tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18462410
Những bài báo
09.11.2010
Tư liệu
Ông Nguyễn Khắc Bảo tố cáo ông Đào Thái Tôn ăn cướp công trình

ĐƠN KHIẾU NẠI & TỐ CÁO


Kính gửi:


Giáo sư - Tiến sĩ Đỗ Hoài Nam


Uỷ viên Ban chấp hành TW Đảng


Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam


Và Ban chấp hành Đảng uỷ, Công đoàn, Hội đồng khoa học, Thanh tra Viện Khoa học xã hội Việt Nam


Đồng kính gửi:


Phó Giáo sư - Tiến sĩ Trịnh Khắc Mạnh


Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam


Và Ban chấp hành Đảng uỷ, Công đoàn, Hội đồng khoa học, Thanh tra Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam


Tôi là: Nguyễn Khắc Bảo – 62 tuổi


Uỷ viên Thường vụ BCH Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bắc Ninh, Hội viên Hội Đông Y Việt Nam, Hội viên Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.


Hiện ở tại: Số 8 Trần Hưng Đạo - Phường Tiền An – thành phố Bắc Ninh - tỉnh Bắc Ninh.


Tôi làm đơn này kính trình lên ông Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam, ông Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam và các cơ quan của quý viện, tố cáo bốn việc sau:


I. Ông Đào Thái Tôn – Cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm - đã lợi dụng tín nhiệm để lưu giữ và khai thác các tài liệu nghiên cứu và văn bản Truyện Kiều của tôi mà không chịu trả lại.


Nguyên là vào năm 1997, sau khi Tạp chí Văn học số 3/97 đăng bài “Học giả Hoàng Xuân Hãn nói về Truyện Kiều” đã dấy lên một không khí trao đổi sôi nổi về Truyện Kiều. Là một người cũng sưu tầm được nhiều bản bản Truyện Kiều chữ Nôm và nghiên cứu về chữ nghĩa Truyện Kiều tôi đã viết bài: “Một văn bản in Nôm Kim Vân Kiều tân truyện vừa sưu tầm được ở vùng Kinh Bắc” gửi tới Tạp chí Văn học. Đồng chí Nguyễn Hữu Sơn, trong Ban biên tập Tạp chí Văn học có trao đổi với tôi: “Tạp chí Văn học không có điều kiện in chữ Nôm” và giới thiệu tôi nên gặp ông Đào Thái Tôn, một cán bộ của Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Ngày 14/12/1997 tôi gặp ông Đào Thái Tôn nhờ nộp hộ bài tới Viện Hán Nôm. Ngày 19/1/1998 bài viết của tôi được đọc tham luận tại Hội nghị Thông báo Hán Nôm học Việt Nam và GS. Phan Văn Các, Viện trưởng Viện Hán Nôm trong Lời khai mạc đã có đánh giá: “Đáng chú ý là một văn bản Truyện Kiều mới tìm được, qua đối chiếu sơ bộ có thể nghĩ đây là một bản in khá sớm nếu không phải là sớm nhất, đang chờ đợi sự khảo sát tỷ mỷ hơn” (trích trang 8 Kỷ yếu Thông báo Hán Nôm học 1997). Trong tham luận này, ngoài giới thiệu bản Kiều Nôm Kinh Bắc, tôi còn giới thiệu và so sánh với các bản Kiều Nôm Thịnh Mỹ Đường 1919, Liễu Văn Đường 1916, Kiều Oánh Mậu 1902, Chu Mạnh Trinh 1906... (in từ trang 31 – 39 sách Kỷ yếu nói trên). Thấy tôi thông thạo chữ Nôm, đã khảo cứu thành phiếu rồi lập Bảng so sánh đối chiếu 3254 câu Kiều in trong 20 quyển Truyện Kiều chữ Nôm, ông Tôn bèn rủ tôi làm chung công trình khảo cứu Truyện Kiều với lý do: “Anh ở Viện Hán Nôm, sẽ xin được tiền tài trợ để in và việc thẩm định và công bố sẽ dễ dàng hơn”. Tin ở lời “đường mật” ấy, tôi “góp vốn”, lúc đầu 20 bản Truyện Kiều chữ Nôm và các loại phiếu điều tra, bảng biểu đã làm, mãi đến 03/12/1998 ông Tôn mới có được bản Liễu Văn Đường 1871 góp vào. Thế là tôi lại cần mẫn đêm ngày khảo cứu và lập bảng biểu trên 21 bản Kiều Nôm. Mối quan hệ bình đẳng, cùng làm được phân công trách nhiệm như sau: Tôi thì đọc, lập phiếu, bảng của 3254 câu trong 21 bản Kiều Nôm ký hiếu từ: A, B, C, D... X, Y, Z và chọn những từ ngữ hợp lý nhất để hình thành văn bản Truyện Kiều; ông Tôn tổ chức đánh máy vi tính và lo liệu mọi thủ tục in ấn. Chính ông Tôn trong ngày gặp đầu tiên với tôi, đã tự xác nhận quan hệ bình đẳng ấy trong lời đề tặng viết ở đầu cuối sách “THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG TỪ CỘI NGUỒN VÀO THẾ TỤC” là: “Tặng bạn Nguyễn Khắc Bảo kỷ niệm buổi gặp nhau về Truyện Kiều của những ngày Kinh Bắc. Ngày 14.12.1997/ Đào Thái Tôn”


 


Song đến đầu năm 2001, khi tôi đã nộp toàn bộ bản photocopy các phần đã khảo cứu xong, thì ông Tôn liền trở mặt. Nhằm hôm tôi không có nhà, ông Tôn đến nhà tôi và lợi dụng lúc nhà tôi xuống bếp, ông Tôn đã lục bàn làm việc của tôi và lấy lại bản Kiều Liễu Văn Đường 1871 (trên báo Thể thao & Văn hóa ngày 30/1/2008, ông Tôn đã thú nhận là “Tôi phải qua nhà anh ta để tịch thu lại” cột 4 - dòng 3-4).


Khi đã nắm chắc được toàn bộ bản thảo, ông Tôn bèn nại lý do là: “Không in được được chú ạ, vì hiện nay không nơi nào in được chữ Nôm mà chú đã chép lại ở các bản Kiều cổ cả, thôi thì chú tập hợp lấy dăm bài báo đã đăng, đưa cho để anh in vào tập Văn bản Truyện Kiều, nghiên cứu và thảo luận”. Nhưng đến quý IV/2001 cuốn sách trên đã in ra, ông Tôn tặng tôi với dòng chữ “Thân tặng Nguyễn Khắc Bảo - Đào Thái Tôn - 11/2001” mà chẳng có bài nào của tôi. Khi tôi thắc mắc về việc “nói lời mà chẳng giữ được lời” thì ông Tôn lên giọng là: “Tôi giao việc cho chú như Giáo sư giao đề tài cho sinh viên, chú có quyền gì mà đòi hỏi”.


 


Tôi cảm thấy mình bị lừa đảo và xúc phạm, khi cần đến chất xám và tài liệu của tôi cung cấp, thì ông Tôn gọi tôi là “anh em, bè bạn”. Đến khi cướp được hết mọi tinh túy nghiên cứu mấy năm ròng rã của tôi, thì ông Tôn lại lật lọng, tráo trở. Chính tại Hội nghị Thông báo Hán Nôm học ngày 25/1/2008 ông Tôn đã thú nhận:


“Ba năm trời tôi chỉ bắt anh ấy (tức Nguyễn Khắc Bảo) thống kê cho tôi bản Quốc ngữ, khi mà anh ấy làm - nhà tôi còn mấy cân - anh ấy sang, anh ấy nộp cho tôi, tôi lại bảo “không, biểu bảng thống kê tao thay đổi”. Anh ấy (tức Nguyễn Khắc Bảo) bảo: Em rất lạ, tại sao anh thống kê lại cứ thay đổi biểu bảng”. (Trích băng ghi âm lời ông Tôn tại Hội nghị Thông báo Hán Nôm 25/1/2008).


 


Vậy nay tôi tha thiết đề nghị quý Ban lãnh đạo của hai Viện xem xét, nghiên cứu điều tra lời tố cáo của tôi để buộc ông Đào Thái Tôn, cán bộ của Viện Nghiên cứu Hán Nôm phải trả lại tôi:


1) 20 bản Kiều Nôm của tôi đã đưa cho ông Tôn từ năm 1998.


2) Toàn bộ các bảng biểu nghiên cứu của tôi nộp cho ông Tôn (mà ông đã thú nhận là “nhà tôi còn mấy cân”).


3) Đánh giá về tư cách của ông Tôn trong vụ lừa đảo chiếm đoạt thành quả nghiên cứu của tôi và ăn quỵt không chịu trả lại.


II. Ông Đào Thái Tôn đã ăn cóp cách phiên âm chữ Nôm trong các bảng biểu tôi nộp cho ông Tôn và trong 3 công trình Truyện Kiều của tôi đã công bố trong năm 2004, vi phạm bản quyền tác giả.


Đối với người nghiên cứu văn học Trung đại Việt Nam, ai cũng biết rằng tìm được văn bản chữ Nôm cổ đã khó, nhiều chữ xác định được tự hình rồi nhưng phiên ra được chữ Quốc ngữ và giải nghĩa thỏa đáng cũng khó khăn chẳng kém. Ví như trong bài thơ của Hồ Xuân Hương gửi Nguyễn Du “Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn hầu” ở câu thứ 7 có 3 chữ: lúc đầu thường được phiên âm là: Sương đeo mái, sương siêu mái, sương đem mái, sương treo mái... đến khi học giả Hoàng Xuân Hãn phiên âm là: “Sương siu mấy” và giảng “sương siu” là “bịn rịn” thì mọi người đều thấy thỏa đáng và ghi nhận công lao đóng góp của cụ Hoàng.


Tại Hội nghị Hán Nôm học năm 2003 (và trong các bảng biểu thống kê nộp cho ông Tôn) tôi đã trình bày cách đọc câu Kiều số 1154 là:


( Đon sòng) đến mực nồng nàn mới tha


trong khi toàn bộ các bản Kiều Quốc ngữ từ cổ chí kim đều chỉ đọc là: Gạn gùng, Đón rào. Cách phiên âm này đã được in trong Kỷ yếu của Hội nghị. Nhà Kiều học lão thành Thế Anh khi sử dụng lại cách phiên âm hai chữ “Đon Sòng” của tôi vào công trình phiên âm bản Liễu Văn Đường 1866 (Nxb. Đà Nẵng, 2005) đã có lời ghi chú rất trung thực: “Hai chữ đầu câu 8 này từ trước đến nay hầu như các bản Quốc ngữ đều đọc là: Gạn gùng, có một bản đọc: Đón rào. Đặc biệt trong Hội nghị Thông báo Hán Nôm học 2003, ông Nguyễn Khắc Bảo đã đề xuất cách đọc hai từ này là: Đon sòng (xem bài Phục nguyên từ cổ Đon sòng trong Truyện Kiều. Xin nêu lên để các bạn tham khảo).


Trong 2 công trình: “Truyện Kiều, bản cổ nhất khắc in năm 1866 - Liễu Văn Đường Tự Đức thập cửu niên; Nxb Nghệ An 10-2004” và “Truyện Kiều - Bản Nôm Thịnh Mỹ Đường Tự Đức Kỷ Mão 1879 – Nxb Văn hóa Dân tộc 12-2004” do tôi biên khảo, đều đã phiên âm câu 1154 này là:


Đon sòng đến mực nồng nàn mới tha.


Do vậy khi thấy ông Đào Thái Tôn cứ tự nhiên như... Tôn để cùng dùng lại 2 chữ Đon sòng này vào cuốn: “Nghiên cứu văn bản Truyện Kiều – bản Liễu Văn Đường 1871, Nxb Khoa học xã hội quý I-2006” nên tôi đã chất vấn ông Tôn. Xin trích một đoạn, tường thuật trên báo Thể thao & Văn hóa của Thông tấn xã Việt Nam ra ngày 30/1/2008.


“Tranh chấp bản quyền 21 “chữ vàng”: Từ nghi án “Đon sòng”. Trong Hội nghị Thông báo Hán Nôm học 2006 của Viện Hán Nôm, ông Nguyễn Khắc Bảo đã chất vấn ông Tôn về việc tự ý sử dụng cách phiên âm 2 từ cổ “Đon sòng” của mình (Mụ càng kể nhặt kể khoan – Đon sòng đến mực nồng nàn mới tha) Dựa trên 2 chữ Nôm của câu thơ số 1154 (bản Liễu Văn Đường 1871) cách đọc này là phát hiện riêng của ông Bảo, với những chú giải và cắt nghĩa riêng, trình bày trong tham luận Phục nguyên từ cổ Đon sòng trong Truyện Kiều (đã in Kỷ yếu Hội nghị Thông báo Hán Nôm học 2003). Ông Bảo chỉ rõ: Ông Tôn đã sử dụng 2 từ này để in trong cuốn Nghiên cứu văn bản Truyện Kiều, bản Liễu Văn Đường 1871 (tác giả Đào Thái Tôn, Nxb. KHXH quý I/2006). Vào thời điểm ấy (đầu năm 2007) ông Đào Thái Tôn đã hẹn SẼ VỀ TRA CỨU và TRẢ LỜI vào Hội nghị năm sau.


Tại Hội nghị Thông báo Hán Nôm học năm 2007 (ngày 25/1/2008) tại Hà Nội do Viện Hán Nôm chủ trì) câu chuyện được hâm nóng lại khi ông Bảo một lần nữa chất vấn ông Tôn câu hỏi này. Đồng thời ông “công bố” thêm 20 từ khác cũng ông Tôn “mượn” không xin phép. “Nói có sách”, ông Bảo lập tức đưa tới tay các đại biểu bản danh sách 21 chữ theo cách phiên âm của riêng ông, kèm theo đó là 4 câu thơ:


Chép mà chẳng có một lời,


Cướp công bạn hữu, thiệt đời long đong.


Ngẫm ra mới biết sự lòng,


 


Định toan trốn nợ “Đon sòng” được sao?


Theo lý giải của ông Bảo, 21 cách đọc trên là cách phiên âm riêng của ông và trước đó chưa có nhà nghiên cứu nào đọc như vậy. Tất cả 21 trường hợp này đã bị ông Tôn tự ý đưa vào công trình Nghiên cứu văn bản Truyện Kiều, bản Liễu Văn Đường 1871 - một công trình KHOA HỌC CẤP BỘ, được NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ KINH PHÍ. Ngoài ra, ông Bảo còn cho biết 21 trường hợp này chỉ là... ví dụ bước đầu. Ông đã phát hiện thêm vài chục các phiên âm của mình bị ông Tôn sử dụng trái phép cũng trong công trình trên. Tất cả sẽ được đưa ra khi cần thiết” (Thể thao & Văn hóa ngày 30/1/2008 trang 15).


Trong một lá thư, gửi báo Thể thao & Văn hóa ông Tôn có viết: “Xin cảm ơn Thể thao & Văn hóa đã đưa tin khách quan và trung thực về vấn đề này” (Thể thao & Văn hóa ngày 28/2/2008 trang 20). Thế là ông Tôn đã tự xác nhận những thông tin của bài tường thuật trích dẫn trên là “khách quan và trung thực”.


Như vậy là đã gần 1 năm trôi qua (từ 02/02/2007 đến 25/01/2008) khi bị chất vấn lần 2 tại Hội nghị Thông báo Hán Nôm học ngày 25/01/2008, ông Tôn cũng không trả lời được lý do vì sao sử dụng “21 chữ vàng” của tôi vào công trình khoa học cấp Bộ của mình, mà chỉ loanh quanh: “Nhưng mà tôi rất cảm ơn anh, hôm nay, lần trước cái chữ Đon sòng và hôm nay anh lại thống kê được 21 chữ và tôi rất mong anh thống kê cho tôi 50 chữ và tôi xin hứa với Hội nghị và tôi đề nghị Đoàn chủ tịch với một giọng viết văn của người “thầy” anh Bảo thì không bao giờ tôi làm cho Hội nghị phiền lòng”.


(Tôi xin gửi kèm theo đĩa ghi âm cả bài phát biểu của tôi và ông Tôn trong Hội nghị này).


 


Kính thưa Ban lãnh đạo của hai Viện.


Đã là ăn cắp thì dù chỉ là “cây kim, sợi chỉ” cũng là ăn cắp. Theo yêu cầu của ông Tôn “ Tôi rất mong anh thống kê cho tôi 50 chữ”, tôi xin trân trọng kính gửi đến Ban lãnh đạo và các nhà khoa học của hai Viện bản thống kê “Về việc Đào Thái Tôn phiên âm bản Kiều Liễu Văn Đường 1871) copy theo Nguyễn Khắc Bảo”, trong đó tôi đã tạm thống kê được 68 trường hợp cụ thể ông Tôn đã “mượn không xin phép” các cách phiên âm chữ Nôm Truyện Kiều mà tôi đã từng công bố trên Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống từ 1998-2005, Hội nghị chữ Nôm Quốc tế lần 1 tại Hà Nội 12 và 13/11/2004 và đặc biệt là trong 3 cuốn sách: Tìm đến nguyên tác Truyện Kiều; Nxb Văn hóa Dân tộc quý IV/2004; Truyện Kiều, Liễu Văn Đường 1866; Nxb Nghệ An 10/2004; Truyện Kiều, Thịnh Mỹ Đường 1879, Nxb Văn hóa Dân tộc 12/2004.


 


Ba cuốn sách này tôi đều đã gửi lưu chiểu, phát hành trong toàn quốc, gửi tặng Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm và gửi tặng tận tay ông Tôn. Vậy ông Tôn không thể chối là không biết các phát hiện của tôi. Bởi vậy chúng tôi tha thiết và trân trọng đề nghị Lãnh đạo và các nhà khoa học của Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Viện Nghiên cứu Hán Nôm dành thời gian khảo sát và có kết luận về việc “thủ giống thủ, xôi giống xôi” mà ông Tôn đã làm với công trình khoa học cấp Bộ, tiêu tốn tiền của của Nhà nước mà thực chất chỉ là copy những phát hiện đã trình làng của tôi.


III. Chứng cứ về việc “Giấu đầu hở đuôi - ăn vụng không biết chùi mép” của ông Tôn trong việc sử dụng các công trình đã in của tôi từ năm 2004 vào công trình khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu văn bản Truyện Kiều - Bản Liễu Văn Đường 1871” in năm 2006.


1) Về câu 1057:


Trong công trình Liễu Văn Đường 1866 của tôi in là:


Ngậm ngùi rủ bức rèm châu (in đúng)


Nhưng trong công trình Thịnh Mỹ Đường 1879 nhà in đã in nhầm là:


Ngậm ngùi rủ bước rèm châu


Thế mà trong công trình Liễu Văn Đường 1871, ông Tôn cũng chép y sì chữ in sai của tôi trong Thịnh Mỹ Đường 1879 là:


Ngậm ngùi rủ bước rèm châu


Việc chép theo chữ bước một cách “trung thành” này, khiến ta nhớ đến giai thoại về các sĩ tử ngày nay đi thi cũng chép “trung thành” theo các phao từ ngoài ném vào phòng thi cả những câu kỳ quái như: “chép xong nhớ xé ngay phao này”... vào bài thi.


 


2. Về câu 1593:


Non quê thuần ( vược) bén mùi


Chữ Nôm trên đọc đúng âm là: Quắc, nhưng không thông về văn nghĩa. Trong công trình Liễu Văn Đường 1866 tôi đã chú thích ở trang 317 là: “Các bản A (Liễu Văn Đường 1866, B (Liễu Văn Đường 1871. C (Thịnh Mỹ Dường 1879), D (Quan Văn Đường 1879) đều khắc sai thành Quắc. Phiên Thuần Vược theo Duy Minh Thị 1872”. Trong công trình Thịnh Mỹ Đường 1879 tôi đã chú thích ở cuối trang 185 là:


Câu 1593: Non quê thuần vược... (theo Duy Minh Thị 1872).


Ông Tôn trong Liễu Văn Đường 1871 cũng thản nhiên phiên âm chữ


là “vược” theo tôi, mà không hề gạch chân chữ “vược” để ghi chữ Nôm đúng là xuống dưới chân trang như quy ước của ông đã ghi ở trang 173 dòng 9.


 


3. Về câu 1722:


Ở bản Liễu Văn Đường 1871 ông Tôn phiên âm là:


Thiên quan ( chủng) tể có bài treo (�� trên).


Chữ bản Liễu Văn Đường 1871 khắc thừa một dấu chấm thành chữ “gia”. Ở bản Liễu Văn Đường 1866 khắc đúng là phải phiên âm là trủng. Ông Tôn phiên chữ ( gia) thành “chủng” vừa sai chữ, vừa mắc lỗi copy nhưng sai chính tả. Cụ Nguyễn Du sao lại viết là chủng để phạm húy vua Gia Long Nguyễn Phúc Chủng sao? Ông Tôn lại chẳng hiểu gì về vấn đề kỵ húy cả!


Ông Tôn lại không nhất quán trong việc phiên âm. Cùng một câu 1722 của Liễu Văn Đường 1871 tại trang 320 chép là:


Thiên quan chủng tể có bài treo trên (508).


Thế mà trong chú thích số (508) trang 537 lại chép:


Câu 1722: Thiên quan chủng tể có bài treo lên


4. Câu 1896: Ông Tôn phiên âm bản Liễu Văn Đường 1871 là:


Thân cung ( nàng) mới lên qua một (�� tờ).


Câu 2722: Đoạn trường thơ phải nghênh mà giả ( nhau).


Câu 2853: Dường như bên ( chái) bên thềm,


Câu 2952: Hai nhà cùng thuận một (�� ) đường phó quan.


Toàn bộ 5 chữ Nôm trên ông Tôn đều phiên sai, lý do là ông đã copy toàn bộ phần phiên âm sang Quốc ngữ của tôi trong công trình Thịnh Mỹ Đường 1879. Trong đó khắc chữ Nôm của câu 1896 là ( nàng), ( tờ) câu 2952 khắc chữ Nôm ( đường).


Còn câu 2722, tôi chú là theo bản Duy Minh Thị 1872, Thuận Thành 1879 khắc là ( nhau), câu 2853 tôi chú là theo bản Duy Minh Thị 1872 và KOM 1902 khắc là ( chái).


Sao đã có hàm PGS mà ông Tôn lại “bất cẩn” trong việc đi chép của người khác thế nhỉ? Ăn vụng cũng phải biết chùi mép chứ.


(Xin kèm theo Bảng thống kê: Bằng chứng về việc Đào Thái Tôn phiên âm bản Liễu Văn Đường 1871 “photocopy” theo Nguyễn Khắc Bảo).


IV. Thực lực về vốn liếng chữ Hán - Nôm ông Tôn


PGS-TS Đào Thái Tôn khi viết báo thường hay chê bai, dè bỉu người khác là “đọc qua tôi đã thấy cờn cợn bởi những lỗi ngữ pháp tiếng Việt, những câu cụt câu què, những dấu chấm phảy, viết hoa và không viết hoa vô tội vạ...” (Bài Quanh tấm bia chùa Đọi – Đào Thái Tôn in trên Tạp chí Sông Hương mục Nghiên cứu và Bình luận trang 59).


Nhưng ông Tôn hình như quên “sờ tay lên gáy”, nay chúng tôi xin dẫn vài ví dụ để Ban lãnh đạo hai Viện cùng xem lại vốn liếng học vấn của vị PGS-TS Đào Thái Tôn.


1. Chữ Hán: Tạp chí Hồn Việt số 5 tháng 11/2007 đăng bài “Chữ Hủy không phải là 30, và...” của Trương Ngọc Tỉnh. Tác giả bài báo đã viết: “Hủy là 30 (ông Đào Thái Tôn trong bài Tìm lại Huế đẹp và thơ đã hiểu Hủy là 30). Chắc ông Tôn thấy chữ Hủy của ông Nam Trân viết ba chữ thập nên tam thập là 30 và ông khẳng định như đinh đóng cột: hủy là 30” (trang 26).


“Ông Đào Thái Tôn giỏi chữ Hán hay không chúng tôi không cần phải nói, chỉ chuyện ông khẳng quyết chữ Hủy là 30 cũng đủ cho thấy trình độ chữ Hán của ông tới cỡ nào”(trang 28).


“Trong khi các Từ điển điều giảng: hủy: tên gọi tóm của các thứ cỏ (Hán Việt từ điển, Thiều Chửu, trang 63, Nxb. VHTT, 2001).


2. Chữ Nôm: Cũng có khi ông Tôn “thành thật” khi viết trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 3 - 2005 bài “Những nghi vấn xung quanh một bản Kiều” câu giãi bầy vốn chữ Nôm của mình: “4 chữ trong các câu 166, 1667, 2119 và bài Tựa” thuộc loại “không hiểu người chép Truyện Kiều năm 1870 (tức Hoàng giáp Nguyễn Hữu Lập” định “bắt” chúng ta hải đọc là gì đây?”


Biết được thắc mắc của vị PGS-TS Tôn, tôi đã viết bài “Góp thêm việc phiên âm mấy chữ Hán - Nôm tồn ghi trong bản Truyện Kiều do Hoàng giáp Nguyễn Hữu Lập chép năm 1870” đọc trong Hội nghị Thông báo Hán - Nôm học năm 2005 và được đăng trong kỷ yếu của Hội nghị. Trong đó đã đọc 4 chữ Nôm đó như sau:


Câu 166: Rốn ngồi chẳng tiện ( nép) về chỉn khôn.


Câu 1667: Đi hài nhặt ( tháu) về nhà.


Câu 2119: Nghĩ mình túng đất ( choại) chân.


và chữ là thao trong cụm từ “thao thao bất tuyệt” ở bài Tựa. Người xưa có câu “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Nay tôi đọc hướng dẫn cho ông Tôn đọc, chép “tứ tự” và hàng trăm chữ trong Truyện Kiều thì ông Tôn nghĩ sao đây?


Trong hai công trình “Thơ Hồ Xuân Hương từ cội nguồn vào thế tục”(ở trang 111) và “Hồ Xuân Hương, Tiểu sử văn bản, tiến trình huyền thoại dân gian hóa”(ở trang 235), ông Tôn đã đọc câu thứ 3 trong bài “Ngụ ý Tốn Phong, ký nhị thủ” là:


Sương ( gieo) áo lục nhồi hơi xạ.


 


Trong khi cũng đã biết Bảng tra chữ Nôm (Nxb KHXH, 4/1976 chữ số 4029): cho các cách đọc là: chùy, dồi.


Và trong Truyện Kiều câu 1250 đã được phiên âm là:


Ngẩn ngơ trăm nỗi ( dồi) mài một thân


Vậy ông Tôn cứ đọc là gieo thì vốn chữ Nôm đáng là bao?


Cũng trên báo Hồn Việt số 6 tháng 12/2007 tác giả Nguyễn Hữu Thành từ tận Bắc Mỹ xa xôi cũng viết bài: “Nhân đọc quyển “Thơ Hồ Xuân Hương” của Đào Thái Tôn”. Trong đó sơ bộ đã chỉ ra 14 trường hợp ông Tôn phiên âm sai cả Hán lẫn Nôm. Dư luận trong và ngoài nước đã góp ý nhiều đến thế mà ông Tôn cứ “mũi ni che tai” thì thật lạ! Chính vì vậy mà ông Tôn không dám cho mọi người biết đến bản chụp của cuốn Lưu Hương ký mà ông ta đang khư khư ôm chặt. Chắc vì sợ nhiều người đọc được sẽ phát hiện ra cách phiên âm sai cuốn Lưu Hương ký (một văn bản quý của Di sản văn hóa dân tộc) mà ông độc chiếm một cách vô lối trong 40 năm qua.


Nhìn một cách tổng quát về năng lực Hán Nôm của PGS-TS họ Đào, chỉ cần để ý đến một tiêu chí tiêu biểu nhất là chất lượng của các bài viết tham dự Hội nghị Thông báo Hán Nôm hàng năm. Dù là bậc “cao tuổi lão làng” của Viện Hán Nôm, trong 3 năm 2002, 2004, 2005 các bài tham luận của Đào Thái Tôn vì chất lượng chưa đạt yêu cầu hoặc đề tài nhạt nhẽo nên đã không được in vào trong Kỷ yếu của Hội nghị Thông báo Hán Nôm học là quá đủ. Năm 2006, ông Tôn lại dùng bài “Một tài liệu giá trị trong việc nghiên cứu Nguyễn Du: Bài thơ của Nguyễn Hành” đã đăng trên tuần báo Văn nghệ số 50 ngày 16/12/2006, xào xáo lại lấy tên: “Về bài thơ của Nguyễn Hành (Văn bản và câu chữ)” gửi dự Hội nghị Thông báo Hán Nôm năm 2006. Một vi phạm hiển nhiên về tiêu chí các tham luận dự Hội nghị Thông báo là phải “chưa được công bố trên các ấn phẩm khác”.


Ngoài ra, sự hiểu biết về chữ Quốc ngữ của ông Tôn chỉ cần nêu một ví dụ ở trong công trình khoa học cấp Bộ của ông ta “Nghiên cứu văn bản Truyện Kiều, bản Liễu Văn Đường 1871” lại chép 4 câu thơ mà cách viết không nhất quán như sau:


Câu 1053: Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh,


Câu 1951: Quản chi trên gác dưới duyềnh,


Câu 2703: Kiều từ gieo xuống duềnh ngân,


Câu 3203: Trong sao châu nhỏ duyềnh quyên,


Ở chú thích 625 ông Tôn viết: Câu 1951: “Quản chi trên gác dưới duyềnh”. Bản 1884: “Lên gác xuống duềnh”.


Có 6 chữ thì ông Tôn chép 3 chữ là duềnh; 3 chữ là duyềnh. Vậy chữ nào là đúng đây?


 


Kính thưa Ban lãnh đạo Viện KHXH Việt Nam và Viện Nghiên cứu Hán Nôm.


Sở dĩ chúng tôi phải viết hơi kỹ lưỡng, tỷ mỉ vì chúng tôi biết Ban lãnh đạo rất bận nên khó có điều kiện theo dõi nắm các tiểu tiết đầu đuôi sự việc, vậy chúng tôi xin trình chi tiết các bằng chứng để Ban lãnh đạo kiểm chứng. Với một người như Đào Thái Tôn đã từng có nhiều Đơn từ kiến nghị về ông Trần Nghĩa, ông Phạm Văn Thắm, ném ấm chén vào ông Ngô Đức Thọ, đấm bốc với nhà văn Bùi Bình Thi, thưa kiện ông Mai Quốc Liên, hầu toà với cụ Nguyễn Quảng Tuân, nếu tôi khiếu nại việc ông “đạo chữ” của tôi mà không dẫn lý lẽ đầy đủ, chính xác, cặn kẽ thì tôi chắc không tránh được hậu hoạ của việc trả đũa khó lường trước.


Ông Tôn đã từng viết trên báo Văn nghệ ngày 15/12/2006 và chép y sì lại nguyên văn trên tham luận Hội nghị Thông báo Hán Nôm năm 2006 (trang 744) đoạn văn rất kêu là:


“Nghề viết rất cần và bắt buộc phải nhắc đến tên tuổi, phát hiện của các học giả bậc thầy và đồng nghiệp. Đó không phải chỉ là vấn đề đạo đức, mà là nguyên tắc khoa học để người viết tự kiểm tra xem mình đã đóng góp được gì, người đọc biết người sau có đóng góp gì so với người đi trước. Những người trung thực vẫn thực hiện nguyên tắc này như một thói quen. Tiếc rằng một số người viết nghiệp dư (và không chỉ nghiệp dư) đã lảng tránh nguyên tắc sơ đẳng này, tưởng như thế, có thể tự nắm tóc mà nhấc được mình lên khỏi mặt đất”. Ông Tôn còn tỏ ra cao đạo khi trích dẫn câu thơ của Alfred de Musset (1810-1857) để tỏ “cái vỏ quan điểm” của mình: “Tôi ghét cái nghề đánh cắp văn chương như là ghét cái chết. Cái cốc của tôi bé, nhưng tôi chỉ uống trong cái cốc của tôi” (Tạp chí Sông Hương – bài Quanh tấm bia chùa Đọi – trang 68).


Xã hội đang rất bất bình về việc các ông chủ cây xăng và các chú tài xế xe tắc-xi đã mua chuộc những trí thức biến chất để chế tạo cho họ những mạch vi điện tử để trấn lột tiền của người mua xăng và khách đi ta-xi. Nay ông Đào Thái Tôn được Nhà nước nuôi cho ăn học để có được tấm bằng PGS-TS nhưng lại không sử dụng vốn liếng đã được trang bị ấy mà nắm cho “sạch nước cản” các loại văn tự Hán - Nôm - Quốc ngữ. Trong nhiều năm ăn lương Nhà nước để nghiên cứu Truyện Kiều, ông lại sống ký sinh bằng việc khai thác các tài liệu nghiên cứu của tôi và copy các thành quả phiên âm chữ Nôm của tôi đã công bố trong hai bản Kiều Liễu Văn Đường 1866 và Thịnh Mỹ Đường 1879. Thế mà lại còn dám nhận tiền tài trợ của Viện KHXH Việt Nam, thì thật là đã nghẽn dây thần kinh xấu hổ.


Dân ta vẫn có câu “Nói thì dễ, làm thì khó”, “Lời nói đọi máu”.


 


Vì vậy chúng tôi mạnh dạn viết Đơn khiếu nại và tố cáo này, kính đề nghị ông Viện trưởng Viện KHXH Việt Nam và ông Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm cùng các ông trong Ban lãnh đạo của hai Viện dành tâm trí, thời gian để công tâm cứu xét Đơn của tôi. Chúng tôi là những người trân trọng Di sản văn hóa dân tộc, ngưỡng mộ thiên tài Đại thi hào Nguyễn Du, không quản công sức sưu tầm các bản Kiều Nôm trong toàn quốc, bỏ ra nhiều năm trời nghiên cứu nhằm để phục nguyên văn bản Truyện Kiều hoàn toàn bằng kinh phí tự túc của mình, không một đồng lương hoặc phụ cấp, mà nay công sức bỏ ra ấy lại bị ông Tôn là người được Nhà nước nuôi bằng lương PGS.TS, nhận được tiền tài trợ của Viện KHXH chỉ để làm mỗi việc là “coppy” những thành quả nghiên cứu của tôi thì thật là bất công và chẳng còn đạo lý gì nữa. Chúng tôi mong mỏi lãnh đạo của Viện Khoa học Xã hội, Viện Nghiên cứu Hán Nôm làm rõ trắng đen vụ việc này, đừng để “con sâu làm rầu nồi canh”, vạch rõ bộ mặt của Lý Thông trong vụ “vừa ăn cắp vừa la làng” này, để lại sự công bằng và minh bạch cho tôi. Đồng thời cũng là biện pháp góp phần bảo vệ tác quyền, ngăn chặn tệ nạn “đạo văn”, “đạo chữ”, “đạo nhạc”, “ngăn chặn tệ nạn “đạo văn”, “đạo chữ”, “đạo nhạc”, “đạo tranh”... đang có nguy cơ hoành hành như nấm độc trong giới trí thức Việt Nam.


Tôi xin cam đoan, những điều tố cáo trên là hoàn toàn đúng sự thực, và xin chịu trách nhiệm về những điều mình đã trình ở trên.


Xin chân thành cảm ơn!


Rất mong chờ nhận được sự xem xét tích cực, công bằng của quý Viện.


Bắc Ninh, ngày 07 tháng 9 năm 2008


NGUYỄN KHẮC BẢO


ĐT.0241.826.549


Nguồn: www.viet-studies.info/NguynKhacBao_v_DaoThaiTon.pdf


 


****


Nguyễn Xuân Diện: Sáng 21 tháng 10 năm 2010, tại Hà Nội, Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm Hoa Kỳ (VNPF) vừa trao tặng giải thưởng Balaban 2010. Đây là giải thưởng được VNPF trao tặng hằng năm cho cá nhân hay tập thể có đóng góp quan trọng vào việc bảo tồn di sản chữ Nôm và các tư liệu Nôm cổ dành cho người trong và ngoài Hội. Năm 2009, có hai người được trao giải này là: GS. TS Nguyễn Quang Hồng (nguyên cán bộ Viện Hán Nôm) và Ông Phạm Thế Khang (nguyên GĐ Thư viện Quốc gia VN).


Giáo sư Nguyễn Quang Hồng đã có những đóng góp quan trọng như làm chủ biên cuốn Tự điển chữ Nôm, là tác giả cuốn Khái luận văn tự học chữ Nôm cùng những nỗ lực của ông trong suốt 12 năm (1994-2006) để đưa gần 10.000 chữ Nôm vào chuẩn quốc tế Unicode và ISO 10646. Ông Phạm Thế Khang được vinh danh nhờ tầm nhìn xa trong việc tạo ra Thư viện số thức đầu tiên đối với tuyển tập 4.000 văn bản cổ Hán Nôm của VN tại Thư viện Quốc gia. Thư viện này đã góp phần đưa di sản chữ Nôm đến với toàn thế giới.


Đáng tiếc, và là điều sỉ nhục cho văn hóa và học thuật nước nhà, năm nay, Giải thưởng Balaban được trao cho Ông Đào Thái Tôn (nguyên cán bộ Viện Hán Nôm). Điều này cho thấy những người trong BTC Giải thưởng không hiểu biết gì về tình hình học thuật Việt Nam nên đã tự hạ thấp danh giá của giải thưởng mang tên thi sĩ Balaban - Chủ tịch Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm và cũng là người dịch thơ Hồ Xuân Hương sang Anh ngữ, xuất bản tại Mỹ.


Ông Đào Thái Tôn là PGS. TS, từng là cán bộ Viện Văn học, Viện Hán Nôm, nay đã nghỉ hưu. Năm 2009, Nguyễn Xuân Diện đã phải mở Hồ Sơ Lưu Hương Ký gồm 72 kỳ tại địa chỉ này, để buộc Ông Đào Thái Tôn phải trả cuốn Lưu Hương ký của Thư viện Viện Văn học mà ông mượn từ từ năm 1970 và khăng khăng không trả. Bốn mươi năm Lưu Hương ký lưu lạc với biết bao tình tiết ly kỳ làm hao tâm tổn trí và tiền bạc của các học giả: Hoàng Xuân Hãn, Tạ Trọng Hiệp, Thụy Khuê, Kiều Thu Hoạch, Đỗ Lai Thúy, Trần Đình Sử...


http://nguyenxuandien.blogspot.com/2010/10/nhan-su-kien-ong-ao-thai-ton-nhan-giai.html


 


CHÚC MỪNG ĐÀO THÁI TÔN NHẬN GIẢI THƯỞNG JOHN BALABAN


Nhà nghiên cứu Đào Thái Tôn vừa được vinh dự nhận Giải thưởng thường niên John Balaban 2010 của Hội bảo tồn di sản chữ Nôm, lễ trao tặng đã tiến hành  buổi sáng ngày 21/10/2010; cũng tại đây, giảng viên Nguyễn Tuấn Cường (ĐH KHXH-NV Hà Nội) được nhận Học bổng cho học giả trẻ yêu chữ Nôm.


Xin chúc mừng người bạn già họ Đào và bạn trẻ họ Nguyễn.


Điều tôi ngạc nhiên là tuy buổi lễ trao tặng này được tiến hành ở ngay giữa trung tâm Hà Nội, cụ thể là ở Câu lạc bộ báo chí, Press Club, 59A Lý Thái Tổ – 12 Lý Đạo Thành, ngay cạnh Nhà hát Lớn và phố Tràng Tiền, nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng bất kỳ nhà báo nào đến đưa tin. Phải chăng các nhà báo đi hết vào vùng lũ miền Trung hay dồn cả về nơi họp Quốc hội? Ban tổ chức chọn một phòng họp nhỏ, nhưng vẫn trống vắng; tất cả chỉ vài chục người. Ngoài bộ phận thuộc ban tổ chức, chỉ có mấy người là thân nhân học giả trẻ họ Nguyễn và mấy người bạn của học giả già họ Đào. 2/3 số ghế trong phòng họp vẫn trống vắng cho đến cuối buổi họp.


Tất nhiên buổi trao giải vẫn trọng thể dù quá ít công chúng; những người tham dự vẫn kịp được nghe lại câu chuyện đến với chữ Nôm của người đặt ra giải thưởng này, John Balaban, dịch giả thơ Hồ Xuân Hương ra tiếng Anh, đã phát hành hàng chục ngàn bản ở Mỹ; cũng được nghe tâm sự làm việc với chữ Nôm của Đào Thái Tôn khi ông nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương và văn bản ‘Truyện Kiều’, tâm sự của Nguyễn Tuấn Cường, một bạn trẻ đã chọn một chuyên ngành rất ít hấp dẫn với tuổi trẻ, lại là ngành đòi hỏi phải trở nên uyên bác thật sự để có thể xử lý những vấn đề ngôn ngữ và văn chương vẫn còn đang bị ‘treo’ lại đó.


Điều đáng suy nghĩ, nhân sự kiện này, là sự thờ ơ của giới nhà báo, nhất là các nhà báo hoạt động ở khu vực đời sống văn hóa. Phải chăng đây là dấu hiệu cho thấy cả di sản văn hóa quá khứ lẫn những hoạt động xung quanh di sản ấy (đây là nói những gì gắn với chữ Nôm) là không có gì đáng chú ý trong mắt quý bạn, không đáng để quý bạn đưa tin tới công chúng hay sao?!


22/10/2010


 


Lại Nguyên Ân


nguyentrongtao.org

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Huyền thoại tắm tiên Tây Bắc - Trần Vân Hạc 22.03.2017
Thi hoa hậu trong động Thiên Đường? - Nhiều tác giả 22.03.2017
Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ sau gần 50 năm ẩn dật - Lam Điền 20.03.2017
Người già chật vật kiếm sống và thách thức với kinh tế Việt Nam - Tư liệu 19.03.2017
Cần chính sách đãi ngộ xứng đáng - Nguyễn Mộng Giao 19.03.2017
Ghét người giầu, tiêu diệt người giầu như Pol Pot hay là khuyến khích họ, không làm hư hỏng họ?! - Nhiều tác giả 19.03.2017
Thu phí vỉa hè, Việt Nam có nên học người Pháp? - Tư liệu 16.03.2017
Cố nhà văn Hoài Anh đi xa đã 6 năm! - Nhiều tác giả 15.03.2017
Nhà văn Hoài Anh: Khi viết, tôi luôn tôn trọng lịch sử - Trần Hoàng Nhân 15.03.2017
​Gần 500 cựu chiến binh Trường Sa tưởng nhớ sự kiện Gạc Ma - Tư liệu 15.03.2017
xem thêm »