nhập định bên mả để trừ sạch phiền não.


- Chữ đẩu (tr.226/2): Tiếng Phạn là đỗ đa, Tàu dịch là đẩu tẩu hay đầu đà. Người tu theo hạnh đầu đà của Phật hay phấn khởi dốc trừ sạch ba món độc tham sân si. Ta quen gọi nhà sư là đầu đà là do đó.


- Chữ đề (tr.695/2): Một âm là đề, đề hồ: Một thứ mỡ sữa đông đặc nhất, vị nó rất nồng rất đặc, cho nên được nghe thích các đạo thiết yếu, gọi là Quán đỉnh đề hồ (chữ kinh Phật) cũng dùng để ví dụ với Chánh pháp của Phật.


- Chữ đế (tr.622/2): Chữ nhà Phật dùng cũng như nghĩa chữ chân ngôn, như tham thấu lẽ thiền gọi là đắc diệu đế. Nhà Phật nói đời người là khổ, đúng là khổ, tức là Khổ đế... Bốn điều này (Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế) đúng thực không sai nên gọi là Tứ đế.


- Chữ địa (tr.107/1): Địa vị, cái ngôi của mình được tới. Trong phép Phật chia ra 10 ngôi Bồ tát gọi là Thập địa để định rõ chỗ tu hơn kém nhau.


- Chữ điển (tr.43/2): Giữ, chủ trương một công việc gì gọi là điển. Nhà chùa có chức điển tọa, coi chính việc về chỗ nằm ngồi.


- Chữ định (tr.141/2): Tịnh. Nhà Phật có phép tu khiến cho tâm thần yên định không vọng động, gọi là định, tức phép ta quen gọi là Nhập định.


- Chữ độ (tr.177/1): Sang tới, cũng như chữ độ: Nhà Phật bảo người ta ở cõi đời này là cõi khổ, phải tu theo phép của Phật vượt qua bể khổ, thế nên xuất gia tu hành gọi là Thế độ. Sáu phép: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tiến, Thiền định, Trí tuệ, gọi là Lục độ, nghĩa là sáu thứ ấy là phép khiến người trong bể khổ tu sẽ sang bên cõi giác.


- Chữ độ (tr.350/2): Cứu vớt cho người qua cơn khổ ách gọi là tế độ.


- Chữ đốn (tr.754/2): Đốn giáo: Chữ trong kinh Phật: Dùng một phương pháp tuyệt mầu khiến cho mình theo đó mà tu được tới đạo ngay.


- Chữ già (tr.672/1): Thích Già: Đức Thích Ca là vị Tổ sáng lập ra Phật giáo. Cũng đọc là chữ Ca. Già lam: chùa, nhà của sư ở.


- Chữ giác (tr.607/2): ... Đạo Phật cốt nhất phải giác ngộ chân tính, tỏ rõ hết mọi lẽ, cho nên gọi Phật là Giác Vương. Người học Phật được chứng tới quả Phật gọi là Chánh giác.


- Chữ giới (tr.218/2): Đạo Phật cho kiêng: Sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói xằng, uống rượu, là Ngũ giới.


- Chữ giới (tr.402/2): Cảnh ngộ: Nhà Phật chia những phần còn phải chịu trong vòng luân hồi làm 3 cõi: cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc, mỗi cõi cảnh ngộ một khác.


- Chữ hành (tr.592/2): Biến đổi luôn không ngừng. Nhà Phật gọi cái ý thức luôn luôn trôi đi là Hành ấm hay Hành uẩn. Một âm là Hạnh: đức hạnh... độc hạnh: Đức hạnh hơn người. Vì thế nhà Phật nói sửa mình trong sạch để thờ Phật, gọi là Tu hạnh.


- Chữ hòa (tr.87/1): Hòa nam: Dịch âm tiếng Phạn, nghĩa là chắp tay làm lễ, dốc lòng kính lễ. Hòa thượng: dịch âm tiếng Phạn, nghĩa là chính ông thầy dạy mình tu học.


- Chữ hóa (tr.64/2): Biến hóa: Phật vì muốn cứu chúng sinh phải hóa xuống làm thân người, gọi là Hóa thân... Cầu xin, như hóa duyên: nghĩa là lấy lời đạo nghĩa mà cảm hóa, khiến người sinh lòng từ thiện mà cho mà giúp.


- Chữ học (tr.138/1): Nhà Phật chia ra 2 hạng: a) Hữu học: Hạng còn phải học mới biết; b) Vô học: Hạng không cần phải học cũng biết.


- Chữ hồi (tr.102/2): Hồi hướng: Chữ trong kinh Phật, nghĩa là đem công đức của mình đã tạo được mà hướng về nơi khác... cao hơn, rộng lớn hơn, để mong đạt được lợi ích, an lạc.


- Chữ hoặc (tr.206/1): Mê... Nhà Phật cho chúng sinh đối với hết thảy mọi pháp không hiểu rõ rằng tủ linh nguyên là không, mới sinh ra chấp trước sai lạc, mê mất đạo chính mà bị luân hồi mãi. Có 2 sự mê hoặc lớn: a) Kiến hoặc: Là kiến thức mê lầm; b) Tư hoặc: Là suy nghĩ mê lầm...


- Chữ huyền (tr.388/1): Nhà Phật gọi là cửa, do đấy tu vào đạo là Huyền quan.


- Chữ kê (tr.445/2): Một âm là khể, khể thủ: Lạy rập đầu xuống đất.


- Chữ kết (tr.478/2): Cố kết, như kết oán. Nhà Phật cũng gọi những mối oan thù kiếp trước là kết.


- Chữ kiền (tr.381/1): Kiền trùy: Dịch âm tiếng Phạn, các thứ như chuông khánh, mõ đánh làm hiệu ở trong chùa đều gọi là kiền trùy.


- Chữ kiếp (tr.58/2): Số kiếp, đời kiếp. Tiếng Phạn là Kiếp ba. Kiếp gồm tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp...


- Chữ kinh (tr.482/1): Kinh sách. Sách của các tôn giáo cũng gọi là kinh, như kinh Phật có các kinh Lăng Nghiêm, Lăng Già, Bát Nhã v.v...


- Chữ kham (tr.111/2): Kham nhẫn: Dịch nghĩa chữ Phạn là Sabà, tức là cõi đời ta ở đây, là cõi chịu nhịn được mọi sự khổ.


- Chữ khâu (tr.3/2): Một âm là khiêu, như Tỳ khiêu, dịch âm chữ Phạn, là người tu đạo Phật đã thọ đủ 250 giới.


- Chữ khẩu (tr.78/2): Nhà Phật cho những tội bởi miệng mà ra là khẩu nghiệp.


- Chữ khỉ (tr.484/2): Khỉ ngữ: Lời nói thêu dệt. Ta quen đọc là chữ ỷ (ỷ ngữ).


- Chữ không (tr.448/1): Đạo Phật cho vượt qua cả sắc tướng ý thực là đạo chân thực, nên gọi là Không môn.


- Chữ lạp (tr.526/2): Tuổi sư. Pháp Phật cứ đi hạ được một năm kể là một tuổi, gọi là lạp, hay hạ lạp.


- Chữ lăng (tr.303/2): Lăng Nghiêm, Lăng Già: Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Lăng Già, hai bộ kinh nghĩa lý rất cao thâm trong nhà Phật.


- Chữ liên (tr.562/1): Liên tông: Môn tu Tịnh độ của Phật giáo, lấy chỗ niệm Phật, sau khi chết được Phật tiếp dẫn về Tây phương. Các nhà tu theo môn Tịnh độ họp nhau niệm Phật cầu vãng sanh gọi là Liên xã.


- Chữ lý (tr.391/2): Lý chướng: Chữ nhà Phật, chỉ do không rõ lẽ đúng thực, bị ý thức tạo chướng ngại.


- Chữ ma (tr.98/1): Lạt ma: Hiệu riêng của nhà sư ở bên Tây Tạng.


- Chữ ma (tr.784/1): Ma chướng: Các thứ làm chướng ngại đường tu.


- Chữ mật (tr.146/2): Mật tông: Trong nhà Phật có một phái tu về pháp bí mật: Tụng chú, ấn quyết, khiến ba nghiệp thân miệng ý cùng ứng với nhau, tức thì chuyển phàm nên Thánh... là Mật tông, cũng gọi là Chân Ngôn tông. Giáo nghĩa của tông này gọi là Mật giáo.


- Chữ mộ (tr.61/2): Xin. Như mộ hóa: Thầy tu đi khất thực mộ quyên: Quyên tiền gạo phát chẩn.


- Chữ môn (tr.716/1): Đồ, nhóm. Môn đồ của Phật gọi là Phật môn.


- Chữ muội (tr.269/1): Tam muội: Dịch âm chữ Phạn, Tàu dịch là Chánh định...


- Chữ na (tr.686/2): Tiếng Phạn: Duy na: Kẻ giữ phép trong chùa. Đàn na: kẻ bố thí, cũng gọi là Đàn việt. Sát na: Một loáng, một thời gian rất ngắn.


- Chữ ni (tr.155/2): Sư nữ. Tiếng Phạn là Tỷ khiêu ni nghĩa là vị sư nữ đã thọ giới Cụ túc, tục gọi là Ni cô.


- Chữ niệm (tr.198/2): Ngâm đọc, như niệm kinh.


- Chữ niết (tr.344/2): Niết bàn: Dịch âm tiếng Phạn là Nirvana, chỉ người tu đã chứng đạo, khi bỏ xác phàm, vào nơi không sinh không diệt, sạch hết mọi đường phiền não.


- Chữ ngã (tr.218/2): Ý riêng ta. Như vô ngã: Đừng cứ ý riêng ta. Cố chấp ý kiến của mình gọi là Ngã chấp.


- Chữ ngạn (tr.161/1): Tu đạo chứng đắc chỗ cùng cực gọi là đạo ngạn. Trong kinh Phật nói tu chứng đến cõi Chánh giác là đáo bỉ ngạn, la đăng giác ngạn.


- Chữ nghiệp (tr.304/2): Cái nhân. Như: Nghiệp chướng: nhân ác làm chướng ngại. Có 3 nghiệp: khẩu nghiệp, thân nghiệp, ý nghiệp. Nhân ác nơi 3 thứ khẩu, thân, ý tạo ra gọi là tam nghiệp. Túc nghiệp: Là nghiệp ác kiếp trước đã làm, kiếp này phải chịu khổ. Làm thiện cũng gọi là thiện nghiệp.


- Chữ ngưỡng (tr.17/2): Nhà Phật cho những kẻ kiếm ăn bằng nghề xem thiên văn là ngưỡng khẩu thực.


- Chữ nguyên (tr.38/2): Phép lịch cũ định ngày rằm tháng Giêng là Thượng nguyên, rằm tháng Bảy là Trung nguyên, rằm tháng Mười là Hạ nguyên.


- Chữ nhãn (tr.424/2): Chỗ yếu điểm, như Pháp nhãn tạng: chỗ chứa yếu điểm của pháp.


- Chữ nhân (tr.15/1): Tiếng đối lại với mình, như tha nhân: Người khác. Vô nhân ngã chi kiến: Không có phân biệt mình với người v.v... Thấu được nghĩa này, trong đạo Phật cho là bậc tu đạt Nhân không.


- Chữ nhân (tr.103/2): Chỗ duyên theo đó mà phát ra, như nhân quả. Nhà Phật cho phần đã tạo ra là nhân, phần phải chịu lấy là quả. Làm ác phải tội, làm thiện được phúc, đó là nhân quả.


- Chữ như (tr.125/2): Nguyên như thế. Trong kinh Phật cho rằng vẫn còn nguyên chân tính, không nhiễm trần ai là như.


- Chữ Phạm(tr.298/1): Hạnh làm thanh tịnh. Phật giáo lấy thanh tịnh làm tôn chỉ, nên sự gì có quan thiệp đến Phật đều gọi là phạm.


- Chữ pháp (tr.337/1): Nhà Phật gọi đạo là Pháp, nên giảng đạo gọi là thuyết pháp, tôn xưng các sư giảng đạo gọi là Pháp sư. Nhà Phật nói hết thảy mọi sự mọi vật ở thế gian đều là giả cả, đều do cái vọng tâmtạo ra cả, nên gọi là Pháp, là cái cảnh của ý căn nương theo đó mà hành động, nên gọi là pháp trần.


- Chữ Phật (tr.21/2): Dịch âm tiếng Phạn, nói đủ là Phật Đà, là bậc tu đã tới cõi giác ngộ hoàn toàn, lại giáo hóa cho người được hoàn toàn giác ngộ. Như Đức Thích Ca, đã bỏ hết công danh phú quý, lìa cả gia đình, tu hành khắc khổ, phát minh ra hết chỗ mê lầm của chúng sinh để tế độ họ, gọi là Phật. Thế nên những pháp Ngài giảng nói gọi là Phật pháp...


- Chữ phiệt (tr.457/2): Cánh bè. Tán dương pháp Phật rất mầu cứu vớt muôn người khỏi chìm đắm gọi là từ hàng bảo phiệt (thuyền từ, bè báu).


- Chữ phù (tr.343/2): Phù đồ: Do tiếng Phật Đà dịch trạnh ra. Phật giáo là của Phật Đà sáng tạo ra, vì thế nên gọi Phật giáo là phù đồ. Đời sau gọi tháp của Phật là phù đồ.


- Chữ phủng (tr.92/1): Ngâm, tụng. Tụng kinh kéo dào giọng ra gọi là phủng tụng, cùng nghĩa với chữ phúng.


- Chữ quả (tr.286/1): Làm nhân ác phải vạ ác, làm thiện được phúc lành, gọi là nhân quả.


- Chữ quán (tr.608/1): Một âm là quán. Xét thấu nghĩ kỹ thấu tới đạo chính gọi là Quán, như Nhất tâm Tam quán. Đạo Phật có pháp tu dùng tai xem xét cõi lòng, trừ tiệt các mầm ác, trở nên bậc vô thượng, nên gọi là Pháp quán. Như Quán Âm Bồ tát, vì Ngài tu bằng pháp này, sáu căn dùng lẫn với nhau được, như tai có thể trông, mắt có thể nghe, nên gọi là Quán Thế Âm.


- Chữ quy (tr.417/1): Quy phục, dốc lòng tin theo gọi là quy y. Nhà Phật có 3 phép quy y: Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Quy y là bỏ nơi tối tăm mà đem cả thân tâm quay về nơi sáng tỏ.


- Chữ sa (tr.129/2): Sa bà thế giới: Sa bà là dịch âm tiếng Phạn. Trong kinh Phật gọi cõi đời ta ở là cõi Sa bà, nghĩa là cõi đời phải chịu nhiều khổ não.


- Chữ sa (tr.334/1): Sa môn: thầy tu. Dịch âm tiếng Phạn, Tàu dịch là cần tức, nghĩa là người đi tu chăm tu phép thiện, dẹp hết tính ác. Sa di: tiếng nhà Phật, chỉ người nam đi tu thọ đủ 10 điều giới của Phật, dẹp hết tính ác, chăm làm việc thiện. Về nữ thì gọi là Sa di ni.


- Chữ sách (tr.458/1): Lối văn sách... trong bài văn có câu gì hay gọi là cảnh sách... Nhà chùa sớm tối thường đọc bài văn thúc giục cho người tu hành, cũng gọi là cảnh sách.


- Chữ sám (tr.215/2): Ăn năn, tự thú tội ra để xin sửa đổi gọi là sám hối. Pháp lễ sám hối gọi là sám pháp.


- Chữ sát (tr.53/2): Dịch âm tiếng Phạn là sát sát, gọi tắt là Sát. Cái cột phan. Người tu được một phép, dựng cái phan để nêu cho kẻ xa biết gọi là Sát oan. Vì thế nên cái tháp của Phật cũng gọi là sát. Bấy giờ thường gọi chùa là sát. Sát na: một thời gian rất ngắn, chỉ trong một niệm có tới 90 sát na.


- Chữ sắc (tr.537/2): Sắc tướng: Nhà Phật cho hết thảy cái gì có hình có tướng đều gọi là sắc. Như Sắc giới: Cõi đời chỉ có hình sắc. Sắc uẩn: sắc tích góp che lấp mất chân tính.


- Chữ sấn (tr.603/2): Cho, giúp. Bố thí cho sư, đạo cũng gọi là Sấn, như trai sấn: cúng trai cho sư.


- Chữ sở (tr.221/2): Nơi, chốn. Nhà Phật cho phần căn là năng, phần trần là sở. Như mắt trông thấy sắc thì mắt là năng, sắc là sở.


- Chữ tạng (tr.569/2): Một âm là tạng: kho tàng, chỗ để chứa đồ. Kinh Phật có 3 kho là Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng.


- Chữ Tăng (tr.34/2): Sư nam. Đàn ông đi tu đạo Phật gọi là Tăng. Nguyên tiếng Phạn là Tăng già, nghĩa là một đoàn thể đệ tử của Phật, trong luật định bốn vị sư trở lên mới gọi là Tăng già.


- Chữ tâm (tr.196/2): Phật học cho muôn sự muôn lẽ đều do tâm người tạo ra. Nhà Phật chia tâm ra nhiều thứ, nhưng rút lại có 2 thứ tâm trọng yếu nhất: a) Vọng tâm: cái tâm nghĩ ngợi lan man xằng bậy; b) Chân tâm: cái tâm nguyên lai vẫn sáng láng tinh thông. Đầy đủ mầu nhiệm... Nếu người ta biết rõ cái chân tâm của mình như thế mà xếp bỏ sạch hết vọng tâm đi, tức thì thành đạo ngay.


- Chữ tập (tr.737/2): Tập đế: chữ nhà Phật, là một đế trong Tứ đế, nghĩa là góp các nhân duyên phiền não lại thành ra quả khổ.


- Chữ tây (tr.604/2): Phật giáo từ Ấn Độ truyền vào Trung Quốc, cho nên gọi phương Tây là đất Phật. Tông Tịnh Độ trong Phật giáo nói người niệm Phật, lúc mạng chung sẽ được Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn về nước Cực lạc ở phía Tây xứ ta ở, vì thế tức gọi người chết là quy Tây.


- Chữ tịch (tr.146/1): ... Nhà Phật cho tu hành dứt sạch hết mê vọng, vào nơi rỗng lặng hưởng thú chân thường, gọi là tịch diệt, tâm thần lặng yên, tự nhiên soi tỏ không sót tí gì, gọi là tịch chiếu.


- Chữ tín (tr.26/1): Tín thí: người tin theo đạo Phật, biết đem của cải bố thí, cúng dường.


- Chữ tinh (tr.470/1): Biết đến nơi. Học vấn do chuyên nhất mà mau tiến, gọi là tinh tiến.


- Chữ tính (tr.200/2): Nhà Phật nói cái tính của con người nguyên lai là vẫn đầy đủ sáng láng, chỉ vì vật dục làm mê mất chân tính ấy đi, nên mới tham sân si, gây nên bao lỗi lầm. Nếu nhận tỏ bản tính (kiến tính) của mình thì bao nhiêu lầm lỗi đều sạch hết mà chứng được như Phật ngay.


- Chữ tịnh (tr.347/2): Đạo Phật lấy thanh tịnh làm cốt, cho nên đất Phật ở gọi là Tịnh độ, chỗ tu hành gọi là tịnh thất. Người tu cầu được về nơi Phật ở gọi là vãng sanh Tịnh độ. Pháp tu theo pháp cầu vãng sinh làm mục đích gọi là tông Tịnh Độ.


- Chữ tĩnh (tr.745/2): Tĩnh, trái với động. Nhà Phật có môn tham thiền, cứ ngồi yên lặng, thu nhiếp cả tinh thần lại, không tư lự gì hết để xét tỏ chân lý, gọi là tĩnh.


- Chữ tế (tr.362/2): Một âm là tế. Qua, sang, như tế độ: chữ nhà Phật, ý nói Phật cứu vớt người khỏi bể khổ, như người vớt kẻ sắp chết đuối, chở sang bên kia sông.


- Chữ tôn (tr.152/1): Một pho tượng thần hay Phật cũng gọi là Nhất tôn.


- Chữ tông (tr.141/1): dòng, phái. Đạo Phật từ ông Ngũ tổ trở về sau chia làm 2 dòng Nam Bắc, gọi là Nam tông, Bắc tông (đây là chỉ 2 dòng thiền của Phật giáo Trung Quốc. ĐN ghi).


- Chữ tố (tr.476/1): Tục gọi là rau dưa là Tố, cho nên ăn chay gọi là nhự tố.


- Chữ tốt (tr.450/1): Tốt đổ ba: dịch theo âm tiếng Phạn, tức là cái tháp.


- Chữ tu (tr.26/2): Tu đa la: Dịch âm tiếng Phạn, nghĩa là kinh. Đem những lời Phật đã giảng nói chép lại thành sách gọi là kinh. Nói đủ là khế kinh, nghĩa là kinh Phật nói đúng lý đúng cơ không sai một chút nào. Có bản dịch là Tu đố lộ.


- Chữ túc (tr.145/2): đã qua. Như túc thế: đời quá khứ. Túc nhân: nhân đã gây từ trước.


- Chữ tuệ (tr.211/2): Trí sáng, lanh lẹ. Sinh ra đã có tính sáng láng hơn người gọi là tuệ căn. Có trí sáng láng chứng được pháp gọi là tuệ lực. Lấy trí tuệ làm tính mạng gọi là tuệ mạng. Lấy trí tuệ trừ sạch được duyên trần gọi là tuệ kiếm. Có con mắt soi tỏ cả quá khứ hiện tại vị lai gọi là tuệ nhãn.


- Chữ tùng (tr.78/1): Bụi rậm, như tùng lâm: Rừng rậm. Bây giờ gọi chùa là tùng lâm là vì xưa kia Phật Tổ thuyết pháp thường ở các nơi rừng rậm, vắng lặng, thanh tịnh, cho Tăng chúng tiện chỗ tu hành.


- Chữ tụng (754/1): Lối văn kệ của nhà Phật, Tàu cũng dịch là tụng.


- Chữ tùy (tr.733/2): Tùy hỷ: Tiếng nhà Phật, nói nghĩa hẹp là tùy ý mình thích mà làm như bố thí, cúng dâng. Nói nghĩa rộng thì đi thăm cảnh chùa cũng gọi là tùy hỷ. Người ta làm việc thiện, mình không làm, chỉ tán thán vào cũng gọi là tùy hỷ.


- Chữ tự (tr.150/2): Chùa. Đời vua Hán Minh đế mới đón hai vị sư bên Thiên Trúc sang, vì chưa có chỗ ở riêng mới đón vào ở Sở Hồng Lô tự. Vì thế nên về sau các chỗ sư ở đều gọi là tự.


- Chữ tượng (tr.33/2): Giống như. Sau khi Phật tịch, chỉ còn thờ tượng giống như lúc còn, gọi là đời tượng pháp.


- Chữ tượng (tr.634/1): Tượng giáo: Nhà Phật cho đạo Phật sau khi Phật Tổ tịch rồi một nghìn năm là thời kỳ tượng giáo. Nghĩa là chỉ còn có hình tượng Phật chứ không còn thấy chân thân Phật nữa.


- Chữ tham (tr.76/1): Trong nhà Phật, đi tới chỗ các vị đạo cao đức trọng để hỏi về đạo gọi là đi tham.


- Chữ tháp (tr.113/1): Cái tháp. Nguyên tiếng Phạn là Tháp bà hay Túy để ba.


(Còn tiếp)


- Chữ thắng (tr.60/2): Hơn. Thắng nghĩa căn: Tức là cái của 5 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) vẫn có đủ, nó hay soi tỏ cảnh phát ra thức, là cái sắc trong sạch. Thắng nghĩa đế: Là cái lý nhất chân pháp giới, chỉ có chư Phật mới biết hết, chứng hết, là cái nghĩa mầu nhiệm hơn hết nơi các nghĩa mầu.


- Chữ thân (tr.568/2): Đời. Như tiền thân: đời trước.


- Chữ thần (tr.437/2): Thần thông: nhà Phật nói con người vốn có tuệ tính thiên nhiên, thông suốt vô ngại, biến hóa bất thường. Ai tu chứng được phần đó gọi là thần thông, như: Thiên nhãn thần thông: con mắt trong suốt hết mọi nơi. Tha tâm thông: có thần thông biết tận lòng người khác.


- Chữ thế (tr.53/2): Cắt tóc. Cắt tóc đi tu gọi là thế phát.


- Chữ thích (tr.698/1): Thích Già (Thích Ca): Danh hiệu vị sáng lập ra Phật giáo, nên các sư gọi là Thích tử, Phật giáo gọi là Thích giáo.


128- Chữ thiên (tr.120/2): Ông Trời. Nhà Phật thì cho Trời cũng là một loài chúng sanh có công tu thiện nhiều hơn, được sinh vào cảnh giới sung sướng hơn người.


129- Chữ thiền (tr.439/2): Lặng nghĩ, suy xét. Đạo Phật lấy thanh tĩnh xét tỏ chân lý làm tôn chỉ, nên gọi là Thiền, cũng gọi là Thiền na. Pháp tu chuyên chú tâm vào một cảnh gọi là Thiền định. Môn tu theo pháp thiền định, thấy lòng tỏ tính thành Phật gọi là Thiền tông. Lòng say mùi đạo gọi là Thiền duyệt.


130- Chữ thổ (tr.106/1): Một âm là độ, như Tịnh độ: Theo trong kinh nhà Phật thì Tịnh độ là một thế giới thanh tịnh, an lạc ở phương Tây. Vì thế, tôn phái tu cầu được vãng sanh về thế giới ấy gọi là tôn Tịnh độ.


131- Chữ thừa (tr.8/1): Bực: Phật học chia bậc cao thấp, như: Tiểu thừa: Bực tu chỉ tự độ được mình, cũng như xe nhỏ chỉ chở được mình. Đại thừa: Bực tu đã tự độ mình lại độ cho người, như cỗ xe lớn chở được nhiều người.


132- Chữ trai (tr.806/1): Ăn chay - cơm của sư ăn gọi là trai. Thết cơm cho sư ăn cũng gọi là trai. Sư làm đàn cầu cúng gọi là trai tiếu (sư hay đạo sĩ lập đàn cầu cúng gọi là tiếu).


133- Chữ tràng (tr.173/1): Một thứ cờ dùng làm nghi vệ. Nhà Phật viết kinh vào cờ ấy gọi là kinh tràng. Khắc vào cột đá gọi là thạch tràng.


134- Chữ trần (tr.113/2): Trần. Nhà Phật cho sắc, tiếng, hương, vị, xúc và pháp là sáu trần (cảnh).


135- Chữ trì (tr.231/2): Cầm, giữ. Thao trì: Giữ gìn. Chủ trì: Chủ trương công cuộc gì. Ta gọi vị sư coi cả chùa là trụ trì cũng là do nghĩa ấy.


136- Chữ trụ (tr.21/1): Còn đấy. Nhà Phật nói muôn sự muôn vật ở thế gian cái gì cũng có 4 thời kỳ là thành, trụ, hoại, không. Hễ cái gì đang ở thời kỳ còn đấy thì gọi là trụ. Như trụ trì Tam bảo. Phật tuy tịch rồi, nhưng còn tượng Ngài lưu lại, cũng như Phật ở đời mãi, là trụ trì Phật bảo. Phật tuy tịch rồi, nhưng kinh sách còn lưu truyền lại, là trụ trì Pháp bảo. Phật tuy tịch rồi, nhưng còn có các vị xuất gia tu hành, kế tiếp làm việc của Phật, là trụ trì Tăng bảo.


137- Chữ trúc (tr.454/2): Nước Thiên Trúc, tức nước Ấn Độ bây giờ, là nơi Phật Tổ sinh ra, nên gọi nước Phật là nước Trúc.


138- Chữ uẩn (tr.572/1): Nhà Phật cho 5 thứ sắc, thụ, tưởng, hành, thức là Ngũ uẩn, nghĩa là 5 thứ ấy tích gộp lại che lấp mất cả chân tính của con người.


139- Chữ ứng (tr.214/2): Ứng theo. Làm thiện được phúc, làm ác phải vạ, gọi là báo ứng. Vì lòng thành, cầu mà được như nguyện gọi là cảm ứng.


140- Chữ vạn (tr.68/2): Chữ này chỉ trong nhà Phật mới có. Nhà Phật cho khi Phật đản sanh, trước ngực có hiện ra hình chữ Vạn... có nghĩa là muôn đức tốt đẹp đều hợp cả ở đấy. Lại, chữ Vạn ấy, nguyên tiếng Phạn là Srivatsata ksana, các Pháp sư La Thập, Huyền Trang dịch là Đức. Pháp sư Bồ Đề Lưu Chi dịch là Vạn. Ở bên Ấn Độ, thì tương truyền là cái tướng cát tường, dịch là đức là nói về công đức, dịch là Vạn là nói về phần công đức đầy đủ (Theo Thiều Chửu thì hình chữ Vạn xoay theo bên hữu là phải hơn).


141- Chữ vãng (tr.190/2): Nhà Phật cho người tu về tôn Tịnh Độ, khi chết được sinh sang nước Phật rất an lạc, gọi là vãng sanh.


142- Chữ viên (tr.105/1): Không trở ngại. Tôn Thiên Thai chia Phật giáo làm 4 bực, bực Viên Giác là cao nhất, vì chứng đến bực ấy thì công hạnh viên mãn, tự tại viên dung không có gì trở ngại nữa.


143- Chữ vọng (tr.126/1): Xằng, càn. Như vọng ngữ là nói xằng, trái với chữ chân.


144- Chữ vô (tr.369/1): Vô lậu: Chữ nhà Phật, pháp tu dùng trí tuệ chân thật trừ sạch cội rễ phiền não là pháp Vô lậu - Vô sanh: Chữ nhà Phật, nghĩa là tu chứng tới bậc nhẫn được không cứ một pháp nào sinh ra nữa. Một âm là Mô. Nam mô: Nguyên tiếng Phạn là Namanak, nghĩa là quy y, là cung kính đảnh lễ.


145- Chữ xà (tr.579/2): Dùng để tỷ dụ kẻ độc ngầm như Phật khẩu xà tâm.


146- Chữ ý (tr.208/2): Nhà Phật cho ý là phần thức thứ 7, tức là Mạt na thức, nó hay phân biệt, nghĩ ngợi.


Với 146 chữ được sắp theo thứ tự như thế, chúng ta có thể nói đến một tập tự điển Phật học Hán Việt bỏ túi. Chúng tôi xin nêu lên một số ghi nhận như sau:


* Thứ 1: HVTĐ ra đời trong hoàn cảnh tư liệu về Phật học và liên quan tới Phật học (Hán tạng) còn rất hạn chế, thiếu thốn, nhưng tác giả đã tham khảo rộng, không chỉ quảng diễn về Phật học mà còn cả Nho học nữa. Điều ấy chứng tỏ vốn Hán học của Thiều Chửu là rất sâu, vững. Nếu ở hậu bán thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn (1726-1784) trong tác phẩm Kiến văn tiểu lục đã dành một số trang để giải thích một số từ ngữ, thuật ngữ Phật học tiêu biểu (1), nhằm giúp cho các Nho sĩ bước đầu có những hiểu biết đúng đắn về Phật giáo, thì ở tiền bán thế kỷ XX, Thiều Chửu khi biên soạn HVTĐ, cũng với một tâm nguyện tương tự như thế. Trong bối cảnh Hán học suy tàn nhưng Phật giáo vẫn đang cố gắng chấn hưng rộng khắp, việc làm của Thiều Chửu thật xứng đáng để nhiều thế hệ người học Phật đi sau ghi công và kính ngưỡng.


* Thứ 2: Tuy chưa bao quát hết các vấn đề căn bản của Phật học, nhưng mảng Phật học nơi HVTĐ cũng đủ độ chính xác để góp phần biện chính những sai sót, nhầm lẫn nơi một số tác phẩm chú giải, biên dịch, khảo cứu về văn học, lịch sử có liên quan tới Phật học. Nếu các vị dịch giả, tác giả kia chịu khó tham khảo HVTĐ của Thiều Chửu thì sẽ tránh khỏi những nhầm lẫn nhiều khi không đáng có ấy. Xin nêu một số trường hợp:


1- Tác phẩm Sãi vãi của Nguyễn Cư Trinh (1716-1767) do 2 ông Lê Ngọc Trụ và Phạm Văn Luật sao lục, chú thích (Nhà sách Khai Trí tb, S.1969) đã chú giải: Tam muội: Là 3 điều mê tối, là tham sân si (sđd, tr.168). Sách Chí sĩ Nguyễn Quang Diệu của Nguyễn Văn Hầu (NXB Xây Dựng, S.1964) cũng chú giải thuật ngữ Tam muội là 3 điều mê tối tham sân si (sđd tr.206)! Xin nói thêm: Lê Ngọc Trụ là học giả chuyên về ngữ học nổi tiếng ở miền Nam trước 1975, từng giảng dạy về ngữ học nhiều năm ở Đại học Văn khoa Sài Gòn, còn Nguyễn Văn Hầu đã từng viết sách Việt Nam tam giáo sử đại cương (NXB Phạm Văn Tươi, S.1957) (2).


2- Sách Điển cố văn học, do Đinh Gia Khánh chủ biên, thành phần Ban Biên soạn gồm 8 vị như Nguyễn Thạch Giang, Kiều Thu Hoạch, Vương Lộc... (NXB Khoa Học Xã Hội, 1977), trang 49, đã chú giải từ Bồ tát: Tức Bồ đề tát thùy (Bodhi saltrva) nói tắt. Giải thích như thế là giẫm theo cách đọc sai của Phạm Quỳnh (1892-1945) trong Phật giáo lược khảo, viết từ 1920, sau in trong Thượng chi văn tập, tập 4 (xem Thượng chi văn tập, tập 6, NXB A. De Rhodes, Hà Nội, tr.28), trong khi HVTĐ (tr.552/2) đã nêu rõ: “Bồ tát, dịch âm tiếng Phạn, nói đủ là Bồ đề tát đóa...”.


3- Sách Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc (nhiều người dịch, giáo sư Lương Duy Thứ chủ biên, NXB Văn Hóa Thông Tin, 1994).


* Trang 61: Lời chú 1 ghi: Đàn kinh, Bàn nhược phẩm.


* Trang 102: “Thời Đông Tấn, xung quanh việc lý giải khác nhau đối với ý nghĩa của chữ Không trong Bàn nhược kinh”.


Kinh Pháp Bảo Đàn, phẩm Bát nhã của Tổ Huệ Năng (638-713) và nhất là kinh Bát Nhã, một trong những bộ kinh nổi tiếng của Phật giáo Bắc truyền mà đọc và viết là kinh Bàn Nhược (sic), trong khi HVTĐ, nơi chữ Bàn, tr.535/2 đã ghi: Lại một âm là Bát. Bát nhã: Dịch âm chữ Phạn, nghĩa là Trí tuệ, Trí tuệ thanh tịnh. HVTĐ (tr.622/2), chữ Đế, đã ghi đọc là Đế cùng giải thích đầy đủ về Tứ đế. Nhưng các người dịch sách Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc kể trên đã không hề tham khảo, vẫn đọc là Tứ đề: “Tứ đề chỉ 4 chân lý Khổ Tập Diệt Đạo. Đề tức là chân lý” (sđd, tr.100) (3).


4- HVTĐ của Thiều Chửu, nơi 2 chữ:


* Chữ Hòa (tr.87/1) đã ghi rõ: Hòa thượng: Dịch âm tiếng Phạn nghĩa là chính ông thầy dạy mình tu học.


* Chữ Sa (tr.334/1) đã giải thích rõ: Sa môn: Thầy tu, dịch âm tiếng Phạn, Tàu dịch là Cần tức, nghĩa là người đi tu pháp thiện, dẹp hết tính ác.


Vậy mà sách Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân (NXB TP.Hồ Chí Minh, 2000), nơi 2 từ Hòa thượng, Sa môn đã không hề tham khảo HVTĐ và đã giải thích như sau:


- Tr.843/1: Từ Hòa thượng: Dt.CH. Thượng: Chủ trì(!). Vị sư cao cấp trong Phật giáo...


- Tr.1549/1: Từ Sa môn: Dt H. Sa là cát. Môn là cửa (!). Người tu đạo Phật (4).


* Thứ 3: Như đã nói ở trước, do hạn chế về tư liệu tham khảo (Phật học) nên một số giải thích, quảng diễn của tác giả HVTĐ chưa đầy đủ, chưa thỏa đáng (chẳng hạn, các giải thích về chữ Căn tr.291/2, chữ Du già tr.393/2, chữ Học tr.138/1, chữ Kết (Kiết) tr.478/2,...). Tất nhiên, cái tâm và cái công đáng trân trọng của người biên soạn HVTĐ, gồm luôn việc quảng diễn về Phật học là tính chất mở đầu, mở đường, huống chi độ chính xác của sự giải thích, quảng diễn ấy nói chung là rất lớn.


10-2006


Đào Nguyên


_________


(1) Xem Kiến văn tiểu lục, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB KHXH, 1977.


(2) HVTĐ, nơi chữ Muội tr.269/1 đã nói rõ về từ Tam muội.


(3) Xem thêm bài viết của chúng tôi nơi Tập san Văn số 53, tháng 5-2002, tr.55-60.


(4) Xem thêm bài biện chính rất dài của chúng tôi trên nguyệt san Giác Ngộ, các số 89, 91->100, tháng 8, 10-2003 -> 7-2004.


Nguồn: www.chuyenphapluan.com/

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tranh cãi về 'tượng Đức Ông' ở đền Quán Thánh - Tư liệu 24.04.2017
Ngáo đá, lộ hàng, chảnh chó... sáng tạo hay méo mó tiếng Việt? - Vũ Viết Tuân 23.04.2017
Về thị trường sách và việc xuất bản - Hà Thủy Nguyên 18.04.2017
Cảm nhận của một bạn trẻ Ba Lan lần đầu đến Sài Gòn - Szymon Siudak 14.04.2017
Hậu 60 năm Hội Nhà văn VN: Nhật Tuấn, con sói già đơn độc - Nguyễn Văn Thọ 09.04.2017
Khiêm tốn một Nguyễn Hải Tùng, sống và viết - Nguyễn Thanh 08.04.2017
Quyển sách trên mộ ba tôi - Trịnh Bích Ngân 08.04.2017
Nhân kỷ niệm 5 năm ngày mất của nhà báo - Nghệ sỹ Nguyễn Hải Tùng (Út Nghệ) - Nhiều tác giả 07.04.2017
Nhớ ngày xuân gặp nhà văn Xuân Thiều - Nguyễn Hữu Sơn 05.04.2017
Nhớ đồng nghiệp Nguyễn Đăng Na - Trần Thị Băng Thanh 05.04.2017
xem thêm »